Đưa ma túy cho người khác sử dụng là hành vi tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý và trong những trường hợp nhất định có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xác định người thực hiện phạm tội gì không chỉ dựa vào hành vi giao hoặc cung cấp ma túy mà còn phải xem xét mục đích, vai trò, nhận thức và toàn bộ diễn biến của vụ việc.
Đưa ma túy cho người khác sử dụng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Hành vi đưa hoặc cung cấp ma túy cho người khác sử dụng không phải trong mọi trường hợp đều được đánh giá giống nhau. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào tính chất cụ thể của hành vi, mục đích thực hiện, nhận thức của người liên quan, vai trò của từng cá nhân và những chứng cứ được thu thập trong vụ án để xác định trách nhiệm pháp lý.
Theo Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Khoản 1 Điều 255 quy định khung hình phạt cơ bản từ 03 năm đến 07 năm tù.
Do đó, khi xem xét một người có hành vi đưa ma túy cho người khác, không thể chỉ dựa vào một hành động riêng lẻ để kết luận ngay người đó phạm Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cần làm rõ việc đưa ma túy có nằm trong tổng thể hành vi tổ chức, tạo điều kiện hoặc hỗ trợ cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy hay không.
Khi nào hành vi đưa ma túy có thể bị xử lý về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy?
Theo Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Người phạm tội có thể thực hiện việc chuẩn bị ma túy, địa điểm, dụng cụ, phương tiện hoặc tiến hành những công việc cần thiết nhằm tạo điều kiện để người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
Trong trường hợp một người trực tiếp đưa hoặc cung cấp ma túy cho người khác, hành vi này cần được đặt trong mối liên hệ với các hành động khác trước, trong và sau thời điểm sử dụng ma túy. Mục đích của việc cung cấp, vai trò của người thực hiện và nhận thức về việc người khác sẽ sử dụng chất ma túy là những nội dung cần được làm rõ.
Vì vậy, không nên mặc nhiên cho rằng cứ có hành vi “đưa ma túy” là đương nhiên cấu thành Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự phải dựa trên đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Mức độ phạt đối với hành vi được tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được xác định dựa trên tính chất và tình hình kinh doanh của dự án.
Trường hợp hành vi đưa ma túy liên quan đến mua bán hoặc tàng trữ
Trong một số vụ việc, hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng có thể đồng thời gắn với việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển hoặc những hành vi phạm tội khác liên quan đến ma túy. Khi đó, người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm theo tội danh tương ứng nếu hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu pháp lý của tội phạm đó.
Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tội mua bán trái phép chất ma túy có khung hình phạt cơ bản từ 03 năm đến 07 năm tù. Các khung hình phạt nghiêm khắc hơn được xác định dựa trên loại, khối lượng, thể tích chất ma túy cũng như những tình tiết được pháp luật quy định.
Do đó, việc phân biệt giữa hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng và hành vi mua bán trái phép chất ma túy cần dựa trên bản chất thực tế của giao dịch. Cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét nguồn gốc của chất ma túy, mục đích chuyển giao, cách thức thực hiện, việc có hay không có thỏa thuận mua bán, lợi ích thu được và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Trường hợp hành vi chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự
Không phải mọi hành vi liên quan đến ma túy đều mặc nhiên bị xử lý hình sự. Nếu hành vi thực tế chưa đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì tùy tính chất, mức độ và trường hợp cụ thể, người vi phạm có thể bị áp dụng trách nhiệm hành chính hoặc các biện pháp quản lý theo quy định pháp luật.
Việc xem xét trách nhiệm trong trường hợp này có thể liên quan đến Nghị định 282/2025/NĐ-CP, Luật Phòng, chống ma túy 2025 và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Người sử dụng trái phép chất ma túy còn có thể thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Chương IV Luật Phòng, chống ma túy 2025.
Đối với người đưa ma túy cho người khác, trách nhiệm pháp lý phải được đánh giá độc lập. Việc người trực tiếp sử dụng ma túy có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không không đồng nghĩa với việc người đưa, cung cấp hoặc tổ chức cho người khác sử dụng đương nhiên được miễn trách nhiệm.
