Khi bị triệu tập là người liên quan trong vụ án ma túy, nhiều người thường lo lắng vì cho rằng việc này đồng nghĩa với việc mình đang bị nghi ngờ hoặc có nguy cơ bị khởi tố. Trên thực tế, việc được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu làm việc có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân và không phải trường hợp nào cũng liên quan đến trách nhiệm hình sự. Long Phan PMT phân tích dưới đây những vấn đề cần lưu ý khi được triệu tập trong vụ án có liên quan đến ma túy.

giay-trieu-tap-trong-dich-vu-ma-tuy-can-duoc-kiem-tra-ky-thuat-ve-tu-cach-tung-niem-thoi-gian-va-dia-diem-lam-viec-
Giấy triệu tập trong dịch vụ ma túy cần được kiểm tra kỹ thuật về tư cách tụng niệm, thời gian và địa điểm làm việc.

Người liên quan trong vụ án ma túy được hiểu như thế nào?

Trong thực tiễn điều tra, cụm từ “người liên quan trong vụ án ma túy” thường được sử dụng để nói đến những cá nhân có thông tin, giao dịch, tài sản, quan hệ hoặc quyền và nghĩa vụ có liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng “người liên quan” không phải là một tư cách tố tụng độc lập được quy định chung trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tùy thuộc vào tài liệu, chứng cứ và nội dung cần xác minh, một người được cơ quan có thẩm quyền triệu tập có thể tham gia tố tụng với nhiều tư cách khác nhau. Chẳng hạn, người này có thể là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can hoặc chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Do đó, khi nhận được giấy triệu tập, người được yêu cầu làm việc không nên chỉ quan tâm đến việc mình “có liên quan đến vụ án” hay không. Vấn đề cần xác định trước tiên là cơ quan tiến hành tố tụng đang xác định người đó tham gia vụ án với tư cách nào. Từ tư cách tố tụng cụ thể mới có thể xác định chính xác quyền, nghĩa vụ và những vấn đề pháp lý có thể phát sinh.

Người được triệu tập không đương nhiên là người phạm tội

Việc cơ quan điều tra triệu tập một cá nhân để làm rõ tình tiết vụ án không thể tự động được hiểu là người đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Có thể cơ quan điều tra cần xác minh nguồn gốc tài sản, địa điểm, giao dịch, mối quan hệ hoặc thông tin mà người này biết.

Theo đó, người được triệu tập cần tránh tâm lý hoang mang hoặc tự nhận định rằng mình chắc chắn sẽ bị khởi tố. Tư cách tố tụng và trách nhiệm hình sự phải được xác định trên cơ sở chứng cứ, hành vi thực tế và quyết định tố tụng có thẩm quyền.

Trường hợp chủ nhà trọ bị triệu tập khi phát hiện ma túy trong phòng cho thuê

Ví dụ, một người cho thuê phòng trọ dài hạn cho người khác. Sau một thời gian, cơ quan chức năng phát hiện chất ma túy tại căn phòng do người thuê quản lý và yêu cầu chủ nhà đến làm việc. Cơ quan điều tra có thể cần xác minh hợp đồng thuê, thời điểm giao phòng, người trực tiếp sử dụng, tình trạng quản lý căn phòng, tài sản tại địa điểm hoặc những thông tin khác liên quan.

Trong trường hợp này, chỉ căn cứ vào việc người được triệu tập là chủ nhà trọ thì chưa thể kết luận họ thuộc tư cách “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” theo Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Nếu chủ nhà là người biết các tình tiết có liên quan đến nguồn tin về tội phạm hoặc vụ án và được cơ quan có thẩm quyền triệu tập để cung cấp thông tin, họ có thể tham gia với tư cách người làm chứng theo khoản 1 Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Theo quy định này, người làm chứng là người biết những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm hoặc vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

Trường hợp việc giải quyết vụ án tác động trực tiếp đến quyền hoặc nghĩa vụ của chủ nhà, chẳng hạn có vấn đề liên quan đến việc xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu của họ, người này có thể được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Ngược lại, nếu quá trình xác minh xuất hiện tài liệu cho thấy chính chủ nhà có hành vi có dấu hiệu tội phạm thì tư cách tố tụng có thể thay đổi tùy theo diễn biến vụ án. Vì vậy, không thể xác định tư cách tố tụng chỉ dựa vào mối quan hệ chủ nhà và người thuê mà phải căn cứ vào pháp luật và tài liệu cụ thể.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được pháp luật quy định ra sao?

