Trong hoạt động mua bán, phân phối hàng hóa, xử phạt kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc là vấn đề cần được đặc biệt lưu ý khi cá nhân, hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp không thể xuất trình đầy đủ tài liệu chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa đang lưu thông trên thị trường. Việc thiếu hoặc không chứng minh được hóa đơn, hợp đồng, chứng từ nhập khẩu và các giấy tờ liên quan có thể dẫn đến xử phạt tiền, tịch thu hàng hóa, buộc tiêu hủy hoặc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp. Trường hợp vụ việc có dấu hiệu liên quan đến hàng nhập lậu, hàng giả, trốn thuế hoặc sử dụng chứng từ không hợp pháp, trách nhiệm pháp lý còn có thể chuyển từ xử phạt hành chính sang trách nhiệm hình sự. Vì vậy, người kinh doanh cần nhận diện đúng hành vi, chủ động chuẩn bị tài liệu và thực hiện quyền giải trình kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Nhận diện hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ khi cơ quan chức năng kiểm tra
Không phải bất kỳ hàng hóa nào chưa xuất trình được hóa đơn ngay tại thời điểm kiểm tra cũng đương nhiên được xem là hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Việc đánh giá phải dựa trên các căn cứ cụ thể thể hiện trên nhãn hàng hóa, bao bì, hóa đơn, chứng từ, hợp đồng, tài liệu vận chuyển, giấy tờ nhập khẩu và những tài liệu có liên quan khác.
Quản lý thị trường là một trong những lực lượng có thẩm quyền tiến hành kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, bao gồm việc phòng, chống sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng cấm và hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, đồng thời thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại Điều 81 đến Điều 88 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP.
Khi hoạt động kiểm tra được thực hiện tại cửa hàng, kho chứa hàng, cơ sở kinh doanh hoặc địa điểm phân phối, chủ thể kinh doanh cần phối hợp và cung cấp những tài liệu đang có để chứng minh nguồn hàng hợp pháp. Các tài liệu có thể bao gồm hóa đơn mua hàng, hợp đồng với nhà cung cấp, phiếu xuất kho, biên bản bàn giao, chứng từ vận chuyển, tờ khai hải quan đối với hàng nhập khẩu và những giấy tờ khác có khả năng xác định được quá trình mua bán, sở hữu và lưu thông của hàng hóa.
Trường hợp tại thời điểm kiểm tra chưa có sẵn toàn bộ hóa đơn hoặc chứng từ không có nghĩa người kinh doanh chắc chắn bị xác định có hành vi vi phạm. Chủ thể kinh doanh có thể bổ sung, giải trình theo yêu cầu và trong thời hạn pháp luật cho phép. Tuy nhiên, nếu hết thời hạn mà vẫn không thể đưa ra căn cứ hợp pháp chứng minh nguồn gốc của hàng hóa thì hàng hóa có nguy cơ bị xác định là hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ và bị tạm giữ hoặc xử lý theo quy định.
Tiêu chí pháp lý để xác định hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ
Theo Khoản 13 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ được hiểu là hàng hóa đang lưu thông trên thị trường nhưng không có căn cứ để xác định được nguồn gốc nơi sản xuất hoặc xuất xứ của hàng hóa.
Như vậy, tiêu chí pháp lý không chỉ nằm ở việc có hay không có một hóa đơn tại thời điểm kiểm tra. Vấn đề cốt lõi là người kinh doanh có thể chứng minh được hàng hóa đến từ đâu, được sản xuất hoặc nhập khẩu bởi chủ thể nào, được mua bán thông qua giao dịch nào và quyền sở hữu hoặc quyền phân phối có căn cứ hợp pháp hay không.
Cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét đồng thời nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chẳng hạn nhãn hàng hóa, thông tin trên bao bì, hợp đồng mua bán, hóa đơn đầu vào, phiếu xuất kho, chứng từ giao nhận, tài liệu vận chuyển, tờ khai hải quan và các chứng từ thể hiện quyền sở hữu hợp pháp.
Do đó, trường hợp người kinh doanh chỉ thiếu một loại giấy tờ nhưng vẫn còn những chứng cứ khác đủ khả năng làm rõ toàn bộ nguồn gốc hàng hóa thì cần nhanh chóng tập hợp, hệ thống hóa và nộp cho cơ quan đang xử lý vụ việc. Ngược lại, nếu không có bất kỳ tài liệu đáng tin cậy nào làm cơ sở xác định nguồn hàng thì khả năng bị xử lý sẽ cao hơn.
