Mức phạt tội khai thác khoáng sản trái phép là vấn đề pháp lý được nhiều cá nhân, chủ mỏ và doanh nghiệp quan tâm khi hoạt động khai thác không có giấy phép hoặc thực hiện không đúng nội dung giấy phép. Tùy thuộc vào giá trị khoáng sản, khoản thu lợi bất chính, hậu quả phát sinh, tiền sử vi phạm và vai trò của từng người, hành vi có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đáng chú ý, cá nhân có thể đối diện mức phạt tù cao nhất đến 07 năm, trong khi pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền đến 7.000.000.000 đồng cùng nhiều chế tài bổ sung. Nội dung dưới đây làm rõ các quy định pháp luật, mức xử phạt và những vấn đề cần lưu ý theo Điều 227 Bộ luật Hình sự.
Khi nào khai thác khoáng sản trái phép có thể bị truy cứu hình sự?
Không phải bất kỳ trường hợp nào khai thác khoáng sản không đúng quy định cũng đương nhiên bị khởi tố hình sự. Trước khi xác định trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá toàn diện tính chất, mức độ của hành vi và đối chiếu với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về bản chất, hành vi vi phạm được xác định theo “Tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên”. Người thực hiện hành vi khai thác không có giấy phép hoặc khai thác không đúng nội dung giấy phép có thể bị truy cứu nếu đáp ứng các điều kiện luật định.
Theo Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên mà không có giấy phép hoặc không đúng giấy phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong những trường hợp sau:
Đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm.
Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Khoáng sản bị khai thác trái phép có trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng theo Điểm b Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên theo Điểm c Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 121% theo Điểm d Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, giá trị khoáng sản chỉ là một trong các căn cứ để đánh giá trách nhiệm hình sự. Trong thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải xem xét khoản thu lợi bất chính, lịch sử xử phạt, án tích, hậu quả đối với sức khỏe con người, môi trường cũng như cách thức tổ chức hoạt động khai thác.
Nếu hành vi chưa đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị xử lý theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính. Mức phạt hành chính được xác định dựa trên loại khoáng sản, khối lượng khai thác thực tế và phương thức khai thác theo Điều 47 và Điều 48 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2022/NĐ-CP).
Đối với tình tiết “gây sự cố môi trường”, cần đánh giá riêng theo quy định pháp luật bởi dữ liệu pháp lý nêu trong tài liệu xác định đây là tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2 Điều 227, không phải dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm.
Mức phạt tội khai thác khoáng sản trái phép đối với cá nhân
Đối với cá nhân, hình phạt được xác định căn cứ vào khung hình phạt tương ứng tại Điều 227 Bộ luật Hình sự. Không phải trường hợp nào khai thác đất, đá, cát, sỏi trái phép cũng bị áp dụng hình phạt tù. Việc xác định đúng khung truy cứu, giá trị khoáng sản, khoản thu lợi, hậu quả và vai trò của người thực hiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Phạt tiền trong khung hình phạt cơ bản
Theo Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cá nhân phạm tội thuộc khung cơ bản có thể bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Trong một số trường hợp, khả năng áp dụng hình phạt tiền thay cho hình phạt tù cần được xem xét ngay từ giai đoạn đầu của vụ án, đặc biệt khi người phạm tội thuộc khung cơ bản và có nhiều yếu tố có lợi.
Việc đánh giá cần tập trung vào các vấn đề như:
Hành vi chỉ thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 227 và chưa xuất hiện tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2 Điều 227.
Người phạm tội chủ động khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo hoặc có thái độ hợp tác tích cực trong quá trình giải quyết vụ án.
Khoản thu lợi bất chính, giá trị khoáng sản và hậu quả thực tế được xác định bằng chứng cứ rõ ràng, hạn chế nguy cơ bị xác định vượt ngưỡng định lượng.
Người tham gia không giữ vai trò tổ chức, chủ mưu hoặc trực tiếp điều hành hoạt động khai thác.
Do đó, phương án xử lý không nên chỉ tập trung vào việc phủ nhận hành vi. Trong những trường hợp có căn cứ, cần chú trọng xác định chính xác vai trò của từng người, kiểm tra lại khối lượng và giá trị tài nguyên, làm rõ khoản thu lợi bất chính, đồng thời chứng minh việc khắc phục hậu quả.
