Lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng là hành vi có thể xuất hiện trong nhiều tình huống quản lý tài chính và tài sản tại doanh nghiệp. Tùy thuộc vào vị trí của người thực hiện, nguồn gốc khoản tiền, phương thức nhận và sử dụng tiền, cũng như ý thức chiếm đoạt, vụ việc có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý khác nhau.
Trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng tiền công ty vào mục đích cá nhân
Để xác định một người có thể bị xử lý hình sự hay không, doanh nghiệp cần phân tích toàn bộ quá trình quản lý và sử dụng khoản tiền thay vì chỉ căn cứ vào kết quả cuối cùng là tiền của công ty đã được dùng cho mục đích cá nhân. Trong đó, mối quan hệ giữa người thực hiện với tài sản, quyền hạn được giao và mục đích thực tế khi sử dụng tiền là những yếu tố đặc biệt quan trọng.
Nếu người thực hiện có quyền quản lý tài sản và lợi dụng chính chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt thì cần xem xét quy định về tội tham ô tài sản. Trường hợp tài sản được giao cho người đó một cách hợp pháp nhưng sau đó người này phát sinh ý định chiếm đoạt thì cần đối chiếu với quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nếu người đó chỉ sử dụng tài sản trái phép nhằm vụ lợi mà không có mục đích chiếm đoạt thì cần xem xét Điều 177 Bộ luật Hình sự. Trong khi đó, Điều 176 chỉ đặt ra trong những trường hợp tài sản thuộc phạm vi tài sản bị giao nhầm hoặc tài sản do người đó tìm được, bắt được nhưng cố tình không trả hoặc không giao nộp.
Người có chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tiền công ty có thể bị xử lý về tội tham ô tài sản
Tội tham ô tài sản được xem xét khi người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí được giao để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Trong môi trường doanh nghiệp, chủ thể thực hiện hành vi không nhất thiết chỉ là giám đốc hay người đứng đầu công ty. Tùy cơ cấu tổ chức và phạm vi công việc được phân công, giám đốc, kế toán trưởng, kế toán, thủ quỹ hoặc người khác được giao trực tiếp quản lý tiền và tài sản của doanh nghiệp đều có thể thuộc nhóm chủ thể cần được xem xét.
Điểm quan trọng cần xác định là giữa chức vụ, quyền hạn của người thực hiện và tài sản bị chiếm đoạt phải có mối liên hệ nhất định. Nói cách khác, người đó phải có trách nhiệm quản lý hoặc có quyền hạn nhất định đối với tài sản và lợi dụng vị trí này để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Đây là cơ sở để phân biệt trường hợp tham ô tài sản với những hành vi chiếm đoạt khác.
Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015, tội tham ô tài sản được xác lập khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên. Trường hợp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng người thực hiện trước đó đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, hoặc đã bị kết án về một trong các tội thuộc Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự mà chưa được xóa án tích thì vẫn có thể thuộc trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đáng chú ý, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 được bổ sung năm 2017 đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Vì vậy, trường hợp người quản lý tại công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tiền mà mình có trách nhiệm quản lý cũng cần được xem xét theo quy định này.
Theo khoản 2 Điều 352 Bộ luật Hình sự 2015, người có chức vụ là người được bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng hoặc bằng hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đó. Vì vậy, khi đánh giá một người có thuộc chủ thể của tội tham ô tài sản hay không, doanh nghiệp cần kiểm tra cụ thể chức danh, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi tài sản mà người đó được giao quản lý thay vì chỉ dựa vào tên gọi chức vụ.
Chiếm giữ tiền công ty không hoàn trả có thể phát sinh trách nhiệm hình sự
Một hướng xử lý khác cần được phân biệt là trường hợp người thực hiện không có chức vụ, quyền hạn quản lý tài sản nhưng lại cố tình giữ tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình và không hoàn trả sau khi chủ sở hữu yêu cầu.
