Mua tài sản do trộm cắp mà có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

No Comments

Mua tài sản do trộm cắp mà có không phải trong mọi trường hợp đều dẫn đến trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu người mua nhận thức rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội mà vẫn thực hiện việc mua, nhận giữ hoặc tiếp tục đưa tài sản vào giao dịch, nguy cơ phát sinh trách nhiệm pháp lý là vấn đề cần đặc biệt lưu ý.

Theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là nhận thức của người mua về nguồn gốc tài sản và việc có hay không sự hứa hẹn trước với người thực hiện tội phạm.
Ngoài trách nhiệm hình sự, trường hợp chưa đủ căn cứ cấu thành tội phạm vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định hiện hành. Vì vậy, người mua tài sản cũ, tài sản thanh lý hoặc tài sản không đầy đủ giấy tờ cần thận trọng kiểm tra nguồn gốc trước khi giao dịch.

mua-tai-san-do-trom-cap-can-kiem-tra-ro-nguon-goc-tai-san-truoc-khi-giao-dich-

Mua tài sản do trộm cắp: Cần kiểm tra rõ nguồn gốc tài sản trước khi giao dịch.

Điều kiện để hành vi mua tài sản trộm cắp bị xem xét trách nhiệm hình sự

Việc một người mua phải tài sản sau đó được xác định là tài sản trộm cắp không đồng nghĩa người đó đương nhiên phạm tội. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của hành vi và đánh giá nhận thức thực tế của người mua tại thời điểm giao dịch.

Theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Từ quy định này, khi xem xét một giao dịch mua tài sản trộm cắp, cần chú ý đến hai nội dung chính: người mua có biết rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội hay không và giữa người mua với người thực hiện hành vi phạm tội có sự hứa hẹn, thống nhất từ trước về việc tiêu thụ tài sản hay không.

Người mua phải “biết rõ” tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội

“Biết rõ” là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hành vi có thuộc phạm vi Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 hay không.

Người mua phải có nhận thức rằng tài sản mình tiếp nhận, mua, cất giữ hoặc tiêu thụ có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của người khác. Nếu người mua hoàn toàn không biết nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được vấn đề này thì không thể chỉ dựa vào việc tài sản sau đó bị xác định là tang vật của vụ trộm để mặc nhiên kết luận người mua phạm tội.

Trong thực tế, việc đánh giá một người có “biết rõ” hay không thường được thực hiện dựa trên tổng hợp các tình tiết khách quan của giao dịch. Cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét mức giá, tình trạng giấy tờ, thông tin của người bán, cách thức giao nhận, thời gian giao dịch và những thông tin mà người mua được cung cấp trước hoặc trong khi mua tài sản.

Chẳng hạn, một tài sản có giá trị thị trường cao nhưng được bán với giá thấp bất thường, người bán không cung cấp được giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, không xác định được nguồn gốc hàng hóa hoặc cố tình che giấu danh tính có thể là những tình tiết cần được xem xét.

Tuy nhiên, các dấu hiệu trên không phải những điều kiện cứng mà chỉ cần xuất hiện là có thể kết luận người mua “biết rõ”. Việc xác định nhận thức của người mua vẫn phải dựa trên toàn bộ chứng cứ và hoàn cảnh cụ thể của vụ việc.

tieu-thu-tai-san-pham-toi-biet-ro-nguon-goc-nhung-van-mua-ban-co-the-bi-xu-ly-

Tiêu thụ tài sản phạm tội: Biết rõ nguồn gốc nhưng vẫn mua bán có thể bị xử lý.

Không có sự hứa hẹn trước với người thực hiện hành vi phạm tội

Ngoài yếu tố nhận thức, Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 còn đề cập đến điều kiện người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản không hứa hẹn trước với người thực hiện hành vi phạm tội.

Hứa hẹn trước được hiểu là trường hợp giữa người mua và người thực hiện tội phạm đã có sự bàn bạc, thống nhất hoặc cam kết từ trước về việc tiếp nhận, mua hoặc tiêu thụ tài sản mà người phạm tội dự định chiếm đoạt.

Đây là căn cứ quan trọng để phân biệt hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với trường hợp người mua có thể bị xem xét với vai trò đồng phạm trong chính tội phạm nguồn.

Nếu một người biết trước người khác chuẩn bị thực hiện hành vi trộm cắp và đồng ý nhận mua tài sản sau khi trộm được, hành vi của người này có thể được đánh giá khác với trường hợp chỉ phát sinh việc mua bán sau khi hành vi trộm cắp đã hoàn thành.

