Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay không phải trong mọi trường hợp đều được tính một cách máy móc từ ngày khoản vay chuyển sang quá hạn. Trong các vụ việc có tài sản thế chấp, thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ tài sản thực sự bị xâm phạm có thể xuất hiện sau thời điểm bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ khá lâu. Vì vậy, việc xác định đúng văn bản, sự kiện hoặc hành vi làm phát sinh quyền khởi kiện có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Bản án số 116/2026/KDTM-PT ngày 06/4/2026 của Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng là trường hợp điển hình cho thấy chỉ một sai sót trong việc lựa chọn mốc thời hiệu cũng có thể dẫn tới quyết định đình chỉ không chính xác và buộc cấp phúc thẩm phải hủy một phần bản án để giải quyết lại.
Phân tích Bản án 116/2026/KDTM-PT và vấn đề xác định mốc thời hiệu
Bản án số 116/2026/KDTM-PT ngày 06/4/2026 của Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng giải quyết vụ việc phát sinh đồng thời từ hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hoạt động xử lý tài sản bảo đảm và hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. Mặc dù vụ án có nhiều quan hệ pháp luật đan xen, vấn đề có tính chất quyết định đối với yêu cầu của nguyên đơn lại nằm ở việc xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện.
Theo diễn biến vụ án, ông Lưu Thanh Q và bà Nguyễn Thị H sử dụng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm nghĩa vụ vay vốn của Công ty A1 tại Ngân hàng S1. Trong hợp đồng thế chấp, giá trị tài sản được xác định là 280 triệu đồng. Sau đó, người đại diện của Công ty A1 qua đời và khoản vay rơi vào tình trạng quá hạn từ tháng 09/2012.
Trong quá trình giải quyết nghĩa vụ, ông Q nhiều lần đề nghị được thanh toán 280 triệu đồng tiền gốc cùng phần lãi phát sinh nhằm thực hiện nghĩa vụ thay cho bên vay và yêu cầu ngân hàng giải chấp, trả lại tài sản. Tuy nhiên, Ngân hàng S1 không chấp thuận phương án này vì tổng dư nợ của Công ty A1 cao hơn nhiều so với số tiền mà ông Q đề nghị thanh toán.
Sau đó, ngân hàng tiến hành các bước liên quan đến niêm yết, thu giữ và xử lý tài sản thế chấp thông qua hình thức bán đấu giá công khai tại Công ty Đ1. Ông Lê Thế T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc K trở thành người trúng đấu giá và đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính liên quan đến tài sản.
Trong vụ kiện, ông Q và bà H yêu cầu được thanh toán thay khoản tiền 280 triệu đồng cùng lãi để lấy lại tài sản thế chấp. Đồng thời, nguyên đơn cho rằng quá trình thu giữ cũng như bán đấu giá tài sản của ngân hàng có những nội dung không phù hợp với hợp đồng và quy định pháp luật.
Phía Ngân hàng S1 khẳng định hoạt động thu giữ, xử lý và bán đấu giá tài sản được thực hiện đúng trình tự, đồng thời đề nghị Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Ở một quan hệ pháp luật khác trong cùng vụ án, bà K và những người thừa kế của ông T1 có yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vì cho rằng việc mua tài sản được thực hiện ngay tình và đúng trình tự pháp luật.
Tại bản án sơ thẩm ngày 03/09/2025, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng yêu cầu khởi kiện của ông Q và bà H đã hết thời hiệu. Vì vậy, Tòa án đình chỉ giải quyết phần yêu cầu này. Trong khi đó, yêu cầu độc lập liên quan đến việc công nhận hợp đồng mua bán tài sản đấu giá của bên trúng đấu giá được chấp nhận.
Không đồng ý với quyết định trên, ông Q thực hiện quyền kháng cáo.