Tình huống này có thể phát sinh khi tiền của doanh nghiệp được chuyển nhầm vào tài khoản cá nhân hoặc một người được giao tiền để thực hiện công việc, nhận tiền tạm ứng, tiền công tác, tiền quỹ nhưng sau đó không quyết toán, không hoàn lại phần tiền còn thừa mặc dù doanh nghiệp đã nhiều lần yêu cầu. Khi đó, cần căn cứ vào nguồn gốc tài sản và diễn biến cụ thể để xác định có thuộc trường hợp của tội chiếm giữ trái phép tài sản hay không.
Theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người cố tình không trả lại tài sản cho chủ sở hữu trong trường hợp tài sản được giao nhầm hoặc không giao nộp tài sản cho cơ quan có trách nhiệm trong trường hợp tài sản do mình tìm được, mà tài sản có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Khoản 2 Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 cũng quy định khung hình phạt nặng hơn đối với trường hợp tài sản bị chiếm giữ có giá trị từ 200.000.000 đồng trở lên. Khác với tội tham ô tài sản, chủ thể của tội chiếm giữ trái phép tài sản không bắt buộc phải là người có chức vụ hoặc quyền hạn quản lý tài sản. Vấn đề trọng tâm là xác định nguồn gốc tài sản có thuộc trường hợp Điều 176 quy định hay không và người đang giữ tài sản có cố ý không hoàn trả sau khi được yêu cầu hay không.
Không phải mọi trường hợp sử dụng tiền công ty sai mục đích đều là tội phạm
Doanh nghiệp cần tránh quan điểm cho rằng cứ lấy tiền công ty dùng vào việc cá nhân thì đương nhiên cấu thành tội phạm. Trên thực tế, có những trường hợp hành vi chưa đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội tham ô tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng trái phép tài sản hoặc một tội danh khác. Khi đó, vụ việc có thể được giải quyết theo trách nhiệm dân sự, trách nhiệm vật chất của người lao động hoặc trách nhiệm quản trị doanh nghiệp.
Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi xâm phạm tài sản, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của người khác và gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 đồng thời quy định nguyên tắc thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, đồng thời cho phép các bên thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường.
Nếu người sử dụng tiền là người lao động của doanh nghiệp, việc xác định trách nhiệm vật chất còn phải căn cứ vào Bộ luật Lao động và các quy định hướng dẫn. Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định trình tự xử lý trường hợp người lao động làm mất tài sản được giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động. Những trường hợp bồi thường khác được xem xét theo Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật có liên quan.
Đối với người quản lý doanh nghiệp, trách nhiệm còn được đặt ra trên cơ sở nghĩa vụ quản trị. Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 yêu cầu thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty cổ phần phải thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích hợp pháp tối đa của công ty.
Hành vi lấy tiền công ty dùng việc riêng có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự, dân sự hoặc trách nhiệm vật chất tùy trường hợp.
Phân biệt các trường hợp sử dụng tiền công ty để xác định hướng xử lý
Khi phát hiện dòng tiền doanh nghiệp được sử dụng không đúng mục đích, chủ doanh nghiệp nên phân loại vụ việc dựa trên nguồn gốc tài sản, vị trí của người thực hiện và mục đích của hành vi. Việc phân loại này giúp hạn chế tình trạng áp dụng sai tội danh hoặc lựa chọn sai phương thức xử lý.
Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí được giao để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý thì cần xem xét Điều 352 và khoản 1, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự, với dấu hiệu trọng tâm là có chức vụ, quyền hạn, có trách nhiệm quản lý tài sản và có hành vi chiếm đoạt.
Nếu người thực hiện ban đầu nhận tài sản hợp pháp thông qua hợp đồng rồi sau đó mới phát sinh hành vi chiếm đoạt, doanh nghiệp cần đối chiếu Điều 175 Bộ luật Hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Trường hợp người thực hiện vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của công ty nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt thì cần xem xét Điều 177 Bộ luật Hình sự. Trong khi đó, Điều 176 được xem xét khi tài sản thuộc trường hợp được giao nhầm hoặc người thực hiện tìm được, bắt được nhưng cố tình không trả hoặc không giao nộp theo quy định.
