Tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động là căn cứ quan trọng để xác định mức suy giảm khả năng lao động và xem xét quyền hưởng các chế độ đối với người lao động. Trên thực tế, việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể không chỉ dựa vào tình trạng thương tích mà phải tuân thủ phương pháp giám định và bảng tỷ lệ do pháp luật quy định. Người lao động cũng cần phân biệt rõ tỷ lệ tổn thương cơ thể với mức tiền trợ cấp thực tế được nhận, bởi số tiền hưởng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Việc chuẩn bị đúng hồ sơ, áp dụng đúng quy định về giám định và xác định chính xác tỷ lệ suy giảm khả năng lao động giúp hạn chế tranh chấp, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người lao động và trách nhiệm của doanh nghiệp.
Cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do tai nạn lao động
Tỷ lệ tổn thương cơ thể, trong thực tế thường được gọi là tỷ lệ thương tật, là một trong những căn cứ quan trọng để Hội đồng giám định y khoa xác định mức suy giảm khả năng lao động của người bị tai nạn lao động. Kết quả này có ý nghĩa trực tiếp khi giải quyết chế độ tai nạn lao động, bởi mức suy giảm được xác định sẽ là cơ sở để xem xét người lao động thuộc trường hợp hưởng trợ cấp một lần hay trợ cấp hằng tháng.
Tuy nhiên, tỷ lệ tổn thương cơ thể không phải là con số được xác định theo đánh giá riêng của bác sĩ điều trị hoặc do người lao động tự tính toán dựa trên hồ sơ bệnh án. Việc xác định phải được thực hiện theo nguyên tắc, phương pháp và bảng tỷ lệ được quy định tại Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH. Từ ngày 01/7/2025, hồ sơ và trình tự khám giám định được thực hiện theo Thông tư 25/2025/TT-BYT, thay thế Thông tư 56/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2022/TT-BYT.
Người lao động cũng cần lưu ý rằng điều kiện về tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để được hưởng chế độ tai nạn lao động từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là từ 5% trở lên nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác theo luật. Đồng thời, mức trợ cấp thực tế không chỉ căn cứ vào tỷ lệ tổn thương mà còn liên quan đến thời gian người lao động đã tham gia đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tiền lương làm căn cứ theo từng chế độ.
Người lao động có thể được hưởng chế độ khi suy giảm khả năng lao động từ 5%.
Nguyên tắc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể
Theo Điều 2 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Đây là cơ sở để Hội đồng giám định y khoa xem xét từng thương tích và tổng hợp tỷ lệ trong trường hợp người lao động có nhiều tổn thương.
Trước hết, mỗi tổn thương cơ thể chỉ được xác định tỷ lệ một lần và không được tính trùng. Quy định này nhằm tránh việc một tổn thương được đưa vào nhiều mục khác nhau của bảng tỷ lệ rồi cộng dồn làm tăng không đúng tỷ lệ tổn thương thực tế.
Nếu người lao động chỉ có một tổn thương thì tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể được xác định theo giới hạn cao nhất của tỷ lệ phần trăm tương ứng với tổn thương đó trong bảng tỷ lệ. Khi có từ hai tổn thương trở lên, tỷ lệ của từng tổn thương không được cộng trực tiếp theo phép cộng thông thường mà phải được tổng hợp theo phương pháp được quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH.
Bên cạnh đó, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của một người không được vượt quá 100%. Tỷ lệ sau khi tổng hợp được thể hiện dưới dạng số nguyên; trường hợp phần thập phân từ 0,5 trở lên thì được làm tròn thành 01 đơn vị.
Cách tổng hợp tỷ lệ khi người lao động có nhiều tổn thương
Một trong những điểm dễ gây nhầm lẫn khi xác định tỷ lệ thương tật là trường hợp người lao động đồng thời bị nhiều thương tích. Trong trường hợp này, pháp luật không cho phép cộng đơn giản tỷ lệ của từng tổn thương để cho ra kết quả cuối cùng.