Khi xem xét vụ án, cấp phúc thẩm đã chấp nhận một phần kháng cáo, hủy phần bản án sơ thẩm liên quan đến quyết định đình chỉ yêu cầu của ông Q và bà H, sau đó chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Điểm khác biệt giữa cách xác định thời hiệu của cấp sơ thẩm và phúc thẩm
Một trong những vấn đề quan trọng nhất của vụ án nằm ở việc hai cấp xét xử lựa chọn hai thời điểm khác nhau để xác định ngày quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm.
Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng Công văn số 2841/2018/CV-TGĐ ngày 08/8/2018 của Ngân hàng S1 làm căn cứ tính thời hiệu. Nội dung văn bản thể hiện ngân hàng không đồng ý với phương án của ông Q và bà H về việc thanh toán 280.000.000 đồng cùng lãi để yêu cầu giải chấp tài sản.
Từ mốc ngày 08/8/2018, cấp sơ thẩm áp dụng Điều 155 và Điều 427 Bộ luật Dân sự 2005, theo đó thời hiệu khởi kiện về hợp đồng được xác định là 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Với cách tính này, thời hiệu đã kết thúc trong năm 2020, trong khi nguyên đơn đến năm 2022 mới nộp đơn.
Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng yêu cầu đã hết thời hiệu và quyết định đình chỉ giải quyết.
Tuy nhiên, cấp phúc thẩm không đồng tình với cách đánh giá trên. Theo Hội đồng xét xử phúc thẩm, việc chỉ tách riêng văn bản năm 2018 khỏi toàn bộ quá trình trao đổi, xử lý khoản nợ và tài sản bảo đảm chưa phản ánh đầy đủ thời điểm quyền đối với tài sản của nguyên đơn thực sự bị tác động.
Đáng chú ý, sau văn bản năm 2018, Ngân hàng S1 còn ban hành Thông báo số 861/2020/TB-SHB ngày 04/3/2020, yêu cầu thanh toán nghĩa vụ hoặc bàn giao tài sản để tiến hành xử lý. Đây là văn bản thể hiện trực tiếp hơn ý chí thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng.
Cấp phúc thẩm xác định thông báo ngày 04/3/2020 mới là văn bản có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định thời điểm phát sinh quyền khởi kiện. Do nguyên đơn nộp đơn ngày 26/4/2022 nên vẫn còn trong thời hiệu 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015.
Cách xác định này đồng thời phù hợp với Khoản 1 Điều 154 Bộ luật Dân sự 2015 về nguyên tắc tính thời hiệu từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Như vậy, sai sót của bản án sơ thẩm không chỉ nằm ở việc lựa chọn một văn bản chưa phản ánh đầy đủ diễn biến tranh chấp mà còn liên quan đến việc áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 để xác định thời hiệu. Việc đánh giá không toàn diện chuỗi chứng cứ đã dẫn đến hậu quả đình chỉ yêu cầu khởi kiện trong khi theo cách xác định của cấp phúc thẩm, quyền khởi kiện vẫn còn.
Khoản vay quá hạn chưa chắc là mốc bắt đầu tính thời hiệu tranh chấp thế chấp.
Nguyên tắc xác định thời hiệu đối với hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp
Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Quy định này cho thấy thời hiệu không nhất thiết được bắt đầu vào ngày ký hợp đồng, ngày khoản vay đến hạn hoặc ngày khoản vay bị chuyển thành nợ quá hạn.
Điều cần xác định là thời điểm xuất hiện hành vi xâm phạm quyền cụ thể mà từ đó chủ thể có quyền nhận biết hoặc buộc phải nhận biết rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình đang bị ảnh hưởng.
Khoản 1 Điều 154 Bộ luật Dân sự 2015 tiếp tục đặt ra nguyên tắc xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu. Khi áp dụng vào tranh chấp tín dụng có tài sản thế chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp phải đánh giá toàn bộ các sự kiện gồm việc yêu cầu thanh toán, thương lượng nghĩa vụ, đề nghị giải chấp, từ chối giải chấp, thông báo bàn giao tài sản, thu giữ tài sản và tiến hành xử lý tài sản bảo đảm.