Đặc biệt, Điều 256a Bộ luật Hình sự là tội danh được bổ sung từ ngày 01/7/2025 và chỉ áp dụng khi người sử dụng trái phép chất ma túy thuộc những trường hợp, điều kiện cụ thể mà luật quy định. Vì vậy, cần phân biệt rõ hành vi của từng người thay vì đánh đồng trách nhiệm pháp lý giữa người sử dụng và người đưa hoặc tổ chức cho người khác sử dụng.
Các yếu tố cấu thành Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Để xác định một người có phạm Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh đầy đủ những yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Việc một người có liên quan đến ma túy hoặc từng đưa ma túy cho người khác chưa tự động đồng nghĩa với việc người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về Điều 255. Cơ quan có thẩm quyền phải làm rõ hành vi thực tế, lỗi, vai trò, mục đích và những tình tiết liên quan.
Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện thông qua hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào.
Hành vi tổ chức có thể được biểu hiện bằng việc chỉ huy, phân công, chuẩn bị hoặc thực hiện những công việc cần thiết nhằm tạo điều kiện cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Những hành động như chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, phương tiện, cung cấp chất ma túy hoặc hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác có thể được xem xét trong tổng thể vụ việc.
Do đó, trường hợp một người đưa hoặc cung cấp ma túy cho người khác phải được đánh giá cùng với mục đích và vai trò thực tế của người đó. Không thể tách riêng hành động “đưa ma túy” khỏi toàn bộ diễn biến để mặc nhiên kết luận đã đủ căn cứ cấu thành Điều 255.
Mặt chủ quan và lỗi cố ý
Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được thực hiện với lỗi cố ý. Người thực hiện phải có nhận thức về hành vi của mình và biết rằng việc làm của mình hướng tới việc tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn chủ động thực hiện.
Trong quá trình điều tra, các vấn đề cần được làm rõ có thể bao gồm việc người thực hiện có biết chất được giao là ma túy hay không, có biết người nhận sẽ sử dụng chất đó hay không và có chủ động tham gia vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không.
Nếu chưa chứng minh được nhận thức, ý chí và lỗi cố ý cần thiết thì chưa thể chỉ dựa vào việc có hành vi giao hoặc cung cấp chất để khẳng định đầy đủ trách nhiệm hình sự theo Điều 255.
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
Theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm được liệt kê tại điều khoản này. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 không thuộc danh sách được quy định tại khoản 2 Điều 12.
Vì vậy, độ tuổi của người thực hiện là một trong những vấn đề cần được xác minh khi xem xét trách nhiệm hình sự.
Khách thể của tội phạm
Khách thể bị xâm phạm của Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.
Bên cạnh đó, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn có khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và trật tự, an toàn xã hội. Đây cũng là cơ sở để pháp luật hình sự đặt ra các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi này.
Người có hành vi liên quan đến công việc được đưa ra cho người khác sử dụng cần được đánh giá cụ thể về vai trò trò chơi và tham số.
Khung hình phạt đối với hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng
Tùy vào tính chất, mức độ, hậu quả và các tình tiết định khung được chứng minh trong vụ án, người phạm tội có thể phải chịu những mức hình phạt khác nhau theo Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Cần đặc biệt lưu ý rằng từ ngày 01/7/2025, khoản 1 Điều 255 đã được sửa đổi về mức hình phạt. Vì vậy, khi đánh giá một vụ việc xảy ra ở thời điểm khác nhau cần xem xét quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm hành vi được thực hiện và nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự tương ứng.
Khung hình phạt cơ bản
Theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), được sửa đổi bởi khoản 19 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15, người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
So với quy định áp dụng trước ngày 01/7/2025, mức hình phạt tối thiểu tại khoản 1 Điều 255 đã được thay đổi. Trước thời điểm này, mức hình phạt được quy định từ 02 năm đến 07 năm tù.
Đối với những hành vi xảy ra trước ngày quy định mới có hiệu lực, việc xác định văn bản pháp luật áp dụng phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật hình sự về hiệu lực của luật theo thời gian.
Các khung hình phạt tăng nặng
Theo khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), mức hình phạt được nâng lên khi vụ án xuất hiện những tình tiết định khung nghiêm trọng hơn.