Khoản 1 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.

Điểm cần chú ý là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đơn thuần là người có quen biết hoặc có một mối quan hệ gián tiếp với bị can, bị cáo. Yếu tố quan trọng nằm ở việc kết quả giải quyết vụ án có ảnh hưởng đến quyền hoặc nghĩa vụ pháp lý của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó hay không.

Theo khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các quyền tố tụng nhất định, bao gồm:

  • Được thông báo và giải thích về quyền, nghĩa vụ của mình;

  • Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu;

  • Yêu cầu giám định, định giá tài sản;

  • Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án;

  • Tham gia phiên tòa và tranh luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp;

  • Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

  • Kháng cáo đối với phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình;

  • Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh các quyền nêu trên, khoản 3 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng quy định nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, họ phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời chấp hành quyết định và yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

nguoi-lien-quan-trong-du-an-ma-tuy-can-phai-nam-ro-quyen-nghia-vu-va-chuan-bi-day-du-tai-lieu-truoc-khi-lam-viec-

Người liên quan trong dự án ma túy cần phải nắm rõ quyền, nghĩa vụ và chuẩn bị đầy đủ tài liệu trước khi làm việc.

Những trường hợp có thể khiến một người được triệu tập trong vụ án ma túy

Trong quá trình xác minh, điều tra vụ án ma túy, cơ quan có thẩm quyền có thể cần làm rõ nhiều mối quan hệ và nguồn thông tin khác nhau. Vì vậy, người được triệu tập có thể có liên hệ với vụ án thông qua tài sản, giao dịch, địa điểm, quan hệ cá nhân hoặc những tình tiết mà họ trực tiếp biết.

Việc nhận giấy triệu tập không đồng nghĩa người đó đã được xác định là đồng phạm hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự. Tư cách tố tụng và trách nhiệm pháp lý cần được xem xét dựa trên chứng cứ cũng như các quyết định tố tụng được ban hành trong từng trường hợp.

Cho mượn, cho thuê nhà hoặc phương tiện bị sử dụng liên quan đến ma túy

Trong quá trình điều tra hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy theo Điều 250 Bộ luật Hình sự, cơ quan điều tra có thể cần xác minh nguồn gốc, quyền quản lý và quá trình sử dụng căn nhà, phòng trọ hoặc phương tiện có liên quan. Các điều luật này được áp dụng trong phiên bản Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản có thể được yêu cầu cung cấp thông tin về:

  • Người trực tiếp thuê, mượn hoặc sử dụng nhà, phòng hoặc phương tiện;

  • Thời điểm giao tài sản và khoảng thời gian sử dụng;

  • Việc chủ sở hữu có biết hoạt động thực tế diễn ra tại địa điểm hoặc trên phương tiện hay không;

  • Tài sản có liên quan đến vật chứng hoặc quyền sở hữu của người thứ ba hay không.

Việc một người cho thuê hoặc cho mượn tài sản tự thân không phải là căn cứ để kết luận người sở hữu phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ nhận thức, hành vi và những chứng cứ cụ thể liên quan đến người đó.

Nếu người được triệu tập chỉ biết các tình tiết liên quan đến vụ án, họ có thể được xác định là người làm chứng theo Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Trong trường hợp quyền hoặc nghĩa vụ đối với tài sản của họ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc giải quyết vụ án, họ có thể được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Có giao dịch tài chính hoặc quan hệ với người bị điều tra về ma túy

Đối với vụ án về tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2025), cơ quan điều tra có thể xác minh những giao dịch và mối quan hệ có ý nghĩa trong việc làm rõ hành vi phạm tội.

Theo điểm d khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điều tra viên được phân công điều tra có quyền triệu tập, lấy lời khai của người tố giác, người bị tố giác, người làm chứng, bị hại, đương sự và những chủ thể khác được điều luật quy định.

Vì vậy, một người từng chuyển tiền, nhận tiền, mua bán hàng hóa hoặc có quan hệ quen biết với người đang bị điều tra có thể được yêu cầu giải thích về mục đích, thời điểm và hoàn cảnh phát sinh giao dịch.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa việc có giao dịch với một người đang bị điều tra và việc trở thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Một giao dịch tài chính không mặc nhiên xác lập tư cách tố tụng này. Nếu người được triệu tập chỉ biết tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án, tư cách phù hợp có thể là người làm chứng. Nếu xuất hiện căn cứ cho thấy chính họ có hành vi có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định tư cách tố tụng khác theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Do đó, việc từng giao dịch hoặc có quan hệ quen biết với người bị điều tra không phải là căn cứ tự động để xác định trách nhiệm hình sự.