Vì vậy, không thể mặc nhiên cho rằng ngày khoản vay quá hạn chính là ngày chủ sở hữu tài sản thế chấp bị xâm phạm quyền.
Mỗi yêu cầu mà đương sự đưa ra trong cùng một vụ án cũng có khả năng gắn với một thời điểm phát sinh tranh chấp khác nhau. Chẳng hạn, yêu cầu được thanh toán nghĩa vụ thay cho bên vay để giải chấp tài sản có thể xuất hiện ở một thời điểm, trong khi yêu cầu phản đối hành vi thu giữ hoặc bán đấu giá tài sản lại phát sinh ở thời điểm khác.
Khi hồ sơ tồn tại nhiều văn bản được ban hành liên tiếp, cần làm rõ văn bản nào thể hiện rõ nhất và trực tiếp nhất việc ngân hàng bác bỏ quyền hoặc phương án mà chủ tài sản đã đề nghị. Việc lựa chọn một văn bản không phù hợp có thể làm thay đổi hoàn toàn kết quả xác định thời hiệu.
Không đồng nhất ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngày quyền của bên thế chấp bị xâm phạm
Trong quan hệ tín dụng, ngày bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán chủ yếu phản ánh sự vi phạm giữa bên vay với tổ chức tín dụng.
Trong khi đó, đối với chủ sở hữu tài sản dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác, vấn đề cần xem xét là thời điểm quyền đối với chính tài sản của họ bị tác động.
Hai mốc thời gian này không bắt buộc trùng nhau.
Một khoản vay có thể quá hạn nhưng ngân hàng vẫn tiếp tục thương lượng, cơ cấu lại nghĩa vụ, chưa yêu cầu giao tài sản hoặc chưa thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm. Trong giai đoạn đó, chưa chắc chủ sở hữu tài sản đã có đủ cơ sở để nhận biết rằng quyền đối với tài sản của mình đã bị xâm phạm.
Chỉ khi xuất hiện hành vi rõ ràng hơn, chẳng hạn ngân hàng chính thức bác bỏ phương án giải chấp, yêu cầu bàn giao tài sản, thông báo thu giữ hoặc tiến hành xử lý tài sản, vấn đề về thời điểm bắt đầu thời hiệu đối với yêu cầu của chủ tài sản mới cần được xem xét cụ thể.
Do đó, ngày khoản vay trở thành nợ quá hạn hoặc nợ xấu chỉ là một dữ kiện trong chuỗi sự kiện. Đây không phải căn cứ duy nhất để xác định thời hiệu đối với mọi yêu cầu phát sinh từ hợp đồng thế chấp.
Ý nghĩa của thông báo thu giữ, xử lý tài sản và văn bản từ chối giải chấp
Trong thực tế tranh chấp, các văn bản do ngân hàng ban hành có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc chứng minh thời điểm người có quyền biết hoặc phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm.
Thông báo thu giữ tài sản, văn bản yêu cầu bàn giao tài sản, thông báo xử lý tài sản bảo đảm hoặc văn bản chính thức từ chối giải chấp đều có thể được sử dụng làm căn cứ để Tòa án xem xét thời hiệu.
Tuy nhiên, không phải cứ văn bản nào được ban hành trước thì mặc nhiên trở thành mốc tính thời hiệu.
Giá trị của từng tài liệu phải được đặt trong bối cảnh tổng thể của quan hệ tín dụng và quá trình xử lý tài sản. Nội dung thực tế của văn bản quan trọng hơn tên gọi hình thức.
Chẳng hạn, một văn bản ban hành sớm có thể chỉ ghi nhận việc hai bên chưa thống nhất phương án. Sau đó, ngân hàng vẫn tiếp tục trao đổi và đến một thời điểm muộn hơn mới chính thức yêu cầu bàn giao tài sản để thu giữ. Trong trường hợp này, văn bản sau có thể phản ánh rõ ràng và trực tiếp hơn việc quyền của chủ tài sản bị tác động.