Nếu hành vi sử dụng tiền sai mục đích chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì doanh nghiệp có thể yêu cầu hoàn trả, bồi thường thiệt hại và xử lý nội bộ dựa trên Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật lao động hoặc pháp luật doanh nghiệp tùy từng quan hệ pháp lý cụ thể.
Nghĩa vụ tách biệt tài sản và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp
Việc đánh giá hành vi sử dụng tiền công ty vào mục đích cá nhân còn phải đặt trong bối cảnh loại hình doanh nghiệp. Không nên mặc nhiên áp dụng một cách giống nhau đối với tất cả doanh nghiệp vì chế độ tài sản và tư cách pháp lý của từng loại hình có sự khác biệt.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và có khối tài sản độc lập với tài sản của thành viên, cổ đông theo quy định pháp luật. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Do đó, khi phát hiện một khoản tiền doanh nghiệp bị sử dụng cho mục đích cá nhân, cần xác định rõ khoản tiền đó thuộc tài sản của doanh nghiệp, ai có quyền quản lý, ai có quyền quyết định việc sử dụng và việc sử dụng có phù hợp với thẩm quyền được giao hay không.
Trách nhiệm trung thực và cẩn trọng của người đại diện theo pháp luật
Theo điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng và tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định người đại diện theo pháp luật phải trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không được lợi dụng địa vị, chức vụ, sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh hoặc tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi hay phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
Khoản 2 Điều 13 tiếp tục quy định người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp do vi phạm các trách nhiệm được quy định tại khoản 1. Vì vậy, trường hợp người đại diện theo pháp luật tự ý rút hoặc sử dụng tiền công ty cho mục đích cá nhân trái với thẩm quyền, Điều lệ, nghị quyết hoặc lợi ích của doanh nghiệp thì trách nhiệm phải được xem xét dựa trên hành vi cụ thể, phạm vi quyền hạn và thiệt hại thực tế phát sinh.
Trách nhiệm bồi thường của người quản lý khi sử dụng tài sản công ty trái quy định
Đối với công ty cổ phần, khoản 1 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác phải thực hiện quyền, nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng và trung thành với lợi ích của công ty, cổ đông; đồng thời không được lạm dụng địa vị, chức vụ hoặc sử dụng tài sản của công ty để tư lợi.
Nếu người quản lý vi phạm những nghĩa vụ này, khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định họ phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới trong việc đền bù lợi ích bị mất, hoàn trả lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty cũng như bên thứ ba.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác cần được xác định dựa trên các quy định riêng về cơ cấu quản trị của công ty trách nhiệm hữu hạn, Điều lệ doanh nghiệp và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật nếu người đó đồng thời giữ chức danh này.
Bảo toàn chứng từ, sao kê ngân hàng và dữ liệu giao dịch là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp lựa chọn hướng xử lý phù hợp.
Rủi ro thuế khi tiền công ty bị sử dụng cho mục đích cá nhân
Việc tiền doanh nghiệp được sử dụng cho mục đích cá nhân không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đương nhiên thực hiện hành vi trốn thuế. Rủi ro thuế xuất hiện khi khoản tiền này được hạch toán, kê khai hoặc xác định nghĩa vụ thuế không đúng bản chất giao dịch.
Ví dụ, một khoản chi phục vụ lợi ích cá nhân lại được ghi nhận như chi phí của doanh nghiệp, doanh nghiệp sử dụng chứng từ không hợp pháp hoặc cố tình che giấu giao dịch nhằm làm giảm số thuế phải nộp. Khi đó, ngoài vấn đề thu hồi tiền và trách nhiệm của người sử dụng tiền, doanh nghiệp còn cần rà soát lại hồ sơ kế toán và nghĩa vụ thuế liên quan.