Là người quản lý cơ sở kinh doanh nơi xảy ra hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Khi hành vi liên quan đến ma túy được phát hiện tại khách sạn, nhà nghỉ, karaoke hoặc cơ sở kinh doanh khác, cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu chủ cơ sở, người quản lý hoặc người phụ trách địa điểm cung cấp thông tin.

Nội dung cần làm rõ có thể bao gồm người quản lý địa điểm, những người có mặt, thời gian xảy ra sự việc, hoạt động diễn ra tại cơ sở và việc người quản lý có biết hoặc tham gia vào hành vi hay không.

Nếu người quản lý không biết, không tham gia và không có hành vi tạo điều kiện cho hành vi phạm tội thì không thể chỉ dựa vào việc vụ việc xảy ra tại cơ sở của họ để kết luận trách nhiệm hình sự.

Trường hợp tài liệu, chứng cứ cho thấy người quản lý có hành vi chủ động liên quan, cơ quan tiến hành tố tụng phải đối chiếu với cấu thành của từng tội danh cụ thể. Đối với các hành vi liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy, cần lưu ý:

  • Điều 255 Bộ luật Hình sự: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;

  • Điều 256 Bộ luật Hình sự: Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy;

  • Điều 257 Bộ luật Hình sự: Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

xac-dinh-dung-cach-tung-niem-giup-nguoi-duoc-trieu-tap-chu-dong-bao-ve-quyen-va-loi-ich-phap-
Xác định đúng cách tụng niệm giúp người được triệu tập chủ động bảo vệ quyền và lợi ích pháp.

Giá trị pháp lý và nghĩa vụ thực hiện giấy triệu tập

Khi nhận được giấy triệu tập liên quan đến vụ án ma túy, người được triệu tập nên kiểm tra kỹ thông tin trên văn bản, bao gồm cơ quan ban hành, người ký, tư cách tố tụng, thời gian, địa điểm và nội dung yêu cầu làm việc.

Đặc biệt, cần xác định rõ mình được triệu tập với tư cách nào. Quyền, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý của việc không có mặt có thể khác nhau tùy thuộc vào tư cách tố tụng của từng người.

Thẩm quyền triệu tập và hình thức của giấy triệu tập

Theo điểm d khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điều tra viên được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra có quyền triệu tập và lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại và đương sự; đồng thời có thẩm quyền triệu tập, hỏi cung bị can theo quy định.

Trong tố tụng hình sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc nhóm đương sự. Do đó, khi một người đã được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Điều tra viên được phân công có quyền triệu tập người đó để lấy lời khai theo điểm d khoản 1 Điều 37 và Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Cần phân biệt giấy triệu tập với giấy mời làm việc

Không nên mặc nhiên cho rằng “giấy mời” chỉ có ý nghĩa khuyến khích và không thể làm phát sinh bất kỳ nghĩa vụ pháp lý nào.

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nghĩa vụ có mặt đối với từng chủ thể tham gia tố tụng khi được người có thẩm quyền triệu tập đúng quy định. Chẳng hạn, khoản 3 Điều 65 quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Trong khi đó, “giấy mời” không phải là một chế định tố tụng chung có cùng hậu quả pháp lý với giấy triệu tập được Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định trong mọi trường hợp.

Vì vậy, nếu nhận được giấy mời, người nhận cần xem xét cơ quan phát hành, nội dung yêu cầu, giai đoạn giải quyết vụ việc và tư cách mà cơ quan có thẩm quyền xác định. Không nên chỉ dựa vào tên gọi “giấy mời” hoặc “giấy triệu tập” để tự đưa ra kết luận chắc chắn về nghĩa vụ pháp lý của mình.

Quyền và nghĩa vụ của người liên quan khi được triệu tập

Nếu người được triệu tập đã được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì họ được hưởng các quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ tương ứng với tư cách này.

Trường hợp người đó thực tế tham gia vụ án với tư cách người làm chứng, người bị tố giác hoặc một tư cách tố tụng khác thì phải áp dụng điều luật tương ứng. Vì vậy, không nên áp dụng máy móc Điều 65 cho mọi người được gọi là “người liên quan”.