Bản án số 116/2026/KDTM-PT là ví dụ cụ thể. Hội đồng xét xử phúc thẩm đánh giá Thông báo ngày 04/3/2020 có ý nghĩa pháp lý trực tiếp hơn vì tại thời điểm đó ngân hàng yêu cầu thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc bàn giao tài sản để tiến hành thu giữ.
Vì thế, thay vì sử dụng văn bản năm 2018 như cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm lựa chọn sự kiện năm 2020 khi đánh giá thời hiệu.
Đối với người có tài sản thế chấp, việc lưu giữ các chứng cứ về ngày thực nhận văn bản đặc biệt cần thiết. Hồ sơ nên có bản gốc văn bản, phiếu gửi bưu chính, xác nhận phát, biên bản giao nhận, biên bản niêm yết, thư điện tử hoặc những dữ liệu khác có khả năng chứng minh chính xác thời điểm thông tin được chuyển đến người nhận.
Nếu chỉ có văn bản nhưng không thể xác định được thời điểm thực nhận, việc chứng minh thời hiệu vẫn còn có thể gặp nhiều khó khăn.
Điều kiện để Tòa án áp dụng thời hiệu và đình chỉ vụ án
Một điểm cần đặc biệt lưu ý là việc thời gian đã trôi qua lâu không đồng nghĩa Tòa án đương nhiên được áp dụng thời hiệu.
Khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, với điều kiện yêu cầu đó phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc.
Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng ghi nhận nguyên tắc tương ứng trong tố tụng dân sự.
Như vậy, muốn áp dụng hậu quả pháp lý do hết thời hiệu, trước tiên phải tồn tại một yêu cầu áp dụng thời hiệu hợp lệ và được đưa ra đúng thời điểm luật định.
Bên cạnh đó, bản thân thời hiệu phải thực sự kết thúc.
Theo Điểm e Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc đình chỉ giải quyết vụ án do hết thời hiệu chỉ có thể được đặt ra khi đáp ứng những điều kiện luật định, trong đó có yêu cầu áp dụng thời hiệu được đưa ra hợp lệ trước khi cấp sơ thẩm ban hành bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.
Nếu hồ sơ vẫn tồn tại tài liệu thể hiện một hành vi xâm phạm quyền xảy ra sau thời điểm mà bên yêu cầu áp dụng thời hiệu đưa ra, Tòa án cần xem xét và làm rõ toàn bộ diễn biến trước khi kết luận thời hiệu đã kết thúc.
Ngoài ra, người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp sự từ chối nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ.
Hệ quả khi cấp sơ thẩm xác định không đúng mốc thời hiệu
Khi bản án sơ thẩm có sai sót về cách tính thời hiệu, cấp phúc thẩm phải đánh giá tính chất và mức độ của sai sót để lựa chọn phương án giải quyết phù hợp.
Theo Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể xem xét việc sửa bản án nếu hồ sơ và chứng cứ đã đủ căn cứ để giải quyết.
Trường hợp sai sót khiến nội dung vụ án chưa được giải quyết đầy đủ và không thể khắc phục ngay tại cấp phúc thẩm, Khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là căn cứ để xem xét việc hủy toàn bộ hoặc một phần bản án sơ thẩm.
Trong Bản án số 116/2026/KDTM-PT, việc cấp sơ thẩm lựa chọn văn bản năm 2018 đã dẫn đến kết luận yêu cầu của nguyên đơn hết thời hiệu. Cấp phúc thẩm xác định lại mốc ngày 04/3/2020 nên đã hủy phần quyết định có liên quan để chuyển về giải quyết lại.
Ở chiều ngược lại, nếu cấp sơ thẩm vẫn xét xử nội dung vụ án trong khi thời hiệu thực tế đã hết và đương sự đã có yêu cầu áp dụng thời hiệu hợp lệ thì Điều 311 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét hủy bản án hoặc quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
Ngoài ra, Khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong trường hợp cần hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại khi tồn tại vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Mỗi yêu cầu trong vụ án cần được xem xét độc lập về thời hiệu
Một vụ án phát sinh từ khoản vay có thế chấp tài sản có thể đồng thời chứa nhiều quan hệ pháp luật khác nhau.