Tiếp tục bán tài sản sau khi biết nguồn gốc bất hợp pháp

Trách nhiệm pháp lý không nhất thiết chỉ được xem xét tại thời điểm mua tài sản.

Nếu ban đầu người mua không biết nguồn gốc bất hợp pháp nhưng sau đó nhận được thông tin xác đáng cho thấy tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội, việc tiếp tục bán, chuyển nhượng, cầm cố hoặc đưa tài sản cho người khác có thể làm phát sinh những vấn đề pháp lý mới.

Do đó, khi đã phát hiện hoặc có căn cứ đáng tin cậy về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản, người đang quản lý tài sản nên dừng các giao dịch tiếp theo và chủ động làm việc với cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn.

Giá trị tài sản có quyết định việc người mua bị xử lý hình sự không?

Một trong những vấn đề thường gây nhầm lẫn là quan điểm cho rằng tài sản phải đạt một giá trị nhất định thì người mua mới có thể bị xử lý hình sự. Quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 cần được hiểu đầy đủ hơn.

Khung cơ bản không quy định giá trị tối thiểu của tài sản

Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 không đặt ra một mức giá trị tài sản tối thiểu làm điều kiện bắt buộc để xác định tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Theo đó, nếu có đủ căn cứ xác định người mua biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có và không có sự hứa hẹn trước, việc tài sản có giá trị thấp không tự động loại trừ khả năng bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, người mua không nên cho rằng những tài sản như điện thoại cũ, xe máy cũ, máy tính hoặc đồ điện tử có giá trị không quá lớn thì có thể giao dịch mà không cần quan tâm đến nguồn gốc.

Giá trị tài sản là căn cứ xác định các khung tăng nặng

Mặc dù không phải điều kiện tối thiểu của khung cơ bản, giá trị tài sản, vật phạm pháp và khoản thu lợi bất chính có ý nghĩa trong việc xác định các khung hình phạt tăng nặng được quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Do đó, khi giải quyết vụ việc, việc định giá tài sản và xác định khoản thu lợi bất chính có thể trở thành nội dung quan trọng để xác định khung hình phạt tương ứng.

trach-nhiem-hinh-su-nguoi-mua-co-the-bi-truy-cuu-neu-biet-ro-tai-san-do-pham-toi-ma-co-

Trách nhiệm hình sự: Người mua có thể bị truy cứu nếu biết rõ tài sản do phạm tội mà có.

Mức xử phạt khi mua tài sản do trộm cắp mà có

Tùy vào mức độ và tính chất hành vi, người mua tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Việc phân biệt hai trường hợp phải dựa trên kết quả xác minh cụ thể, đặc biệt là chứng cứ về nhận thức của người mua và những tình tiết khác liên quan đến giao dịch.

Mức phạt hành chính khi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm

Trường hợp mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, có hiệu lực từ ngày 15/12/2025 và thay thế điểm d khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với hành vi này là từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn có thể bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm theo quy định.

Đối với người nước ngoài, khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP còn quy định việc xem xét áp dụng hình thức trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Khung hình phạt theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015

Khi hành vi đã đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, mức hình phạt được xác định theo các khoản tương ứng tại Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Khung cơ bản theo khoản 1: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung theo khoản 2: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi thuộc một trong các trường hợp như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc tái phạm nguy hiểm.

Khung theo khoản 3: Phạt tù từ 07 năm đến 10 năm nếu tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

Khung theo khoản 4: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm nếu tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc số tiền thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên.

Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

Theo khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Bên cạnh đó, tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội còn có thể được xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vật chứng. Trường hợp xác định được chủ sở hữu hợp pháp, tài sản có thể được trả lại sau khi hoàn thành các thủ tục xác minh và xử lý cần thiết.

Người mua cần lưu ý rằng việc tài sản được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp không đồng nghĩa khoản tiền đã thanh toán cho người bán sẽ được hoàn trả ngay. Đây là một trong những thiệt hại thực tế mà người mua tài sản không rõ nguồn gốc có thể phải đối mặt.

Các trường hợp thường gặp khi mua phải tài sản do trộm cắp mà có

Mua xe máy, điện thoại hoặc thiết bị điện tử không có giấy tờ

Xe máy, điện thoại, laptop, máy tính bảng, đồng hồ và nhiều thiết bị điện tử thường được mua bán lại trên thị trường. Do đặc điểm dễ chuyển nhượng và khó kiểm tra nguồn gốc nếu thiếu chứng từ, các giao dịch này cần được thực hiện thận trọng.

Nếu người bán đưa ra mức giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường nhưng không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, người mua nên yêu cầu cung cấp thông tin và tài liệu liên quan trước khi thanh toán.