Khoản 2 Điều 255: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu thuộc các trường hợp như phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi; đối với phụ nữ mà biết là có thai; đối với người đang cai nghiện; gây tổn hại sức khỏe người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây bệnh nguy hiểm cho người khác hoặc tái phạm nguy hiểm.
Khoản 3 Điều 255: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm khi gây tổn hại sức khỏe người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người; gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ của mỗi người từ 31% đến 60%; gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên hoặc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với người dưới 13 tuổi.
Khoản 4 Điều 255: Người phạm tội có thể bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân nếu gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên hoặc làm chết 02 người trở lên.
Việc xác định khoản hình phạt áp dụng phải dựa trên chứng cứ cụ thể chứng minh tình tiết định khung. Những yếu tố như số lần phạm tội, số người được tổ chức sử dụng ma túy, độ tuổi của người sử dụng, tình trạng của người liên quan cũng như hậu quả đối với sức khỏe, tính mạng đều cần được xác minh.
Một tình tiết đã được sử dụng để xác định khung hình phạt thì không được tiếp tục sử dụng chính tình tiết đó để làm căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự một lần nữa.
Hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Theo quy định này, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Việc áp dụng hình phạt bổ sung không được xác định một cách máy móc mà được Tòa án xem xét trên cơ sở tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân người phạm tội và những tình tiết cụ thể của vụ án.
Những tình tiết có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự
Sau khi xác định khung hình phạt tương ứng, Tòa án còn xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt cụ thể đối với từng bị cáo.
Quá trình lượng hình cần xem xét tổng thể tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân của người phạm tội, hậu quả xảy ra cũng như những tình tiết khác được pháp luật quy định.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Theo Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), một số tình tiết tăng nặng có thể xuất hiện trong các vụ án ma túy như phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, sử dụng thủ đoạn tinh vi hoặc xảo quyệt để phạm tội, xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội.
Tuy nhiên, cần phân biệt tình tiết tăng nặng với tình tiết định tội hoặc tình tiết định khung. Nếu một tình tiết đã được sử dụng để xác định khung hình phạt thì không được tiếp tục sử dụng chính tình tiết đó làm căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52.
Chẳng hạn, trường hợp “tái phạm nguy hiểm” đã được sử dụng làm tình tiết định khung để áp dụng khoản 2 Điều 255 thì không tiếp tục tính thêm tình tiết này theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tòa án có thể xem xét nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ; phạm tội do bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức.
Ngoài những trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 51, Tòa án còn có thể xem xét các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.
Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hiện còn được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP. Do đó, khi đánh giá một vụ án cụ thể cần đối chiếu đầy đủ tình tiết thực tế với quy định pháp luật và hướng dẫn áp dụng có liên quan.
Đồng phạm và trách nhiệm của những người cùng tham gia
Trong thực tế, một vụ việc liên quan đến hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng có thể có nhiều người tham gia với mức độ và vai trò khác nhau. Có người trực tiếp thực hiện hành vi, người chuẩn bị địa điểm hoặc phương tiện, người cung cấp dụng cụ, người hỗ trợ về vật chất hoặc người có vai trò tổ chức.
Do đó, việc xác định trách nhiệm của từng người cần dựa trên hành vi cụ thể và ý chí của từng cá nhân. Không phải bất kỳ người nào có mặt tại địa điểm xảy ra vụ việc hoặc có quan hệ với người thực hiện hành vi cũng đương nhiên trở thành đồng phạm.
Xác định vai trò đồng phạm và người giúp sức
Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Những người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức.
Trong vụ án về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, một người có hành vi chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, phương tiện hoặc thực hiện công việc khác tạo điều kiện cho hành vi phạm tội có thể bị xác định là người giúp sức nếu người đó biết rõ mục đích phạm tội và cố ý hỗ trợ về vật chất hoặc tinh thần.
Ngược lại, việc một người chỉ xuất hiện tại hiện trường hoặc có quan hệ quen biết với người phạm tội chưa đủ để xác định trách nhiệm đồng phạm. Cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được người đó có sự cố ý cùng thực hiện tội phạm và có vai trò cụ thể trong hành vi phạm tội.