Từ ngày 01/7/2026, Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực và thay thế khung quản lý thuế trước đó theo quy định chuyển tiếp của Luật. Vì vậy, những khoản chi phát sinh hoặc được hạch toán trong giai đoạn áp dụng pháp luật mới cần được doanh nghiệp kiểm tra theo quy định tương ứng.
Nếu khoản tiền phục vụ mục đích cá nhân bị ghi nhận sai thành chi phí của doanh nghiệp, hậu quả về thuế sẽ phụ thuộc vào phương thức hạch toán và kê khai cụ thể. Có trường hợp chỉ dẫn đến khai sai hoặc làm thiếu số thuế phải nộp; nhưng cũng có trường hợp hành vi đáp ứng dấu hiệu trốn thuế theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025. Do đó, không nên đánh đồng mọi khoản tiền công ty được sử dụng sai mục đích với hành vi trốn thuế.
Điều 44 Luật Quản lý thuế 2025 quy định nguyên tắc xử phạt và mức xử phạt đối với từng nhóm hành vi. Theo điểm b khoản 3 Điều 44, mức phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế khai tăng trong trường hợp được miễn, giảm, hoàn, không thu được áp dụng đối với các hành vi thuộc phạm vi điều luật. Đối với hành vi trốn thuế quy định tại khoản 4 Điều 45, điểm c khoản 3 Điều 44 quy định mức phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn.
Các bước doanh nghiệp nên thực hiện khi phát hiện tiền công ty bị sử dụng sai mục đích
Khi phát hiện khoản tiền của doanh nghiệp bị lấy và sử dụng cho mục đích cá nhân, doanh nghiệp không nên vội vàng xử lý khi chưa xác minh đầy đủ. Việc thực hiện đúng trình tự giúp doanh nghiệp vừa bảo toàn chứng cứ, vừa có cơ sở lựa chọn giữa yêu cầu hoàn trả, xử lý nội bộ, khởi kiện dân sự hoặc tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Trước tiên, doanh nghiệp cần xác định diễn biến của dòng tiền và phạm vi quyền quản lý tài sản của người thực hiện. Việc xác minh ban đầu càng đầy đủ thì quá trình đánh giá trách nhiệm pháp lý càng có cơ sở.
Doanh nghiệp có thể thực hiện các công việc sau:
Đối chiếu sổ sách kế toán, sao kê tài khoản ngân hàng, phiếu thu, phiếu chi, ủy nhiệm chi, chứng từ kế toán và dữ liệu phê duyệt giao dịch để xác định khoản tiền đã được rút hoặc chuyển đi, thời điểm giao dịch và người phê duyệt.
Kiểm tra căn cứ xác lập quyền tiếp cận hoặc quản lý tiền của người thực hiện thông qua Điều lệ công ty, quy chế tài chính, quyết định bổ nhiệm, hợp đồng lao động, giấy ủy quyền, quy trình tạm ứng hoặc quyết định chi tiền.
Lập biên bản làm việc và yêu cầu người có liên quan giải trình bằng văn bản về lý do nhận tiền, mục đích sử dụng, số tiền đã sử dụng, số tiền còn lại và khả năng hoàn trả.
Bảo quản dữ liệu điện tử cùng chứng từ gốc như email, tin nhắn công việc, dữ liệu kế toán, lịch sử phê duyệt giao dịch và tài liệu ngân hàng. Doanh nghiệp không nên tự ý chỉnh sửa dữ liệu gốc sau khi phát hiện vụ việc.
Xác định thiệt hại thực tế, bao gồm số tiền chưa được hoàn trả và các thiệt hại khác có căn cứ phát sinh từ việc tài sản bị sử dụng trái quy định.