Theo Điều 3 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, tỷ lệ tổn thương được tổng hợp theo phương pháp lấy tỷ lệ của tổn thương cao nhất trước, sau đó tiếp tục xác định tỷ lệ của các tổn thương còn lại trên phần khả năng cơ thể chưa bị tổn thương.
Ví dụ, nếu người lao động có một tổn thương được xác định ở mức 30% và một tổn thương khác có tỷ lệ 20%, không thể lấy 30% cộng với 20% để kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 50%. Tỷ lệ của tổn thương tiếp theo phải được tính trên phần cơ thể còn lại theo đúng phương pháp tổng hợp mà Điều 3 quy định.
Cách tính này có ý nghĩa quan trọng vì kết quả cuối cùng có thể khác đáng kể so với việc cộng số học các tỷ lệ. Do đó, người lao động không nên tự lấy các tỷ lệ thương tích được thể hiện rời rạc trong hồ sơ bệnh án để dự đoán chính xác kết quả giám định. Kết luận chính thức phải được thực hiện bởi Hội đồng giám định y khoa theo đúng bảng tỷ lệ và phương pháp pháp luật quy định.
Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể được sử dụng khi giám định
Việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể phải căn cứ vào bảng tỷ lệ được ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH và được sửa đổi tại khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch 21/2014/TTLT-BYT-BLĐTBXH.
Các bảng tỷ lệ được xây dựng để áp dụng đối với nhiều dạng tổn thương, bệnh, tật và bệnh nghề nghiệp. Vì vậy, khi giám định tai nạn lao động, việc lựa chọn đúng mục tương ứng với thương tích thực tế có vai trò rất quan trọng.
Đối với trường hợp tai nạn lao động gây thương tích, Hội đồng giám định y khoa cần xác định chính xác loại tổn thương, vị trí bị tổn thương, mức độ tổn thương và đối chiếu với mục tương ứng trong bảng tỷ lệ số 1. Nếu xác định không đúng loại hoặc mức độ tổn thương, tỷ lệ được áp dụng có thể thay đổi và từ đó ảnh hưởng đến mức suy giảm khả năng lao động cũng như quyền hưởng chế độ của người lao động.
Trách nhiệm của doanh nghiệp khi người lao động bị tai nạn lao động
Kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể không phải là căn cứ duy nhất để xác định quyền lợi của người lao động. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp còn phải thực hiện các nghĩa vụ trực tiếp theo Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.
Các trách nhiệm này cần được phân biệt với chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động có thể phát sinh ngay từ thời điểm xảy ra tai nạn và không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào việc người lao động đã có kết luận giám định cuối cùng hay chưa.
Thanh toán chi phí y tế và tiền lương trong thời gian điều trị
Theo khoản 1 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm kịp thời tổ chức sơ cứu, cấp cứu cho người lao động khi xảy ra tai nạn lao động và tạm ứng chi phí điều trị cho người bị tai nạn.
Khoản 2 Điều 38 Luật này tiếp tục quy định những khoản chi phí mà người sử dụng lao động phải thực hiện tùy thuộc vào tình trạng tham gia bảo hiểm y tế của người lao động và kết quả giám định.
Theo đó, doanh nghiệp phải thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những khoản chi phí không thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế đối với người lao động có tham gia bảo hiểm y tế. Trong trường hợp người lao động được người sử dụng lao động giới thiệu đi giám định nhưng kết quả suy giảm khả năng lao động dưới 5%, doanh nghiệp vẫn phải thanh toán phí khám giám định. Nếu người lao động không tham gia bảo hiểm y tế, người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế liên quan theo quy định.
Ngoài các khoản chi phí y tế, khoản 3 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 còn yêu cầu người sử dụng lao động trả đầy đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian nghỉ việc để điều trị và phục hồi chức năng lao động.