Người kinh doanh cần nhanh chóng bổ sung hóa đơn, hợp đồng, chứng từ vận chuyển và tài liệu liên quan để chứng minh nguồn gốc hàng hóa khi bị kiểm tra.
Những chứng từ có thể sử dụng để chứng minh nguồn gốc hàng hóa
Khi phát sinh việc kiểm tra, việc đầu tiên người kinh doanh nên thực hiện là rà soát toàn bộ chuỗi hồ sơ liên quan đến lô hàng. Không nên chỉ tập trung vào một hóa đơn duy nhất mà cần nhìn nhận toàn bộ quá trình từ mua hàng, thanh toán, vận chuyển đến nhập kho và phân phối.
Căn cứ Khoản 13 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, hồ sơ chứng minh nguồn gốc có thể liên quan đến chứng từ chứng nhận xuất xứ, hợp đồng, hóa đơn mua bán, tờ khai hải quan và những giấy tờ khác chứng minh quyền sở hữu hợp pháp.
Trong thực tế, người kinh doanh có thể rà soát và chuẩn bị các tài liệu như:
Hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn bán hàng có thông tin về bên bán, bên mua, loại hàng hóa, số lượng và giá trị giao dịch.
Hợp đồng mua bán, hợp đồng phân phối hoặc thỏa thuận thương mại thể hiện quan hệ giữa nhà cung cấp và bên mua.
Phiếu xuất kho, phiếu giao hàng, biên bản giao nhận hoặc tài liệu xác nhận việc hàng hóa đã được chuyển giao.
Chứng từ vận chuyển thể hiện đơn vị giao nhận, tuyến đường, thời gian giao hàng và chủ thể nhận hàng.
Tờ khai hải quan đối với hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu.
Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa C/O trong trường hợp cần chứng minh xuất xứ theo hồ sơ nhập khẩu hoặc theo yêu cầu quản lý.
Hồ sơ công bố sản phẩm đối với các loại hàng chịu sự quản lý chuyên ngành như thực phẩm, mỹ phẩm hoặc những sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe.
Tem hàng hóa, nhãn hàng hóa và nhãn phụ bằng tiếng Việt đối với những hàng hóa nhập khẩu thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu phải thể hiện các nội dung này.
Việc thu thập và hoàn thiện hồ sơ nên được triển khai ngay sau khi cơ quan chức năng lập biên bản kiểm tra hoặc tạm giữ hàng hóa. Hồ sơ càng đầy đủ, thống nhất về thời gian, số lượng, chủng loại và chủ thể giao dịch thì khả năng chứng minh nguồn hàng hợp pháp càng cao.
Đặc biệt, đối với trường hợp hàng hóa được mua qua nhiều khâu trung gian, chứng cứ từ nhà cung cấp, đơn vị vận chuyển, bên thanh toán và các chủ thể trong chuỗi giao dịch có thể có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải trình.
Việc giải trình đúng thời hạn, cung cấp chứng cứ hợp pháp và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ
Mức phạt khi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ
Mức xử phạt đối với hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ không được xác định một cách tùy nghi. Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét giá trị hàng hóa vi phạm, tư cách của người vi phạm là cá nhân hay tổ chức, loại hàng hóa, tính chất hành vi và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ có liên quan.
Căn cứ Khoản 1 đến Khoản 11 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ được phân chia thành nhiều khung xử phạt căn cứ theo giá trị hàng hóa vi phạm.
Đối với hàng hóa có giá trị dưới 1.000.000 đồng, cá nhân có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng; tổ chức có thể bị cảnh cáo hoặc phạt từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng.
Nếu hàng hóa vi phạm có giá trị từ 1.000.000 đồng đến dưới 3.000.000 đồng, mức tiền phạt đối với cá nhân từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, trong khi tổ chức có thể bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
Đối với hàng hóa trị giá từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, tổ chức có thể bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Nếu giá trị hàng hóa từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; mức áp dụng đối với tổ chức từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Đối với hàng hóa trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng, cá nhân có thể bị xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng và tổ chức có thể bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng.
Trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng, mức tiền phạt dành cho cá nhân là từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; đối với tổ chức, mức tiền phạt từ 14.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Khi hàng hóa có giá trị từ 30.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; tổ chức có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Nếu giá trị hàng hóa từ 40.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; tổ chức có thể bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Đối với hàng hóa có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 70.000.000 đồng, mức phạt cá nhân dao động từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và mức dành cho tổ chức từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Nếu hàng hóa trị giá từ 70.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, còn tổ chức có thể bị phạt từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
Đối với hàng hóa vi phạm có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên, mức phạt đối với cá nhân từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nếu chủ thể vi phạm là tổ chức, mức phạt có thể từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Theo Điểm b Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân. Vì vậy, việc xác định chính xác chủ thể bị xử phạt là cá nhân, hộ kinh doanh hay tổ chức có ý nghĩa trực tiếp đối với số tiền phải nộp.
Những nhóm hàng hóa có thể bị áp dụng mức phạt gấp đôi
Bên cạnh giá trị hàng hóa, tính chất của loại hàng đang kinh doanh cũng ảnh hưởng đáng kể đến mức chế tài. Một số nhóm sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, môi trường hoặc thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện có thể chịu mức xử phạt cao hơn mức thông thường.
Theo Điểm a Khoản 12 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, trường hợp vi phạm liên quan đến thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thuốc, nguyên liệu làm thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế có thể bị áp dụng mức phạt gấp 02 lần mức phạt tiền tương ứng.
Theo Điểm b Khoản 12 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, quy định này còn áp dụng đối với hóa chất, chế phẩm diệt khuẩn, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, giống cây trồng, giống vật nuôi và thức ăn thủy sản.
Ngoài ra, Điểm c Khoản 12 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định hàng hóa thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cũng có thể thuộc trường hợp áp dụng mức phạt gấp đôi.
Do vậy, đối với các cơ sở kinh doanh mỹ phẩm, thực phẩm, thực phẩm chức năng, thuốc, trang thiết bị y tế hoặc những sản phẩm chuyên ngành, việc quản lý hồ sơ không nên chỉ dừng lại ở hóa đơn. Chủ thể kinh doanh còn cần quan tâm đến nhãn, nhãn phụ, hồ sơ công bố, điều kiện lưu hành và các giấy tờ chuyên ngành khác.
Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả
Tiền phạt không phải là hậu quả pháp lý duy nhất mà người kinh doanh có thể phải chịu.
Căn cứ khoản 13, 14 Điều 17 Nghị định 98/2022/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi kinh doanh không rõ nguồn gốc.
Theo đó, tang vật vi phạm có thể bị tịch thu, trừ trường hợp hàng hóa đã thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy.
Bên cạnh hình thức tịch thu, người vi phạm có thể phải thực hiện thêm những biện pháp khắc phục hậu quả khác.
Theo Điểm a Khoản 14 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, hàng hóa vi phạm có thể bị buộc tiêu hủy nếu gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng hoặc môi trường.
Theo Điểm b Khoản 14 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, chủ thể vi phạm còn có thể bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ.
Vì vậy, thiệt hại thực tế của một vụ việc có thể lớn hơn nhiều so với tiền phạt. Ngoài khoản tiền phải nộp cho Nhà nước, chủ thể kinh doanh có khả năng mất toàn bộ hàng hóa, phải chi phí cho việc tiêu hủy và phải hoàn trả lợi ích đã thu được từ hành vi vi phạm. Trong một số trường hợp, người tiêu dùng còn có thể yêu cầu hoàn tiền hoặc bồi thường nếu sản phẩm gây ra thiệt hại.
Khi nào vi phạm hành chính có nguy cơ chuyển sang trách nhiệm hình sự?
Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ không mặc nhiên đồng nghĩa với việc người kinh doanh bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Phần lớn trường hợp, nếu hành vi chỉ đáp ứng dấu hiệu của vi phạm hành chính thì sẽ được xử lý theo Điều 17 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.
Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra, nếu cơ quan chức năng phát hiện các tài liệu hoặc dấu hiệu cho thấy hàng hóa liên quan đến hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, sản xuất hoặc kinh doanh hàng giả, trốn thuế hay sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để che giấu nguồn hàng thì hồ sơ có thể được chuyển sang cơ quan điều tra.
Việc xác định có căn cứ xử lý hình sự hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm bản chất hàng hóa, giá trị lô hàng, nguồn gốc, phương thức đưa hàng vào thị trường, kết quả giám định, hành vi của người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình xác minh.