Quyền được thông báo, trình bày và nhờ người bảo vệ quyền lợi

Theo khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu; trình bày ý kiến về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan; đồng thời có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Khoản 1 và khoản 2 Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được họ nhờ bảo vệ. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có thể là:

  • Luật sư;

  • Người đại diện;

  • Bào chữa viên nhân dân;

  • Trợ giúp viên pháp lý.

Theo khoản 3 Điều 84, trong phạm vi quy định, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có thể có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của người mà mình bảo vệ và thực hiện các quyền khác theo quy định pháp luật.

Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn là nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, quyền nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định cụ thể tại Điều 65 và Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Nghĩa vụ có mặt và trình bày trung thực

Theo khoản 3 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ:

  • Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

  • Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình;

  • Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tuy nhiên, từ nghĩa vụ có mặt không thể suy ra rằng bất kỳ trường hợp vắng mặt nào cũng đương nhiên dẫn đến việc bị dẫn giải. Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về dẫn giải đối với những chủ thể và trong những điều kiện cụ thể. Do đó, biện pháp này không thể được tự động áp dụng chỉ vì một người không đến theo giấy triệu tập.

Nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào tư cách của người vắng mặt và tình hình vụ án để xem xét việc hoãn hoặc tiếp tục xét xử. Vì vậy, không phải mọi trường hợp vắng mặt đều mặc nhiên dẫn đến việc phiên tòa phải hoãn.

Người được triệu tập nên chuẩn bị gì trước khi làm việc?

Khi nhận được giấy triệu tập trong vụ án có liên quan đến ma túy, người được triệu tập nên chủ động chuẩn bị trước nội dung cần làm rõ, giấy tờ liên quan và phương án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Việc chuẩn bị kỹ không đồng nghĩa với việc phải suy đoán nội dung điều tra. Mục đích chủ yếu là giúp người được triệu tập nắm được tư cách tố tụng, trình bày đúng sự việc và hạn chế những sai sót không cần thiết trong quá trình làm việc.

Kiểm tra đầy đủ nội dung giấy triệu tập

Người nhận giấy triệu tập nên kiểm tra những thông tin cơ bản như:

  • Tên cơ quan ban hành;

  • Họ tên và chức vụ của người ký;

  • Họ tên người được triệu tập;

  • Tư cách tố tụng hoặc nội dung làm việc được thể hiện;

  • Ngày, giờ phải có mặt;

  • Địa điểm làm việc;

  • Những yêu cầu khác được ghi trong văn bản.

Không nên chỉ căn cứ vào hình thức bên ngoài của giấy để tự kết luận văn bản có hợp lệ hay không. Nếu phát hiện thông tin bất thường về cơ quan ban hành, người ký hoặc địa điểm làm việc, người nhận nên xác minh lại với cơ quan được ghi trên giấy triệu tập.

Xác định tư cách tố tụng trước buổi làm việc

Đây là vấn đề cần được ưu tiên xác định. Nếu người được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì quyền và nghĩa vụ của họ được thực hiện theo Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Nếu người đó tham gia với tư cách người làm chứng, người bị tố giác hoặc một tư cách tố tụng khác thì quy định pháp luật tương ứng phải được áp dụng.

Trường hợp giấy triệu tập không thể hiện rõ hoặc người nhận chưa hiểu mình đang tham gia vụ án với tư cách nào, có thể đề nghị người có thẩm quyền thông báo và giải thích quyền, nghĩa vụ trước khi tiến hành lấy lời khai. Nội dung này phù hợp với quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Chuẩn bị giấy tờ và tài liệu có liên quan

Người được triệu tập nên mang theo giấy tờ tùy thân và rà soát trước những tài liệu liên quan trực tiếp đến nội dung cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu làm rõ.

Tùy từng vụ án, tài liệu có thể bao gồm hợp đồng thuê nhà, chứng từ giao dịch, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản, tài liệu thể hiện quá trình giao nhận tài sản hoặc những giấy tờ khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình.

Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cho phép người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Người được triệu tập cũng cần tránh việc tự ý chỉnh sửa, tiêu hủy hoặc tạo mới tài liệu nhằm làm thay đổi nội dung sự việc. Những hành vi này có thể làm phát sinh các vấn đề pháp lý khác tùy vào tính chất và hậu quả thực tế.