Những chứng cứ như tin nhắn trao đổi, thông tin tài khoản, chứng từ chuyển tiền, hình ảnh tài sản hoặc giấy mua bán nên được lưu giữ để chứng minh hoàn cảnh giao dịch.

Tiệm cầm đồ hoặc cửa hàng đồ cũ nhận tài sản có nguồn gốc phạm tội

Đối với cơ sở kinh doanh cầm đồ, thu mua tài sản cũ, số lượng giao dịch lớn và diễn ra thường xuyên khiến yêu cầu kiểm soát nguồn gốc tài sản trở nên đặc biệt quan trọng.

Nếu hoạt động chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản có nguồn gốc từ tội phạm được xác định có tính chất chuyên nghiệp hoặc có tổ chức thì có thể phát sinh tình tiết định khung theo khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Do đó, cơ sở kinh doanh nên yêu cầu người giao tài sản cung cấp thông tin nhận dạng, giấy tờ cần thiết, lưu lại dữ liệu giao dịch và xây dựng quy trình kiểm tra nguồn gốc tài sản trước khi tiếp nhận.

Người bán tài sản chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thuộc phạm vi điều luật quy định.

Trong đó, khoản 2 Điều 12 có đề cập đến Điều 173 về tội trộm cắp tài sản trong trường hợp thuộc mức độ rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Nếu người bán không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì chưa đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì vấn đề nguồn gốc tài sản vẫn có thể được xem xét. Người mua biết rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi trộm cắp vẫn có thể bị đánh giá trách nhiệm độc lập theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc quy định xử phạt hành chính nếu hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Người mua cần làm gì khi phát hiện tài sản có nguồn gốc từ trộm cắp?

Ngừng ngay các giao dịch liên quan đến tài sản

Khi nhận thấy tài sản mình đang sở hữu hoặc quản lý có dấu hiệu liên quan đến một vụ trộm cắp, người mua nên tạm dừng việc sử dụng, bán, chuyển nhượng, cầm cố hoặc đưa tài sản cho người khác.

Việc tiếp tục giao dịch sau khi đã biết nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản có thể làm phát sinh thêm những vấn đề pháp lý.

Chủ động trình báo và giao nộp tài sản

Người mua có thể chủ động liên hệ cơ quan công an có thẩm quyền để trình báo vụ việc và thực hiện việc giao nộp tài sản theo hướng dẫn.

Khi trình báo, cần cung cấp chính xác thông tin về người bán, thời điểm giao dịch, địa điểm mua, giá mua, phương thức thanh toán và quá trình sử dụng hoặc quản lý tài sản.

Bảo quản tài liệu chứng minh quá trình mua tài sản

Các giấy tờ và dữ liệu liên quan đến giao dịch cần được lưu giữ nguyên trạng. Đây có thể là căn cứ quan trọng để làm rõ việc người mua có biết nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản tại thời điểm giao dịch hay không.

Chủ động khắc phục hậu quả và hợp tác với cơ quan có thẩm quyền

Nếu vụ việc đủ căn cứ xử lý hình sự, thái độ hợp tác, thành khẩn khai báo và việc chủ động khắc phục hậu quả có thể được xem xét theo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Cụ thể, điểm r khoản 1 Điều 51 quy định tự thú là tình tiết giảm nhẹ; điểm s khoản 1 Điều 51 quy định thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; điểm b khoản 1 Điều 51 quy định tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ theo điều kiện luật định.

Những rủi ro pháp lý khi mua tài sản không rõ nguồn gốc

Rủi ro bị xem xét về yếu tố “biết rõ”

Giá bán thấp bất thường, giấy tờ không đầy đủ, thông tin người bán không rõ ràng hoặc giao dịch được thực hiện trong hoàn cảnh bất thường có thể trở thành những tình tiết được xem xét khi đánh giá nhận thức của người mua.

Tuy nhiên, từng dấu hiệu riêng lẻ không đồng nghĩa với việc người mua chắc chắn biết tài sản có nguồn gốc phạm tội. Việc đánh giá phải dựa trên tổng thể chứng cứ của vụ việc.

Rủi ro phát sinh trách nhiệm khi bán lại tài sản

Nếu sau khi biết tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội mà người mua vẫn bán lại, hành vi này có thể được xem xét là hành vi tiêu thụ tài sản.

Do đó, người mua không nên tìm cách chuyển tài sản cho người khác nhằm tránh việc phải giao nộp hoặc che giấu nguồn gốc tài sản.