Mức phạt tù cao nhất đối với cá nhân
Điều 227 Bộ luật Hình sự quy định các khung hình phạt khác nhau tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi.
Ở khung cơ bản, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với khung tăng nặng, người phạm tội có thể phải chịu mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm trong các trường hợp:
Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng trở lên theo Điểm a Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Khoáng sản bị khai thác trái phép có trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên theo Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Phạm tội có tổ chức hoặc gây sự cố môi trường theo Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), mức án cao nhất đối với cá nhân phạm tội là 07 năm tù.
Điều này cho thấy việc xác định chính xác giá trị khoáng sản và khoản thu lợi bất chính có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khung hình phạt. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ việc, các tài liệu về khối lượng khai thác, phương pháp xác định giá trị tài nguyên và dòng tiền thu được cần được kiểm tra một cách cẩn trọng.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Không chỉ cá nhân, pháp nhân thương mại cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi khai thác khoáng sản trái phép được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận phù hợp với điều kiện luật định.
Nhóm doanh nghiệp có hoạt động xây dựng, san lấp, khai thác vật liệu, vận chuyển khoáng sản hoặc tổ chức sử dụng nhiều máy móc, phương tiện có thể phải đặc biệt chú ý đến rủi ro này.
Theo Điểm a Khoản 4 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), pháp nhân thương mại phạm tội thuộc khung cơ bản có thể bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.
Nếu hành vi thuộc trường hợp tăng nặng, pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng theo Điểm b Khoản 4 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngoài hình phạt tiền, pháp nhân thương mại còn có thể bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm theo Điểm b Khoản 4 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bên cạnh đó, pháp nhân còn có thể bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động hoặc cấm huy động vốn trong thời hạn từ 01 năm đến 03 năm. Đây là hình phạt bổ sung được xác định theo Điểm c Khoản 4 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ Khoản 2 Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 2015, hình phạt đối với pháp nhân thương mại không chỉ nhằm xử lý hậu quả của hành vi phạm tội mà còn hướng đến việc ngăn ngừa nguy cơ tiếp tục vi phạm. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động kiểm tra giấy phép khai thác, hợp đồng thuê máy móc, hồ sơ khoáng sản, chứng từ vận chuyển, sổ sách kế toán và dòng tiền liên quan.
Phương tiện khai thác có thể bị tịch thu.
Máy xúc, xe ben, tàu hút cát có bị tịch thu hay không?
Một vấn đề thường xuyên phát sinh trong các vụ án khai thác khoáng sản trái phép là việc xử lý công cụ, phương tiện được sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi. Máy xúc, xe ben, tàu hút cát hoặc các thiết bị chuyên dụng không phải trong mọi trường hợp đều mặc nhiên bị tịch thu.
Cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định nguồn gốc tài sản, quyền sở hữu, hoàn cảnh phương tiện được đưa vào sử dụng và mức độ nhận thức, lỗi của chủ sở hữu đối với hành vi phạm tội.
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, công cụ, phương tiện được dùng vào việc phạm tội có thể bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, pháp luật cũng đặt ra những trường hợp cần xem xét việc trả lại tài sản khi phương tiện bị sử dụng trái phép.
Theo Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, chủ sở hữu có căn cứ chứng minh tài sản bị chiếm đoạt, thuê, mượn hoặc bị sử dụng trái phép có quyền đề nghị được nhận lại tài sản.
Nếu chủ sở hữu không biết, không đồng ý và không hưởng lợi từ hoạt động khai thác trái phép, đây có thể là căn cứ quan trọng để bảo vệ quyền sở hữu đối với phương tiện.
Trong trường hợp này, hồ sơ chứng minh nên tập trung vào các tài liệu như:
Hợp đồng thuê xe hoặc hợp đồng thuê phương tiện;
Lịch trình vận chuyển;
Dữ liệu định vị phương tiện;
Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu;
Chứng từ giao nhận phương tiện;
Tin nhắn, tài liệu trao đổi giữa chủ phương tiện và người thuê.