Bồi thường khi tai nạn không hoàn toàn do lỗi của người lao động
Nếu tai nạn lao động xảy ra không hoàn toàn do lỗi của chính người lao động, khoản 4 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người sử dụng lao động phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo mức tối thiểu tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.
Cụ thể, nếu người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10%, mức bồi thường tối thiểu là 1,5 tháng tiền lương.
Đối với trường hợp suy giảm từ 11% đến 80%, cứ tăng thêm 1% suy giảm khả năng lao động thì mức bồi thường được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương.
Nếu người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc bị chết do tai nạn lao động thì mức bồi thường tối thiểu là 30 tháng tiền lương.
Đối với tai nạn xảy ra ngoài nơi làm việc nhưng người lao động đang thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành của người sử dụng lao động, trường hợp tai nạn do lỗi của người khác hoặc không xác định được người gây tai nạn thì khoản 1 Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 vẫn đặt ra trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động theo khoản 4 Điều 38.
Trợ cấp trong trường hợp tai nạn do lỗi của người lao động
Trường hợp tai nạn lao động xảy ra do lỗi của chính người lao động không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoàn toàn không có nghĩa vụ.
Theo khoản 5 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động vẫn phải thực hiện trợ cấp cho người lao động với mức tối thiểu bằng 40% mức bồi thường được xác định theo khoản 4 Điều 38, tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định những trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động. Các trường hợp này bao gồm tai nạn xảy ra do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây tai nạn nhưng không liên quan đến công việc; người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe; hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái quy định pháp luật.
Hồ sơ giám định và mức suy giảm khả năng lao động là căn cứ giải quyết chế độ.
Hồ sơ và trình tự giám định tỷ lệ thương tật
Để kết quả giám định được sử dụng làm căn cứ giải quyết chế độ, người lao động cần thực hiện đúng hồ sơ và trình tự do pháp luật quy định.
Từ ngày 01/7/2025, hồ sơ và trình tự khám giám định tai nạn lao động được thực hiện theo Thông tư 25/2025/TT-BYT. Việc sử dụng đúng mẫu giấy tờ, đúng chủ thể lập hồ sơ và đúng trình tự có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế tình trạng hồ sơ bị yêu cầu bổ sung hoặc kéo dài thời gian giải quyết.
Hồ sơ giám định lần đầu
Theo khoản 1 Điều 16 Thông tư 25/2025/TT-BYT, hồ sơ khám giám định lần đầu do tai nạn lao động gồm các giấy tờ cơ bản sau:
Giấy giới thiệu giám định y khoa theo Mẫu số 12 Phụ lục II nếu người lao động vẫn thuộc quyền quản lý của người sử dụng lao động;
Giấy đề nghị giám định y khoa theo Mẫu số 13 Phụ lục II nếu người lao động không còn thuộc quyền quản lý hoặc thuộc trường hợp được pháp luật quy định;
Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ gồm giấy ra viện, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tích;
Bản sao hợp lệ Biên bản điều tra tai nạn lao động trong trường hợp cá nhân tự đề nghị khám giám định;
Các giấy tờ chẩn đoán, điều trị khác nếu có.
Việc chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ này giúp cơ quan, Hội đồng có cơ sở xác định thương tích liên quan đến tai nạn lao động và tiến hành việc giám định theo quy định.
Chủ thể có trách nhiệm lập hồ sơ giám định
Điều 21 Thông tư 25/2025/TT-BYT phân định trách nhiệm lập hồ sơ tùy thuộc từng trường hợp cụ thể.
Theo khoản 1 Điều 21, người lao động tự lập và gửi hồ sơ trong một số trường hợp như giám định tái phát, không còn thuộc quyền quản lý của người sử dụng lao động và các trường hợp khác được điều luật quy định.
Trong khi đó, khoản 3 Điều 21 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm lập, hoàn chỉnh và gửi hồ sơ đối với những trường hợp không thuộc các khoản 1, 2, 4 và 5 của Điều này.