Nguy cơ bị xử lý về Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới
Nếu có căn cứ xác định hàng hóa đã được đưa qua biên giới trái pháp luật nhằm né tránh sự kiểm tra của cơ quan nhà nước hoặc nhằm trốn nghĩa vụ thuế, người thực hiện hành vi có thể bị xem xét trách nhiệm về Tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong trường hợp hành vi phù hợp với dấu hiệu vận chuyển trái phép hàng hóa hoặc tiền tệ qua biên giới, trách nhiệm có thể được xem xét theo Điều 189 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Việc xử lý hình sự không đơn thuần chỉ dựa trên giá trị của hàng hóa. Cơ quan có thẩm quyền còn phải xem xét những điều kiện khác, trong đó có tiền án, tiền sự và các dấu hiệu định tội được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Trường hợp hàng hóa bị xác định là hàng giả
Hàng hóa không rõ nguồn gốc và hàng giả là hai khái niệm khác nhau. Không thể chỉ vì hàng hóa thiếu tài liệu chứng minh nguồn gốc mà mặc nhiên kết luận đó là hàng giả.
Tuy nhiên, nếu quá trình điều tra, giám định hoặc xác minh cho thấy hàng hóa thực tế là hàng giả theo quy định pháp luật thì chủ thể liên quan có thể bị xem xét về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Đối với những nhóm hàng giả chuyên ngành như thuốc chữa bệnh, thực phẩm, phân bón hoặc thuốc bảo vệ thực vật, trách nhiệm còn phải được xác định theo các điều luật tương ứng với từng loại hàng.
Do đó, kết quả giám định hàng hóa có thể trở thành một trong những tài liệu đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc vụ việc tiếp tục được xử lý hành chính hay chuyển sang hướng xem xét trách nhiệm hình sự.
Không nên sử dụng hóa đơn hoặc chứng từ không hợp pháp để hợp thức hóa hàng hóa
Một trong những cách xử lý có mức độ rủi ro rất cao là tìm mua hóa đơn, lập chứng từ không đúng thực tế hoặc tạo giao dịch giả sau khi hàng hóa đã bị kiểm tra nhằm chứng minh nguồn gốc.
Thay vì giúp giảm trách nhiệm, cách thức này có thể làm vụ việc trở nên nghiêm trọng hơn và phát sinh thêm dấu hiệu vi phạm khác.
Nếu chứng từ không hợp pháp được sử dụng nhằm che giấu doanh thu, giá trị giao dịch hoặc nghĩa vụ thuế, người có liên quan có thể bị xem xét về Tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, hoặc những hành vi liên quan đến hóa đơn và chứng từ nếu đủ yếu tố cấu thành.
Giải pháp phù hợp hơn là rà soát những tài liệu đã thực sự phát sinh trong giao dịch, chẳng hạn hợp đồng mua bán, hóa đơn đầu vào, sao kê hoặc chứng từ thanh toán, phiếu xuất kho, chứng từ vận chuyển và hồ sơ hải quan.
Nếu chưa thể thu thập đủ chứng từ, người kinh doanh nên giải trình đúng sự thật và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền. Việc cố tình sử dụng tài liệu không phản ánh giao dịch thực tế có thể làm mất cơ hội được xem xét giảm nhẹ và gia tăng đáng kể rủi ro pháp lý.
Quyền giải trình trước khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt
Biên bản kiểm tra hoặc biên bản vi phạm hành chính chưa phải lúc nào cũng là kết quả cuối cùng của vụ việc. Trong những trường hợp pháp luật quy định, cá nhân và tổ chức vẫn có quyền cung cấp bổ sung chứng cứ, thực hiện giải trình và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trước khi quyết định xử phạt được ban hành.
Theo khoản 1 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020, cá nhân, tổ chức có quyền giải trình đối với hành vi vi phạm thuộc trường hợp có khung tiền phạt tối đa từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân hoặc từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức và những trường hợp khác do luật quy định.
Theo khoản 2 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính, người vi phạm có thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản để gửi văn bản giải trình. Nếu lựa chọn yêu cầu giải trình trực tiếp thì thời hạn gửi văn bản yêu cầu là 02 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.
Đây là thời điểm người kinh doanh cần sử dụng hiệu quả để chứng minh nguồn hàng, xác định lại phạm vi vi phạm và đề nghị cơ quan chức năng xem xét những tình tiết có lợi.
Văn bản giải trình nên tập trung vào những vấn đề có thể kiểm chứng như nguồn gốc lô hàng, nhà cung cấp, chủ thể sở hữu, thời điểm mua bán, phương thức thanh toán, quá trình vận chuyển và các tài liệu chứng minh giao dịch.
Việc chỉ trình bày khó khăn về tài chính hoặc hoàn cảnh kinh doanh thường không đủ để chứng minh rằng kết luận ban đầu về hàng hóa là chưa chính xác. Một hồ sơ giải trình hiệu quả cần tạo được mối liên hệ rõ ràng giữa lời trình bày và chứng cứ thực tế.