Ngược lại, nếu chủ sở hữu biết rõ mục đích khai thác trái phép nhưng vẫn chủ động giao phương tiện để phục vụ hành vi vi phạm, tài sản có thể được xác định là công cụ phạm tội theo Khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi của chủ phương tiện không chỉ dừng ở việc xuất trình giấy đăng ký xe hoặc giấy tờ sở hữu. Điều quan trọng là phải chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của tài sản, quá trình giao nhận, mục đích sử dụng và việc chủ sở hữu không có lỗi trong hành vi phạm tội.
Những tình tiết có thể làm tăng mức độ xử lý
Trong các vụ việc khai thác khoáng sản trái phép, mức độ rủi ro không chỉ được đánh giá thông qua khối lượng hoặc giá trị khoáng sản. Phương thức tổ chức khai thác, thời gian thực hiện, số lượng phương tiện, nhân công và vai trò điều hành cũng có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý.
Theo Điểm c Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), phạm tội có tổ chức là căn cứ áp dụng khung tăng nặng.
Một số dấu hiệu có thể khiến cơ quan tố tụng đánh giá hành vi theo hướng bất lợi gồm:
Có nhiều người cùng tham gia và được phân công nhiệm vụ cụ thể như đào, xúc, vận chuyển hoặc tiêu thụ khoáng sản.
Sử dụng đồng thời nhiều máy xúc, xe ben, tàu hút cát hoặc thiết bị chuyên dụng trong thời gian dài.
Hoạt động khai thác được thực hiện nhiều lần, lặp lại theo khu vực, tuyến khai thác hoặc theo từng ca vận hành.
Có hành vi che giấu nguồn gốc khoáng sản bằng hợp đồng, hóa đơn, chứng từ vận chuyển hoặc hồ sơ bãi tập kết.
Tiến hành khai thác tại khu vực bị hạn chế, khu vực cấm hoặc địa điểm có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường.
Ngoài tình tiết định khung, hành vi thực hiện nhiều lần hoặc sử dụng thủ đoạn tinh vi cũng có thể được xem xét khi quyết định hình phạt theo Điểm g, Điểm m Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Do đó, khi đánh giá trách nhiệm, cần phân biệt rõ hành vi xảy ra đơn lẻ với hoạt động có kế hoạch, kéo dài hoặc được tổ chức nhằm che giấu hành vi vi phạm.
Giám đốc vẫn có thể bị truy cứu.
Giám đốc không trực tiếp khai thác có thể bị truy cứu không?
Việc một người không trực tiếp điều khiển máy xúc, đào đất hoặc hút cát không đồng nghĩa với việc người đó chắc chắn không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nếu có căn cứ cho thấy người này chỉ đạo, giao nhiệm vụ, bố trí phương tiện, tổ chức nhân công hoặc hưởng lợi từ hoạt động khai thác trái phép, cơ quan tố tụng có thể xem xét vai trò đồng phạm.
Căn cứ Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là đồng phạm.
Vì vậy, giám đốc, chủ mỏ hoặc người điều hành cần đặc biệt lưu ý khi có sự tham gia vào các hoạt động như:
Chỉ đạo việc khai thác;
Thuê nhân công;
Thuê hoặc bố trí phương tiện;
Ký kết hợp đồng vận chuyển;
Điều hành dòng tiền;
Phân chia lợi ích từ hoạt động khai thác.
Đối với pháp nhân thương mại, trách nhiệm của doanh nghiệp và trách nhiệm của cá nhân cũng cần được phân biệt. Theo Khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015, việc pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.
Do đó, trong cùng một vụ án, doanh nghiệp có thể phải chịu hình phạt đối với pháp nhân, trong khi người điều hành hoặc người có vai trò cụ thể vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với tư cách cá nhân.
Các căn cứ có thể được xem xét để giảm nhẹ hình phạt
Việc xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần được chuẩn bị bằng chứng cứ cụ thể thay vì chỉ dựa vào lời trình bày. Đối với vụ án khai thác khoáng sản trái phép, các tài liệu thể hiện việc khắc phục hậu quả, tự nguyện nộp lại khoản thu lợi, hợp tác với cơ quan có thẩm quyền và xác định chính xác vai trò tham gia có thể có ý nghĩa quan trọng khi xem xét hình phạt.
Một số căn cứ cần được lưu ý gồm:
Theo Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, việc tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nếu hoạt động khai thác gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe hoặc môi trường là tình tiết giảm nhẹ.
Theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình giải quyết vụ án là căn cứ được xem xét giảm nhẹ.
Theo Điểm t Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), việc tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án cũng có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ.
Theo Điểm v Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội có thành tích xuất sắc trong sản xuất, công tác hoặc hoạt động xã hội có thể được xem xét theo quy định.
Bên cạnh đó, người phạm tội có thể chủ động nộp lại khoản thu lợi bất chính, cung cấp chứng từ chứng minh việc khắc phục hậu quả và làm rõ phạm vi, mức độ tham gia của mình trong vụ án.
Đáng chú ý, căn cứ Khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nếu người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ tại Khoản 1 Điều 51 và đang đối mặt với khung nhẹ nhất của điều luật, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn.
Vì vậy, việc chuẩn bị hồ sơ giảm nhẹ nên được thực hiện càng sớm càng tốt, đặc biệt từ giai đoạn điều tra, thay vì chờ đến khi vụ án đã chuyển sang giai đoạn xét xử mới bắt đầu thu thập tài liệu.
Dịch vụ luật sư bào chữa tội khai thác khoáng sản trái phép tại Long Phan PMT
Các vụ việc liên quan đến khai thác khoáng sản trái phép thường có tính chất phức tạp bởi cần đồng thời xác định giá trị tài nguyên, khối lượng thực tế, khoản thu lợi bất chính, vai trò của từng người tham gia và nguồn gốc của các phương tiện được sử dụng.
Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư bào chữa tội khai thác khoáng sản trái phép, hỗ trợ khách hàng đánh giá rủi ro pháp lý, xây dựng phương án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời chuẩn bị hướng làm việc phù hợp với cơ quan tiến hành tố tụng.
Các nội dung tư vấn, hỗ trợ có thể bao gồm:
Bào chữa cho cá nhân, chủ mỏ, người điều hành hoặc người làm thuê bị điều tra về hành vi khai thác khoáng sản trái phép.
Tư vấn căn cứ xin án treo, chuyển hình phạt tù sang phạt tiền hoặc đề nghị áp dụng hình phạt dưới khung khi có đủ điều kiện.
Hướng dẫn thủ tục tự nguyện nộp lại khoản thu lợi bất chính, bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả.
Tham gia làm việc tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhằm làm rõ vai trò của người tổ chức, người thực hành, người giúp sức hoặc người làm thuê.
Đánh giá nguy cơ pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đình chỉ hoạt động hoặc bị cấm kinh doanh.
Hỗ trợ pháp nhân giải trình về dòng tiền, sổ sách kế toán, khối lượng khoáng sản thực tế và phương án khắc phục, bồi thường thiệt hại môi trường.
Soạn thảo văn bản chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản và đề nghị nhận lại máy xúc, xe ben, tàu hút cát bị tạm giữ.
Khiếu nại quyết định tịch thu công cụ, phương tiện nếu việc xử lý vật chứng chưa phù hợp với quy định pháp luật.
Kiểm tra hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, đánh giá lại khối lượng khoáng sản và kiến nghị chuyển hướng xử lý từ hình sự sang hành chính nếu có căn cứ.
Quý khách hàng, chủ mỏ hoặc doanh nghiệp có nhu cầu được đánh giá sơ bộ hồ sơ có thể liên hệ Long Phan PMT qua Email: pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo: 0939.846.973.
Mức phạt tội khai thác khoáng sản trái phép được xác định dựa trên Điều 227 Bộ luật Hình sự, trong đó cần xem xét điều kiện truy cứu, giá trị khoáng sản, khoản thu lợi bất chính, hậu quả, vai trò của người tham gia, trách nhiệm của pháp nhân thương mại và việc xử lý phương tiện. Cá nhân có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù đến 07 năm; pháp nhân thương mại có thể bị phạt đến 7.000.000.000 đồng và chịu thêm các hình phạt bổ sung theo quy định. Việc xác định đúng tình tiết vụ án, chuẩn bị chứng cứ giảm nhẹ và bảo vệ quyền đối với phương tiện có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ việc. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Toàn tập quy định về mức phạt tội khai thác khoáng sản trái phép mới nhất
Xem thêm: Hướng dẫn thủ tục xóa án tích