Sau khi hoàn tất việc thu thập và xác minh, doanh nghiệp mới nên lựa chọn hướng xử lý. Nếu người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý thì có thể xem xét Điều 353 Bộ luật Hình sự. Nếu người đó nhận tài sản hợp pháp thông qua hợp đồng rồi sau đó thực hiện hành vi chiếm đoạt thì cần đối chiếu Điều 175.
Trường hợp người thực hiện chỉ sử dụng trái phép tài sản vì vụ lợi nhưng không nhằm chiếm đoạt thì cần xem xét Điều 177. Điều 176 chỉ phù hợp với trường hợp tài sản bị giao nhầm hoặc do người đó tìm được, bắt được rồi cố tình không trả hoặc không giao nộp. Nếu không đáp ứng dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể xử lý theo hướng bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Dân sự 2015 và pháp luật lao động hiện hành.
Thông báo vi phạm, yêu cầu hoàn trả và bồi thường thiệt hại
Sau khi có kết quả xác minh, doanh nghiệp có thể gửi văn bản yêu cầu người có liên quan giải trình, hoàn trả khoản tiền đã sử dụng, chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại nếu có đầy đủ căn cứ.
Đối với người quản lý doanh nghiệp, trách nhiệm cần được xem xét đồng thời theo Luật Doanh nghiệp, Điều lệ và các quy chế quản trị nội bộ phù hợp với loại hình công ty. Đối với công ty cổ phần, khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 đặt ra trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới trong việc đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường thiệt hại khi người quản lý vi phạm nghĩa vụ của mình.
Nếu người thực hiện hành vi là người lao động, doanh nghiệp cần xem xét đồng thời quan hệ lao động, trách nhiệm vật chất và các quy định nội bộ hợp pháp trước khi áp dụng biện pháp xử lý. Việc yêu cầu bồi thường cũng cần dựa trên mức thiệt hại thực tế và căn cứ pháp lý tương ứng.
Đối với trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Do đó, doanh nghiệp cần lưu ý thời điểm phát hiện hành vi và thiệt hại để bảo đảm quyền yêu cầu được thực hiện trong thời hiệu luật định.
Tố giác hành vi có dấu hiệu tham ô hoặc chiếm giữ trái phép tài sản
Trong trường hợp tài liệu thu thập được cho thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, doanh nghiệp có thể thực hiện quyền tố giác về tội phạm và gửi kèm các tài liệu, chứng cứ liên quan đến cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Đây là cơ sở để doanh nghiệp hoặc cá nhân có thông tin về vụ việc cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng để được tiếp nhận, xác minh và giải quyết theo trình tự pháp luật.
Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, mọi tố giác, tin báo về tội phạm phải được tiếp nhận đầy đủ và giải quyết kịp thời; cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thuộc các cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
Hồ sơ tố giác của doanh nghiệp nên trình bày đầy đủ những thông tin cần thiết, bao gồm:
Thông tin về doanh nghiệp và người đại diện;
Thông tin về người bị phản ánh cùng chức vụ, nhiệm vụ tại công ty;
Quá trình người đó được giao quản lý hoặc tiếp cận khoản tiền;
Số tiền và những giao dịch có dấu hiệu bất thường;
Thời điểm doanh nghiệp phát hiện sự việc;
Nội dung giải trình của người có liên quan nếu doanh nghiệp đã tiến hành làm việc;
Số tiền đã được hoàn trả và số tiền còn thiếu;
Chứng từ kế toán, tài liệu ngân hàng, dữ liệu điện tử và các chứng cứ khác;
Đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi tố giác được thực hiện trực tiếp, cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và ghi vào sổ tiếp nhận. Trường hợp tố giác được gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc phương tiện thông tin khác thì thông tin cũng phải được ghi nhận theo quy định.