Rủi ro đối với hoạt động kinh doanh đồ cũ

Các cơ sở cầm đồ, mua bán tài sản đã qua sử dụng nên chủ động xây dựng quy trình kiểm tra nguồn gốc tài sản, lưu trữ hồ sơ giao dịch và thông tin của người giao tài sản.

Đây là biện pháp cần thiết để giảm thiểu nguy cơ phát sinh tranh chấp và tạo cơ sở giải trình khi cơ quan chức năng tiến hành xác minh.

Dịch vụ luật sư tư vấn, bào chữa liên quan đến mua tài sản do trộm cắp mà có

Chuyên tư vấn Luật cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến hành vi mua, chứa chấp và tiêu thụ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội.

Phân tích hồ sơ và xác định dấu hiệu pháp lý

Luật sư có thể nghiên cứu tài liệu, diễn biến giao dịch và các chứng cứ liên quan để đối chiếu với những dấu hiệu “biết rõ” và “không hứa hẹn trước” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Đánh giá nguy cơ và khung hình phạt

Trên cơ sở giá trị tài sản, số tiền thu lợi bất chính và tình tiết liên quan, luật sư có thể tư vấn về các vấn đề pháp lý cần lưu ý và khung hình phạt tương ứng nếu có căn cứ xử lý hình sự.

Hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ trình báo

Trường hợp người mua phát hiện tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp, Chuyên tư vấn Luật có thể hỗ trợ chuẩn bị nội dung trình báo, tường trình, tài liệu liên quan và tư vấn phương án giao nộp tài sản.

Hỗ trợ khi làm việc với cơ quan có thẩm quyền

Luật sư có thể tham gia cùng khách hàng trong quá trình làm việc, lấy lời khai và giải trình với cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật, qua đó hỗ trợ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Tư vấn phòng ngừa rủi ro cho cửa hàng mua bán đồ cũ

Đối với tiệm cầm đồ, cửa hàng thu mua đồ cũ hoặc cơ sở kinh doanh tài sản đã qua sử dụng, luật sư có thể tư vấn xây dựng quy trình kiểm tra, tiếp nhận, lập hồ sơ và lưu trữ thông tin về nguồn gốc tài sản.

Quý khách có nhu cầu được đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.

Câu hỏi thường gặp về mua tài sản do trộm cắp mà có

Mua đồ nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp có bị xử lý hình sự không?

Theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện hành vi phải biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có. Nếu người mua không biết và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được nguồn gốc phạm tội của tài sản thì chưa đủ căn cứ chỉ dựa vào việc tài sản là đồ trộm cắp để kết luận người mua phạm tội.

Mua tài sản trộm cắp giá trị nhỏ có thể bị phạt tù không?

Có thể nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 không đặt ra giá trị tài sản tối thiểu đối với khung hình phạt cơ bản.

Cửa hàng cầm đồ mua nhầm tài sản trộm cắp xử lý thế nào?

Tùy thuộc vào chứng cứ của vụ việc, cửa hàng có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc bị xử phạt hành chính nếu hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trường hợp có tính chất chuyên nghiệp có thể thuộc tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 323.

Đã mua phải tài sản trộm cắp cần làm gì?

Người mua nên ngừng sử dụng, chuyển nhượng hoặc cất giấu tài sản; đồng thời chủ động trình báo, giao nộp tài sản và cung cấp đầy đủ thông tin về giao dịch cho cơ quan có thẩm quyền.

Mức phạt tù cao nhất của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là bao nhiêu?

Theo khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, mức phạt tù cao nhất là từ 10 năm đến 15 năm đối với trường hợp tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên.

Người bán chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người mua có bị xử lý không?

Có thể bị xem xét tùy thuộc vào nhận thức của người mua và các tình tiết cụ thể. Việc người bán chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự không đương nhiên loại trừ việc xem xét nguồn gốc tài sản và trách nhiệm pháp lý của người mua theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Mua tài sản do trộm cắp mà có có thể dẫn đến nhiều rủi ro pháp lý nếu người mua biết rõ nguồn gốc tài sản nhưng vẫn tiếp tục tiếp nhận hoặc tiêu thụ. Để hạn chế nguy cơ phát sinh trách nhiệm, người mua nên kiểm tra giấy tờ, thông tin người bán và nguồn gốc tài sản trước khi giao dịch; trường hợp phát hiện nghi vấn cần dừng giao dịch, lưu giữ chứng cứ và chủ động làm việc với cơ quan có thẩm quyền. Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Mua tài sản do trộm cắp mà có: Hành vi này có phạm tội không?

Xem thêm:


0 comments

Đăng nhận xét

My maps