Trách nhiệm của người che giấu hoặc không tố giác tội phạm
Trách nhiệm pháp lý cũng có thể phát sinh đối với một số người không trực tiếp thực hiện hành vi tổ chức sử dụng ma túy nhưng có hành vi che giấu hoặc không tố giác tội phạm trong những trường hợp luật định.
Theo Điều 389 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người không hứa hẹn trước nhưng sau khi tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật hoặc thực hiện hành vi khác nhằm cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý thì có thể bị truy cứu về Tội che giấu tội phạm. Điều 255 thuộc danh mục tội phạm mà hành vi che giấu có thể bị xử lý theo Điều 389.
Bên cạnh đó, theo Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người biết rõ một trong những tội phạm thuộc Điều 389 đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác có thể bị truy cứu về Tội không tố giác tội phạm, trừ các trường hợp được loại trừ theo khoản 2, khoản 3 Điều 19.
Trường hợp hành vi che giấu đã được hứa hẹn từ trước thì cần xem xét theo quy định về đồng phạm thay vì mặc nhiên xác định là Tội che giấu tội phạm.
Quy trình tố tụng khi bị điều tra về hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng
Người bị điều tra và gia đình cần nắm được các giai đoạn cơ bản của quá trình tố tụng hình sự để thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Đồng thời, việc chủ động tiếp cận người bào chữa từ giai đoạn sớm có thể giúp người bị buộc tội hiểu rõ hơn về quyền tố tụng và phương thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
Quá trình giải quyết một vụ án hình sự được tiến hành qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Giai đoạn bắt, tạm giữ, khởi tố và điều tra
Ở giai đoạn ban đầu, người bị bắt trong những trường hợp do pháp luật quy định có thể bị tạm giữ để cơ quan có thẩm quyền xác minh và tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết.
Khi có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm, cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định khởi tố bị can theo quy định.
Người bị bắt, người bị tạm giữ và bị can có quyền được biết lý do, các quyết định tố tụng liên quan; được trình bày lời khai, ý kiến và không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt hoặc tạm giữ người, người bào chữa có thể tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của cơ quan có thẩm quyền hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.
Giai đoạn truy tố và xét xử
Sau khi hoàn tất điều tra, nếu hồ sơ có đủ căn cứ theo quy định, vụ án được chuyển đến Viện kiểm sát để xem xét việc truy tố.
Sau giai đoạn truy tố, vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm tại Tòa án và có thể tiếp tục được xét xử phúc thẩm nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp lệ.
Trong quá trình này, người bị buộc tội có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa theo Điều 60, Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Đối với các trường hợp thuộc khoản 1 Điều 76, nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện thủ tục chỉ định người bào chữa theo quy định.
Việc người bào chữa tham gia từ giai đoạn sớm có thể hỗ trợ việc kiểm tra chứng cứ, thực hiện các quyền tố tụng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Dịch vụ luật sư bảo vệ người bị buộc tội về hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng
Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, đánh giá căn cứ pháp lý và tư vấn phương án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
Các công việc có thể bao gồm:
Nghiên cứu hồ sơ vụ việc và đánh giá căn cứ khởi tố theo quy định pháp luật hiện hành;
Tư vấn quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tương ứng với từng giai đoạn tố tụng;
Phân tích những yếu tố cấu thành tội phạm để xác định hướng bào chữa phù hợp với tình tiết thực tế;
Tham gia bào chữa ngay từ giai đoạn điều tra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội;
Đề xuất và hỗ trợ thu thập chứng cứ chứng minh những tình tiết có lợi, bao gồm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
Đại diện hoặc hỗ trợ gia đình làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được tư vấn chi tiết về phương án xử lý.
Một số câu hỏi thường gặp về hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng
Đưa ma túy cho bạn bè sử dụng một lần có bị phạt tù không?
Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi thực tế đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Việc hành vi chỉ xảy ra một lần không đồng nghĩa với việc người thực hiện đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Nếu đủ căn cứ xác định hành vi thuộc Điều 255 thì mức hình phạt tại khung cơ bản là từ 03 năm đến 07 năm tù.