Trình tự khám giám định
Theo khoản 1 Điều 22 Thông tư 25/2025/TT-BYT, việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ và thực hiện trình tự khám giám định được tiến hành theo Thông tư 01/2023/TT-BYT về hoạt động của Hội đồng giám định y khoa các cấp.
Đối với tai nạn lao động, khoản 2 Điều 22 Thông tư 25/2025/TT-BYT xác định nội dung khám giám định tùy thuộc từng trường hợp.
Giám định lần đầu căn cứ vào những tổn thương liên quan đến tai nạn được ghi nhận trong giấy ra viện, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tích. Đối với giám định tái phát, Hội đồng xem xét những tổn thương đã được ghi nhận và những tổn thương nặng hơn được thể hiện trong hồ sơ điều trị. Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động nhiều lần thì thực hiện giám định tổng hợp theo quy định.
Khi nào được giám định lại hoặc giám định phúc quyết?
Pháp luật hiện hành phân biệt nhiều hình thức giám định khác nhau, trong đó có giám định lại do thương tật tái phát, giám định tổng hợp và giám định phúc quyết. Mỗi thủ tục có điều kiện áp dụng và hồ sơ tương ứng, do đó người lao động cần xác định đúng trường hợp trước khi thực hiện.
Giám định lại do thương tật tái phát
Theo Điều 17 Thông tư 25/2025/TT-BYT, người lao động có thể được giám định lại khi thương tật do tai nạn lao động tái phát, đã được điều trị và có tài liệu y tế chứng minh tổn thương nặng hơn so với lần giám định gần nhất.
Hồ sơ giám định lại bao gồm giấy giới thiệu hoặc giấy đề nghị giám định; bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện thể hiện tình trạng tổn thương nặng hơn; cùng bản sao hợp lệ Biên bản giám định y khoa của lần gần nhất.
Thời gian giữa các lần giám định
Khoản 3 Điều 47 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người lao động thuộc trường hợp thương tật hoặc bệnh tật tái phát tại điểm b khoản 1 Điều 47 được giám định lại sau 24 tháng kể từ ngày Hội đồng giám định y khoa đưa ra kết luận về tỷ lệ suy giảm khả năng lao động ở lần liền kề trước.
Pháp luật đồng thời có ngoại lệ đối với trường hợp bệnh nghề nghiệp có tính chất khiến sức khỏe người lao động suy giảm nhanh. Khi thuộc trường hợp này, việc giám định có thể được thực hiện sớm hơn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 47 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định nếu thương tật hoặc bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định thì người lao động có thể thực hiện thủ tục giám định trước hoặc ngay trong quá trình điều trị. Đây là trường hợp cần phân biệt với thời hạn giám định lại do thương tật tái phát.
Không đồng ý với kết quả giám định thì thực hiện phúc quyết
Trong trường hợp có căn cứ thực hiện giám định phúc quyết, Điều 19 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định hồ sơ phúc quyết đối với hai nhóm trường hợp gồm trường hợp vượt khả năng chuyên môn và trường hợp theo đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Nếu tiếp tục đề nghị giám định phúc quyết lần cuối thì hồ sơ được thực hiện theo Điều 20 Thông tư 25/2025/TT-BYT. Hồ sơ có thể bao gồm văn bản hoặc giấy đề nghị phúc quyết lần cuối, Biên bản giám định phúc quyết và quyết định thành lập Hội đồng giám định y khoa phúc quyết lần cuối của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Người lao động cần lưu ý rằng việc không đồng ý với kết quả giám định không đồng nghĩa với việc đương nhiên được tổ chức giám định lại. Việc phúc quyết phải đáp ứng điều kiện, thành phần hồ sơ và trình tự tương ứng theo Điều 19, Điều 20 Thông tư 25/2025/TT-BYT.
Tỷ lệ thương tật bao nhiêu thì được hưởng trợ cấp tai nạn lao động?