Ngoài nghĩa vụ trả nợ giữa bên vay và ngân hàng, vụ án còn có thể phát sinh yêu cầu thanh toán nghĩa vụ thay để giải chấp, yêu cầu trả lại tài sản thế chấp, tranh chấp về quá trình thu giữ, tranh chấp về việc xử lý tài sản và yêu cầu công nhận hoặc hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá.
Do đối tượng và căn cứ của từng yêu cầu không giống nhau, việc xác định thời hiệu cũng không nên được thực hiện chung cho tất cả các yêu cầu chỉ dựa trên một mốc thời gian duy nhất.
Yêu cầu thanh toán thay để giải chấp tài sản
Khi chủ sở hữu tài sản đề nghị thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm thay cho bên vay, mục đích của họ thường là tạo điều kiện chấm dứt biện pháp bảo đảm và tiến hành xóa đăng ký biện pháp bảo đảm theo quy định.
Trong trường hợp này, người khởi kiện cần chứng minh phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm, khoản tiền phải thực hiện và việc tổ chức tín dụng đã không chấp nhận phương án giải chấp.
Mốc thời hiệu cần gắn với hành vi cụ thể làm phát sinh tranh chấp đối với yêu cầu đó.
Yêu cầu trả lại tài sản thế chấp
Yêu cầu trả lại tài sản có thể được xây dựng trên những căn cứ khác, ví dụ cho rằng hợp đồng thế chấp không có hiệu lực hoặc quá trình xử lý, thu giữ, bán đấu giá tài sản không phù hợp với nội dung thỏa thuận và quy định pháp luật.
Khi đó, trọng tâm chứng minh không còn chỉ nằm ở nghĩa vụ thanh toán mà chuyển sang hiệu lực của hợp đồng bảo đảm hoặc tính hợp pháp của quá trình xử lý tài sản.
Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu tranh chấp hợp đồng vẫn được xác định là 03 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Vì vậy, mỗi yêu cầu cần được đối chiếu với sự kiện hoặc hành vi xâm phạm cụ thể tương ứng.
Quyền của người mua tài sản đấu giá ngay tình được xem xét riêng
Một vấn đề khác thường xuất hiện trong tranh chấp tài sản thế chấp là quyền của người đã mua tài sản thông qua đấu giá.
Việc chủ tài sản cũ tranh chấp với ngân hàng hoặc cho rằng thời hiệu của yêu cầu về hợp đồng thế chấp vẫn còn không đồng nghĩa hợp đồng mua bán tài sản đấu giá tự động mất hiệu lực.
Khoản 2 Điều 7 Luật Đấu giá tài sản 2016, sửa đổi, bổ sung 2024 quy định về việc bảo vệ quyền của người mua được tài sản đấu giá ngay tình khi có người thứ ba tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản.
Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015 cũng là căn cứ pháp lý liên quan đến việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự.
Trong Bản án số 116/2026/KDTM-PT, Hội đồng xét xử không đồng nhất yêu cầu của nguyên đơn liên quan đến thời hiệu với yêu cầu của người mua tài sản đấu giá. Hai nhóm quyền lợi được xem xét độc lập.
Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, đồng thời vẫn hủy phần bản án sơ thẩm liên quan đến việc xác định thời hiệu đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Điều này cho thấy việc tranh luận về thời hiệu hoặc về quan hệ thế chấp ban đầu không tự động làm mất quyền của người đã mua tài sản thông qua đấu giá.
Muốn yêu cầu hủy kết quả xử lý tài sản hoặc làm ảnh hưởng đến quyền của người mua ngay tình, người khởi kiện cần đưa ra căn cứ và chứng cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm, quá trình tổ chức đấu giá hoặc có căn cứ pháp luật khác làm ảnh hưởng đến hiệu lực giao dịch.