Dịch vụ luật sư tư vấn xử lý hành vi lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng tại Long Phan PMT
Việc xử lý hành vi lấy tiền doanh nghiệp sử dụng vào mục đích cá nhân cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá toàn diện cả chứng cứ, quyền quản lý tài sản, mục đích sử dụng tiền và hậu quả thực tế. Long Phan PMT có thể hỗ trợ doanh nghiệp rà soát hồ sơ, xác định hướng xử lý và chuẩn bị các tài liệu cần thiết trong quá trình giải quyết vụ việc.
Các nội dung hỗ trợ có thể bao gồm:
Rà soát chứng từ và đối chiếu sổ sách kế toán để xác định giá trị tài sản đã bị chiếm đoạt hoặc chiếm giữ;
Phân tích vụ việc để đánh giá khả năng thuộc tội tham ô tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản hoặc chỉ là tranh chấp, trách nhiệm dân sự nội bộ;
Soạn thảo đơn tố giác tội phạm hoặc đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại;
Đại diện doanh nghiệp làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc tham gia tố tụng tại Tòa án;
Tư vấn việc điều chỉnh sổ sách kế toán và nghĩa vụ thuế có liên quan sau khi vụ việc được xử lý.
Doanh nghiệp cần đánh giá vụ việc cụ thể dựa trên toàn bộ hồ sơ và chứng cứ thực tế thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi của hành vi. Việc xác định đúng bản chất pháp lý ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn được phương thức xử lý phù hợp, đồng thời hạn chế nguy cơ bỏ sót chứng cứ hoặc áp dụng không đúng căn cứ pháp luật.
Một số câu hỏi thường gặp khi phát hiện tiền công ty bị sử dụng cho việc riêng
Giám đốc dùng tiền công ty cho mục đích cá nhân thì doanh nghiệp xử lý như thế nào?
Căn cứ khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp có quyền yêu cầu giám đốc hoàn trả lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại nếu có căn cứ xác định người quản lý vi phạm nghĩa vụ của mình. Nếu hành vi đồng thời đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội tham ô tài sản theo khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 thì doanh nghiệp có thể thực hiện quyền tố giác đến cơ quan điều tra để xem xét trách nhiệm hình sự, đồng thời yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường theo quy định.
Rút tiền công ty sai mục đích có ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế không?
Có thể phát sinh rủi ro thuế nếu khoản tiền sử dụng cho mục đích cá nhân được hạch toán hoặc kê khai không đúng bản chất giao dịch. Theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025, nếu hành vi thuộc nhóm được xác định là trốn thuế thì có thể bị xử phạt theo điểm c khoản 3 Điều 44, với mức phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn, bên cạnh nghĩa vụ về số thuế phải nộp và tiền chậm nộp theo quy định.
Doanh nghiệp có thời hạn bao lâu để khởi kiện yêu cầu bồi thường?
Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Doanh nghiệp cần căn cứ vào bản chất quan hệ pháp luật cụ thể để xác định đúng thời hiệu áp dụng.
Sau khi doanh nghiệp tố giác, cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong bao lâu?
Việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm được thực hiện theo trình tự của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Hồ sơ cần cung cấp đầy đủ thông tin về người liên quan, dòng tiền, giao dịch, chứng từ và các tài liệu chứng minh để cơ quan có thẩm quyền có cơ sở kiểm tra, xác minh theo quy định.
Lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng không phải trong mọi trường hợp đều dẫn đến trách nhiệm hình sự, nhưng hành vi này có thể làm phát sinh nhiều dạng trách nhiệm pháp lý khác nhau tùy thuộc vào tính chất, mức độ và hoàn cảnh cụ thể. Doanh nghiệp cần phân biệt giữa hành vi tham ô tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng trái phép tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản với trường hợp chỉ phát sinh nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường thiệt hại. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần kiểm tra việc hạch toán, kê khai để hạn chế rủi ro về thuế khi dòng tiền bị sử dụng sai bản chất.
Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Hướng dẫn xử lý nhân viên lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng đúng luật