Theo khoản 2 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 45 mới đáp ứng điều kiện về tỷ lệ để hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Đồng thời, người lao động phải không thuộc các trường hợp loại trừ được quy định tại khoản 3 Điều 45.
Suy giảm từ 5% đến 30% được hưởng trợ cấp một lần
Theo khoản 2 Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm 5% khả năng lao động được hưởng mức trợ cấp bằng 05 lần mức tham chiếu. Sau đó, cứ tăng thêm 1% suy giảm khả năng lao động thì mức trợ cấp được tăng thêm 0,5 lần mức tham chiếu.
Ngoài phần trợ cấp tính theo tỷ lệ suy giảm, người lao động còn được hưởng khoản trợ cấp tính dựa trên thời gian đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nếu thời gian đóng từ 01 năm trở xuống thì khoản này được tính bằng 0,5 tháng tiền lương đóng quỹ; sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng quỹ thì được cộng thêm 0,3 tháng tiền lương đóng quỹ của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.
Suy giảm từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hằng tháng
Theo điểm a khoản 2 Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm 31% khả năng lao động được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 30% mức lương cơ sở. Sau đó, cứ tăng thêm 1% suy giảm khả năng lao động thì mức trợ cấp được cộng thêm 2% mức lương cơ sở.
Ngoài khoản trợ cấp tính theo tỷ lệ suy giảm, điểm b khoản 2 Điều 49 còn quy định khoản trợ cấp hằng tháng dựa trên số năm đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Với thời gian đóng từ 01 năm trở xuống, mức tính là 0,5% mức tiền lương đóng Quỹ; sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì được cộng thêm 0,3%.
Mức tham chiếu và mức lương cơ sở áp dụng từ ngày 01/7/2025
Điều 48 và Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 hiện vẫn sử dụng trực tiếp thuật ngữ “mức lương cơ sở” khi quy định cách tính trợ cấp một lần và trợ cấp hằng tháng. Trong khi đó, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đưa ra khái niệm “mức tham chiếu” tại Điều 7, nhưng Điều 139 của Luật này không sửa điểm a khoản 2 Điều 48 hoặc điểm a khoản 2 Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động sang thuật ngữ “mức tham chiếu”.
Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 161/2026/NĐ-CP đã tăng mức lương cơ sở từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Theo nội dung nguồn, cơ quan BHXH cũng xác nhận việc điều chỉnh này làm thay đổi các mức đóng và mức hưởng BHXH, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong những trường hợp có căn cứ tính theo lương cơ sở hoặc mức tham chiếu.
Như vậy, có thể khái quát rằng người lao động suy giảm từ 5% đến 30% thuộc trường hợp hưởng trợ cấp một lần, còn từ 31% trở lên thuộc trường hợp hưởng trợ cấp hằng tháng. Tuy nhiên, để xác định chính xác số tiền được hưởng cần xem xét đồng thời tỷ lệ suy giảm, thời gian đóng Quỹ và tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp.
Tai nạn trên đường đi làm có được xem là tai nạn lao động?
Không phải mọi tai nạn xảy ra trên đường đều được mặc nhiên xác định là tai nạn lao động. Theo điểm c khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tai nạn xảy ra trên tuyến đường từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở, trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý, thuộc một trong các trường hợp tai nạn lao động theo quy định.
Để được hưởng chế độ, người lao động vẫn phải đáp ứng điều kiện suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên cùng các điều kiện khác theo luật.
Trong trường hợp tai nạn trên đường đi làm do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây tai nạn, khoản 2 Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người sử dụng lao động vẫn có trách nhiệm trợ cấp cho người lao động theo mức tương ứng tại khoản 5 Điều 38 của Luật này.