Cách xây dựng hệ thống chứng cứ để chứng minh thời hiệu vẫn còn
Trong tranh chấp về thời hiệu, lập luận pháp lý chỉ có giá trị khi được hỗ trợ bởi chứng cứ chứng minh chính xác diễn biến theo thời gian.
Đương sự không nên chỉ lựa chọn một văn bản đơn lẻ mà cần tập hợp toàn bộ tài liệu từ khi quan hệ tín dụng được hình thành đến khi tranh chấp phát sinh và tài sản bảo đảm được xử lý.
Điều quan trọng là xác định được sự kiện nào thể hiện rõ nhất thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, đồng thời giải thích được vì sao những văn bản xuất hiện trước đó chưa phải là hành vi làm phát sinh quyền khởi kiện hoặc chưa thể hiện ý chí xử lý cuối cùng của bên còn lại.
Hồ sơ cần ưu tiên có hợp đồng tín dụng và các phụ lục để xác định phạm vi khoản vay, nghĩa vụ trả nợ và thời điểm bên vay vi phạm nghĩa vụ.
Hợp đồng thế chấp và tài liệu đăng ký biện pháp bảo đảm cần được thu thập để làm rõ tài sản được sử dụng để bảo đảm, phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm cũng như quyền của chủ sở hữu tài sản.
Các văn bản của chủ tài sản đề nghị thanh toán nghĩa vụ thay, đề nghị giải chấp hoặc đưa ra phương án xử lý nghĩa vụ cũng cần được lưu giữ đầy đủ.
Tương ứng với đó là toàn bộ công văn trả lời của ngân hàng, văn bản từ chối giải chấp hoặc tài liệu cho thấy ngân hàng không chấp thuận phương án mà bên thế chấp đề nghị.
Đặc biệt, các thông báo yêu cầu thanh toán, yêu cầu bàn giao tài sản, thông báo thu giữ và thông báo xử lý tài sản bảo đảm cần được sắp xếp theo thứ tự ngày tháng.
Nếu tài sản đã được đưa ra đấu giá, hồ sơ nên có biên bản niêm yết, thông báo đấu giá, tài liệu tổ chức đấu giá, biên bản đấu giá và hợp đồng mua bán tài sản đấu giá.
Song song với nội dung văn bản, cần chứng minh cả thời điểm văn bản được nhận trên thực tế bằng phiếu gửi, xác nhận phát, biên bản giao nhận, thư điện tử hoặc dữ liệu có giá trị chứng minh tương đương.
Toàn bộ chứng cứ nên được hệ thống thành bảng thời gian với ít nhất bốn nhóm thông tin gồm ngày ban hành, ngày thực nhận, nội dung chính của tài liệu và hệ quả pháp lý mà tài liệu đó tạo ra.
Cách trình bày này giúp Tòa án nhìn nhận vụ việc như một chuỗi diễn biến liên tục, thay vì tách một văn bản ra khỏi bối cảnh chung để xác định thời hiệu.
Bên cạnh đó, cần kiểm tra xem bên yêu cầu áp dụng thời hiệu đã thực hiện quyền này đúng thời điểm hay chưa. Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 yêu cầu việc đề nghị áp dụng thời hiệu phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành bản án hoặc quyết định.
Do đó, biên bản phiên họp, bản tự khai, văn bản trình bày ý kiến, đơn yêu cầu và các tài liệu tố tụng khác cũng cần được kiểm tra để xác định tính hợp lệ của yêu cầu áp dụng thời hiệu.
Thông báo thu giữ, xử lý tài sản có thể là căn cứ xác định mốc thời hiệu.