Các tình tiết giảm nhẹ có thể được đề nghị xem xét
Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về những tình tiết giảm nhẹ, trong đó có các yếu tố như tự nguyện khắc phục hậu quả, tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi và tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng.
Để tăng cơ sở đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ, chủ thể kinh doanh có thể chủ động thực hiện nhiều biện pháp.
Trước hết, cần phân loại toàn bộ số hàng hóa đang bị kiểm tra thành từng nhóm: hàng đã có đầy đủ chứng từ, hàng đang thiếu một phần chứng từ và hàng chưa xác định được nguồn tài liệu.
Tiếp theo, cần nhanh chóng liên hệ nhà cung cấp để yêu cầu cung cấp hợp đồng, hóa đơn đầu vào, phiếu xuất kho, chứng từ vận chuyển, tờ khai hải quan hoặc những giấy tờ liên quan khác.
Trường hợp thuộc đối tượng được thực hiện quyền giải trình bằng văn bản, cần bảo đảm văn bản được gửi trong thời hạn 05 ngày theo Khoản 2 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
Người kinh doanh cũng nên chủ động phối hợp với đoàn kiểm tra, cung cấp thông tin trung thực và hỗ trợ việc xác định chính xác giá trị hàng hóa, chủ thể vi phạm cũng như những vấn đề còn chưa rõ trong hồ sơ.
Nếu đã phát sinh hậu quả, việc tự nguyện thực hiện các biện pháp khắc phục như thu hồi sản phẩm, giao nộp tang vật hoặc bồi hoàn thiệt hại trong trường hợp có căn cứ cũng có thể được ghi nhận trong quá trình xem xét.
Đồng thời, chủ thể vi phạm cần đề nghị áp dụng cụ thể các tình tiết giảm nhẹ theo Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt.
Các biện pháp trên không đồng nghĩa với việc người vi phạm chắc chắn được miễn trách nhiệm hoặc được giảm toàn bộ mức phạt. Tuy nhiên, đây là những căn cứ giúp cơ quan xử lý có điều kiện đánh giá đầy đủ hơn tính chất, mức độ vi phạm và thái độ của người vi phạm.
Khiếu nại hoặc khởi kiện nếu quyết định xử phạt có dấu hiệu không phù hợp
Sau khi quyết định xử phạt đã được ban hành, người kinh doanh vẫn có quyền sử dụng các cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nếu nhận thấy quyết định có sai sót.
Những vấn đề cần kiểm tra có thể bao gồm thẩm quyền của người ban hành quyết định, việc xác định chủ thể vi phạm, phương pháp xác định giá trị hàng hóa, phạm vi hàng hóa bị coi là vi phạm hoặc việc cơ quan chức năng không xem xét những chứng cứ đã được cung cấp đúng thời hạn.
Theo Điều 7 Luật Khiếu nại 2011, người khiếu nại có quyền thực hiện khiếu nại lần đầu đến người đã ban hành quyết định hành chính hoặc cơ quan có người thực hiện hành vi hành chính.
Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu, người khiếu nại có thể tiếp tục thực hiện khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định.
Theo Điều 9 Luật Khiếu nại 2011, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày người có quyền khiếu nại nhận được quyết định hành chính hoặc biết được hành vi hành chính.
Theo Điều 28 Luật Khiếu nại 2011, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày.
Do đó, hồ sơ khiếu nại không nên chỉ thể hiện mong muốn được giảm số tiền xử phạt. Nội dung cần chỉ ra cụ thể quyết định đang sai ở điểm nào, chứng cứ nào đã bị bỏ sót, việc xác định chủ thể hoặc giá trị hàng hóa có phù hợp hay không và quyền lợi của người kinh doanh bị ảnh hưởng như thế nào.
Long Phan PMT hỗ trợ xử lý vụ việc kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc
Các vụ việc liên quan đến hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có thể đồng thời phát sinh rủi ro về tiền phạt, hàng hóa, hoạt động kinh doanh và trách nhiệm hình sự. Vì vậy, việc rà soát hồ sơ ngay từ giai đoạn cơ quan chức năng kiểm tra có thể giúp hạn chế những bất lợi không cần thiết.
Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng đánh giá biên bản kiểm tra, căn cứ xác định nguồn gốc hàng hóa, thẩm quyền xử phạt và các vấn đề liên quan đến việc tạm giữ hoặc xác định giá trị tang vật.