Những rủi ro pháp lý khi xác định tỷ lệ thương tật
Quá trình xác định tỷ lệ thương tật có thể phát sinh nhiều vấn đề nếu người lao động hoặc doanh nghiệp áp dụng sai căn cứ pháp lý, sử dụng hồ sơ không đầy đủ hoặc nhầm lẫn giữa các thủ tục khác nhau. Những sai sót này có thể ảnh hưởng đến quá trình giám định cũng như việc giải quyết quyền lợi.
Sử dụng văn bản giám định đã hết hiệu lực
Từ ngày 01/7/2025, hồ sơ và trình tự khám giám định phải được thực hiện theo Thông tư 25/2025/TT-BYT. Thông tư 56/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2022/TT-BYT đã hết hiệu lực kể từ thời điểm này.
Do đó, người lao động và bộ phận nhân sự cần kiểm tra lại mẫu biểu, căn cứ pháp luật và thành phần hồ sơ trước khi nộp. Việc tiếp tục sử dụng quy định hoặc biểu mẫu của văn bản đã hết hiệu lực có thể dẫn đến việc hồ sơ bị yêu cầu điều chỉnh, bổ sung hoặc trả lại.
Nhầm tỷ lệ tổn thương cơ thể với số tiền trợ cấp
Một tỷ lệ suy giảm khả năng lao động nhất định không đồng nghĩa với một khoản tiền trợ cấp cố định cho mọi trường hợp.
Theo điểm b khoản 2 Điều 48 và điểm b khoản 2 Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, mức trợ cấp còn phụ thuộc vào thời gian người lao động đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tiền lương làm căn cứ đóng Quỹ.
Vì vậy, hai người cùng được xác định suy giảm 20% hoặc cùng suy giảm 40% vẫn có thể có mức trợ cấp khác nhau nếu thời gian đóng Quỹ hoặc tiền lương làm căn cứ đóng khác nhau.
Không ghi nhận đầy đủ tổn thương trong quá trình giám định
Khoản 2 Điều 22 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định nội dung giám định lần đầu dựa trên những tổn thương liên quan đến tai nạn được ghi nhận trong giấy ra viện, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tích.
Tuy nhiên, khoản 4 Điều 22 còn quy định rằng trong quá trình khám, nếu phát hiện tổn thương khác thì tổn thương đó cũng được ghi nhận tại kết quả khám hiện tại. Vì vậy, không nên hiểu một cách tuyệt đối rằng Hội đồng giám định y khoa chỉ xem xét những tổn thương xuất hiện trong hồ sơ ban đầu.
Chậm lập hồ sơ giám định hoặc hồ sơ hưởng chế độ
Hồ sơ giám định y khoa và hồ sơ đề nghị hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là hai thủ tục có tính chất khác nhau. Điều 21 Thông tư 25/2025/TT-BYT xác định chủ thể có trách nhiệm lập hồ sơ giám định trong từng trường hợp.
Sau khi đáp ứng điều kiện hưởng chế độ, Điều 57 và Điều 59 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 tiếp tục quy định về hồ sơ hưởng chế độ và thời hạn giải quyết. Theo khoản 1 Điều 59, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ xác định tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động tại Long Phan PMT
Đối với những vụ việc có nhiều thương tích, hồ sơ y tế phức tạp hoặc phát sinh tranh chấp về trách nhiệm bồi thường, trợ cấp, việc rà soát hồ sơ và xác định đúng quy định pháp luật có thể giúp các bên hạn chế sai sót trong quá trình giải quyết.