Một số vấn đề thường gặp về thời hiệu tranh chấp hợp đồng vay và thế chấp
Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng, trong đó có tranh chấp hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp, là 03 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Ngày ngân hàng thông báo khoản vay quá hạn không đương nhiên trở thành ngày bắt đầu thời hiệu đối với yêu cầu của chủ tài sản thế chấp. Khoản vay quá hạn phản ánh việc nghĩa vụ thanh toán không được thực hiện đúng hạn, trong khi quyền đối với tài sản bảo đảm có thể chỉ bị tác động rõ ràng khi ngân hàng thông báo xử lý, yêu cầu bàn giao, thu giữ hoặc thực hiện các biện pháp khác đối với tài sản.
Tòa án cũng không được tự động đình chỉ vụ án chỉ vì cho rằng thời hiệu đã kết thúc. Theo Khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 và Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc áp dụng thời hiệu phải dựa trên yêu cầu của một bên hoặc các bên và yêu cầu này phải được đưa ra trước thời điểm cấp sơ thẩm ban hành bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc.
Đối với người mua tài sản đấu giá ngay tình, quyền lợi của họ được đánh giá độc lập với tranh chấp hợp đồng thế chấp. Khoản 2 Điều 7 Luật Đấu giá tài sản 2016 sửa đổi, bổ sung 2024 là một trong những căn cứ quan trọng bảo vệ quyền sở hữu của người mua tài sản đấu giá ngay tình trong trường hợp phát sinh người thứ ba tranh chấp quyền sở hữu.
Dịch vụ tư vấn và giải quyết tranh chấp của Long Phan PMT
Đối với tranh chấp tín dụng và thế chấp, việc xác định đúng mốc thời hiệu thường đòi hỏi phải đồng thời phân tích hợp đồng, quá trình thực hiện nghĩa vụ, chuỗi văn bản trao đổi và thủ tục xử lý tài sản bảo đảm.
Long Phan PMT hỗ trợ rà soát hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm, việc đăng ký biện pháp bảo đảm và các rủi ro pháp lý có thể ảnh hưởng đến quyền của khách hàng.
Luật sư có thể hỗ trợ xác định mốc bắt đầu thời hiệu đối với từng yêu cầu tranh chấp, thay vì chỉ dựa vào ngày khoản vay quá hạn.
Các văn bản từ chối giải chấp, thông báo thu giữ, yêu cầu bàn giao tài sản và thông báo bán đấu giá cũng được rà soát về nội dung, trình tự ban hành và giá trị chứng minh.
Đồng thời, Long Phan PMT đánh giá điều kiện áp dụng thời hiệu, trong đó đặc biệt kiểm tra việc bên còn lại có đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu đúng thời điểm theo Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hay không.
Trong trường hợp cần khởi kiện hoặc tiếp tục tranh tụng, luật sư hỗ trợ soạn đơn khởi kiện, bản trình bày, văn bản phản bác quan điểm cho rằng thời hiệu đã hết và xây dựng hệ thống luận cứ về ngày quyền lợi thực tế bị xâm phạm.
Đối với vụ án đã có bản án sơ thẩm, hồ sơ có thể được đánh giá để xác định căn cứ kháng cáo, đề nghị sửa hoặc hủy bản án khi việc lựa chọn sai mốc thời hiệu ảnh hưởng đến quyền khởi kiện.
Long Phan PMT đồng thời có thể hỗ trợ thu thập, trích lục hồ sơ, chứng cứ bưu chính và tài liệu chứng minh ngày thực nhận văn bản; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ tài sản thế chấp, bên vay, doanh nghiệp cũng như người mua tài sản đấu giá ngay tình trong từng quan hệ tranh chấp.
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay và thế chấp cần được xác định từ thời điểm người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, thay vì mặc nhiên lấy ngày khoản vay quá hạn làm căn cứ duy nhất. Việc đánh giá phải dựa trên toàn bộ chuỗi văn bản từ chối giải chấp, yêu cầu bàn giao, thu giữ và xử lý tài sản, đồng thời kiểm tra điều kiện áp dụng thời hiệu theo Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Xem thêm:
Quy định chung về thời hiệu khởi kiện trong tố tụng dân sự