Khi quyết định mức hình phạt cụ thể, Tòa án còn xem xét những tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và những tình tiết khác theo quy định của pháp luật.
Người tự sử dụng ma túy cùng với người đưa ma túy có bị xử lý hình sự không?
Người trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc một trong 04 trường hợp được quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, chẳng hạn đang trong thời hạn cai nghiện hoặc đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện.
Nếu không thuộc những trường hợp mà Điều 256a quy định thì người sử dụng trái phép chất ma túy được áp dụng biện pháp quản lý tại cấp xã theo Chương IV Luật Phòng, chống ma túy 2022, không phải là hình phạt hình sự.
Tuy nhiên, trách nhiệm của người đưa ma túy phải được xem xét độc lập. Việc người sử dụng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc người đưa hoặc tổ chức cho người khác sử dụng ma túy đương nhiên không phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 255.
Đưa ma túy cho người dưới 18 tuổi sử dụng bị phạt bao nhiêu năm tù?
Theo khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, trường hợp tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi là tình tiết định khung tăng nặng, với mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Nếu người được tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là người dưới 13 tuổi thì hành vi thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 255, với mức phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.
Việc pháp luật quy định khung hình phạt nghiêm khắc hơn đối với trường hợp liên quan đến người chưa thành niên thể hiện yêu cầu bảo vệ đặc biệt đối với trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật hình sự.
Không biết chất được đưa là ma túy nhưng vẫn đưa cho người khác thì có bị xử lý không?
Đây là vấn đề phải được xem xét dựa trên chứng cứ cụ thể của từng vụ việc, đặc biệt là nhận thức và lỗi của người thực hiện.
Để xác định trách nhiệm hình sự theo Điều 255, cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ người thực hiện có biết về tính chất của chất được giao hay không, có nhận thức được mục đích sử dụng của người nhận hay không và có cố ý tham gia vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không.
Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc người đó đã cầm, giao hoặc chuyển một chất cho người khác để kết luận ngay trách nhiệm hình sự mà phải đánh giá đầy đủ yếu tố lỗi và các tình tiết liên quan.
Người bị điều tra về hành vi đưa ma túy cho người khác có quyền mời luật sư từ khi nào?
Người bị tạm giữ, bị can có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Người bào chữa có thể tham gia từ những thời điểm luật định, trong đó người bị bắt, bị tạm giữ có thể được người bào chữa tham gia theo quy định tại Điều 74.
Việc chủ động mời luật sư ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng có ý nghĩa trong việc bảo đảm các quyền của người bị buộc tội, kiểm tra chứng cứ, hỗ trợ thực hiện quyền tố tụng và xây dựng phương án bảo vệ phù hợp.
Gia đình của bị can, bị cáo cũng có thể chủ động liên hệ luật sư để hỗ trợ người bị tạm giữ hoặc người bị buộc tội thực hiện các quyền theo quy định.
Người giúp sức trong vụ đưa ma túy cho người khác sử dụng chịu trách nhiệm như thế nào?
Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người giúp sức là một trong những loại người đồng phạm. Nếu một người biết rõ mục đích phạm tội nhưng vẫn cố ý chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, phương tiện hoặc thực hiện hành vi khác nhằm tạo điều kiện cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm.
Mức độ trách nhiệm của từng người được xem xét dựa trên vai trò, mức độ đóng góp, ý thức chủ quan và những tình tiết cụ thể của vụ án. Việc chỉ có mặt tại nơi xảy ra vụ việc hoặc có mối quan hệ với người phạm tội không tự động làm phát sinh trách nhiệm đồng phạm.
Đưa ma túy cho người khác sử dụng có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự theo Điều 255 Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt cơ bản từ 03 năm đến 07 năm tù và có thể tăng lên tùy thuộc tình tiết định khung, hậu quả và vai trò của người thực hiện. Để xác định đúng trách nhiệm pháp lý, cần phân biệt hành vi tổ chức sử dụng với mua bán, tàng trữ hoặc các hành vi phạm tội khác về ma túy; đồng thời đánh giá đầy đủ lỗi, vai trò, chứng cứ và tình tiết của từng người trong vụ án. Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.



0 comments
Đăng nhận xét