Long Phan PMT hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp trong các vấn đề liên quan đến tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động, bao gồm:
Rà soát hồ sơ tai nạn lao động và biên bản điều tra tai nạn;
Kiểm tra điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định;
Rà soát hồ sơ bệnh án, giấy chứng nhận thương tích để xem xét các tổn thương cần được giám định;
Hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ giám định lần đầu theo đúng mẫu biểu của Thông tư 25/2025/TT-BYT;
Hỗ trợ thực hiện thủ tục giám định lại do thương tật tái phát;
Hỗ trợ hồ sơ giám định phúc quyết khi có căn cứ thực hiện;
Kiểm tra sự phù hợp giữa kết quả giám định và hồ sơ bệnh án;
Tính toán mức trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hằng tháng dựa trên tỷ lệ tổn thương và thời gian đóng Quỹ;
Xác định khoản bồi thường, trợ cấp mà người sử dụng lao động phải thực hiện theo Điều 38, Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015;
Rà soát hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bảo hiểm tai nạn lao động;
Hỗ trợ đại diện khiếu nại và bảo vệ quyền lợi khi việc giải quyết chế độ có dấu hiệu không đúng quy định.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.
Câu hỏi thường gặp về tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động
Bị tai nạn lao động bao nhiêu phần trăm thì được hưởng chế độ?
Theo khoản 2 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn lao động thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 45 và không thuộc trường hợp loại trừ tại khoản 3 Điều 45 mới đủ điều kiện hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Nếu mức suy giảm dưới 5%, người lao động không đủ điều kiện nhận trợ cấp từ Quỹ theo điều kiện về tỷ lệ, nhưng vẫn có thể phát sinh quyền được người sử dụng lao động thanh toán chi phí khám giám định theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.
Tỷ lệ từ 5% đến 30% được hưởng chế độ gì?
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thuộc trường hợp hưởng trợ cấp một lần theo Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Khoản trợ cấp gồm phần tính theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động và phần tính thêm dựa trên số năm đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Tỷ lệ từ 31% trở lên được hưởng chế độ gì?
Theo Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thuộc trường hợp hưởng trợ cấp hằng tháng. Mức trợ cấp được tính theo tỷ lệ suy giảm và có phần trợ cấp bổ sung căn cứ vào thời gian đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Không đồng ý với kết quả giám định thì phải làm gì?
Trong trường hợp thuộc điều kiện thực hiện phúc quyết, người lao động có thể đề nghị giám định phúc quyết theo Điều 19 Thông tư 25/2025/TT-BYT. Nếu vẫn không đồng ý với kết quả phúc quyết, có thể tiếp tục đề nghị giám định phúc quyết lần cuối theo Điều 20 Thông tư này, với việc thực hiện theo hồ sơ và trình tự được pháp luật quy định.
Có nhiều thương tật thì có được cộng tỷ lệ trực tiếp với nhau không?
Không nên tự cộng số học tỷ lệ của từng thương tích. Trường hợp có nhiều tổn thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể phải được tổng hợp theo phương pháp quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, trên cơ sở lấy tỷ lệ tổn thương cao nhất trước và tính các tổn thương tiếp theo trên phần cơ thể còn lại.
Tai nạn trên đường đi làm có được hưởng chế độ tai nạn lao động không?
Có thể được hưởng nếu tai nạn xảy ra trên tuyến đường và trong khoảng thời gian hợp lý từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở, thuộc trường hợp được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Ngoài điều kiện về địa điểm, tuyến đường và thời gian, người lao động còn phải đáp ứng điều kiện suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên để được hưởng trợ cấp theo quy định.
Việc xác định đúng tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết chế độ bảo hiểm, trợ cấp và trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động. Người lao động cần tuân thủ đúng nguyên tắc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, sử dụng đúng bảng tỷ lệ, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ giám định và phân biệt rõ thủ tục giám định lần đầu, giám định lại, giám định tổng hợp và giám định phúc quyết. Đồng thời, tỷ lệ suy giảm khả năng lao động chỉ là một yếu tố để xác định quyền lợi, bởi mức trợ cấp còn có thể phụ thuộc vào thời gian đóng Quỹ và tiền lương làm căn cứ theo từng chế độ.
Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Toàn tập hướng dẫn cách xác định tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động
>> Xem thêm:
- Thủ tục giám định tai nạn lao động – Hướng dẫn thực hiện
- Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng trọn gói: điều kiện và quy định mới



0 comments
Đăng nhận xét