Trong giai đoạn kiểm tra, luật sư có thể tư vấn về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, doanh nghiệp khi làm việc với lực lượng Quản lý thị trường; rà soát trình tự kiểm tra và lập biên bản; xem xét việc xác định người vi phạm; kiểm tra tài liệu về giá trị lô hàng và hướng dẫn khách hàng tập hợp chứng cứ chứng minh nguồn hàng.
Đối với quá trình giải trình, Long Phan PMT có thể hỗ trợ soạn thảo văn bản theo hướng tập trung vào chứng cứ thực tế, rà soát chuỗi hợp đồng, hóa đơn, phiếu xuất kho, chứng từ vận chuyển và hồ sơ nhập khẩu.
Trường hợp có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ, nội dung giải trình có thể đề nghị cơ quan chức năng xem xét việc chủ thể tự nguyện khai báo, tích cực hợp tác, giao nộp hàng hóa hoặc chủ động thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Long Phan PMT cũng có thể đại diện theo ủy quyền làm việc với cơ quan xử phạt, đoàn kiểm tra và cơ quan tiếp nhận hồ sơ nhằm bảo đảm các tài liệu, ý kiến và yêu cầu của khách hàng được trình bày đầy đủ..
Một số vấn đề thường gặp khi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc
Doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có thể chịu mức phạt tối đa đến 100.000.000 đồng. Theo Khoản 11 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, mức phạt tối đa đối với cá nhân trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên là 50.000.000 đồng. Đối với tổ chức, mức tiền phạt được xác định bằng 02 lần mức của cá nhân theo Điểm b Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.
Đối với mỹ phẩm và thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, mức phạt có thể được áp dụng gấp 02 lần mức tiền phạt cơ bản theo Điểm a Khoản 12 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Quy định tương tự còn áp dụng đối với thuốc và trang thiết bị y tế thuộc nhóm hàng hóa đặc thù.
Về quyền giải trình, cá nhân hoặc tổ chức thuộc trường hợp được giải trình có thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản để gửi văn bản giải trình. Trường hợp yêu cầu giải trình trực tiếp, thời hạn gửi văn bản yêu cầu là 02 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
Không phải toàn bộ hàng hóa không rõ nguồn gốc đều bắt buộc phải tiêu hủy. Việc tiêu hủy chỉ được áp dụng đối với hàng hóa thuộc trường hợp gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng hoặc môi trường theo Khoản 13 và Điểm a Khoản 14 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.
Việc kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc cũng không mặc nhiên dẫn đến trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu quá trình xác minh phát hiện dấu hiệu buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung; vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo Điều 189; sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192 hoặc những điều luật chuyên ngành tương ứng; trốn thuế theo Điều 200 hoặc hành vi phạm tội khác thì hồ sơ có thể được chuyển cho cơ quan điều tra.
Đặc biệt, hành vi sử dụng chứng từ không hợp pháp để hợp thức hóa nguồn hàng hoặc che giấu doanh thu có thể làm phát sinh nguy cơ chịu trách nhiệm về Tội trốn thuế. Căn cứ Khoản 3 và Khoản 5 Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, cá nhân có thể đối mặt với mức phạt tù cao nhất lên đến 07 năm; pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền đến 10.000.000.000 đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện truy cứu theo quy định.
Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu thông thường không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý. Nếu vụ việc có tính chất phức tạp, thời hạn giải quyết có thể được kéo dài nhưng không quá 45 ngày theo Điều 28 Luật Khiếu nại 2011.
Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có thể dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý, từ phạt tiền, tịch thu tang vật, buộc tiêu hủy, nộp lại khoản lợi bất hợp pháp đến nguy cơ phát sinh trách nhiệm hình sự nếu vụ việc liên quan đến buôn lậu, hàng giả, trốn thuế hoặc chứng từ không hợp pháp. Người kinh doanh cần sớm rà soát hóa đơn, hợp đồng, chứng từ vận chuyển, hồ sơ nhập khẩu, thực hiện quyền giải trình đúng thời hạn và chủ động khiếu nại hoặc khởi kiện khi quyết định xử phạt có căn cứ chưa phù hợp. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Mức phạt và cách giảm nhẹ xử phạt kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc
Xem thêm: Bán hàng online không rõ nguồn gốc xuất xứ bị phạt bao nhiêu tiền?
GIẢI PHÁP ĐÒI LƯƠNG KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ CHẬM TRẢ ĐÚNG LUẬT