Cân nhắc nhờ luật sư hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Nếu nội dung làm việc có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản, quyền lợi hoặc vị trí pháp lý của mình, người được triệu tập có thể trao đổi với luật sư trước khi đến làm việc.

Căn cứ khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Theo Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể là luật sư, người đại diện, bào chữa viên nhân dân hoặc trợ giúp viên pháp lý. Trong phạm vi luật định, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có thể có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai hoặc thực hiện một số hoạt động tố tụng đối với người mình bảo vệ.

Trình bày đúng những gì mình trực tiếp biết

Khoản 3 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 yêu cầu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình.

Khi trả lời, người được triệu tập nên phân biệt rõ giữa:

  • Những gì bản thân trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hoặc thực hiện;

  • Những thông tin được người khác kể lại;

  • Những nội dung bản thân không biết;

  • Những vấn đề không còn nhớ chính xác.

Không nên biến suy đoán cá nhân thành một sự việc chắc chắn. Nếu không nhớ hoặc không biết một vấn đề, có thể trình bày đúng thực tế rằng mình không nhớ hoặc không biết thay vì tự suy diễn để đưa ra câu trả lời.

Những rủi ro pháp lý cần lưu ý

Mặc dù được triệu tập với tư cách người liên quan không đồng nghĩa với việc đã bị xác định phạm tội, người được triệu tập vẫn cần thận trọng trong suốt quá trình làm việc. Đặc biệt, những nội dung được trình bày trong quá trình lấy lời khai có thể có ý nghĩa đối với việc xác minh vụ án.

Có thể thay đổi tư cách tố tụng nếu xuất hiện dấu hiệu tội phạm

Nếu trong quá trình điều tra xuất hiện căn cứ cho thấy người đang được triệu tập đã thực hiện hành vi được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm, Cơ quan điều tra có thể xem xét việc khởi tố bị can theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Khi đó, tư cách tố tụng của người này sẽ chuyển từ người có liên quan hoặc tư cách tố tụng trước đó sang bị can và quyền, nghĩa vụ tố tụng cũng có sự thay đổi đáng kể.

Đây là lý do người được triệu tập cần trình bày chính xác, trung thực và trong phạm vi những gì mình thực sự biết. Không nên cung cấp thông tin theo suy đoán hoặc cố gắng giải thích những vấn đề bản thân không trực tiếp biết rõ.

Lời khai có thể bất lợi nếu thiếu chính xác hoặc mâu thuẫn

Người chưa từng làm việc với cơ quan điều tra có thể chịu áp lực tâm lý và dễ trả lời thiếu chính xác. Những câu trả lời không rõ ràng, mâu thuẫn hoặc vượt quá phạm vi hiểu biết trực tiếp có thể khiến nội dung sự việc bị hiểu theo cách khác với thực tế.

Trong trường hợp cần thiết, việc trao đổi trước với luật sư hoặc có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đồng hành có thể giúp người được triệu tập hiểu rõ hơn về quyền, nghĩa vụ và cách trình bày các vấn đề thuộc phạm vi pháp luật cho phép.

Nếu nhận thấy có dấu hiệu mớm cung, ép cung hoặc những vấn đề bất thường trong quá trình lấy lời khai, người tham gia tố tụng cần kịp thời thực hiện các quyền theo quy định pháp luật.

Có thể phải làm việc nhiều lần

Một số vụ án ma túy có nhiều người, nhiều giao dịch hoặc nhiều tình tiết cần xác minh nên quá trình điều tra có thể phát sinh nhiều buổi lấy lời khai.

Việc phải làm việc nhiều lần có thể ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt và đời sống cá nhân của người được triệu tập, ngay cả khi họ không có hành vi vi phạm pháp luật.

Trong trường hợp có lý do chính đáng ảnh hưởng đến khả năng tham gia theo thời gian được yêu cầu, người được triệu tập nên chủ động trao đổi với cơ quan có thẩm quyền và thực hiện đúng yêu cầu tố tụng, thay vì tự ý bỏ qua giấy triệu tập.

Long Phan PMT hỗ trợ pháp lý cho người bị triệu tập trong vụ án ma túy

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng khi được triệu tập với tư cách người liên quan trong vụ án ma túy, tập trung vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.

Các nội dung hỗ trợ có thể bao gồm:

  • Kiểm tra thông tin và đánh giá giấy triệu tập;

  • Xác định tư cách tố tụng phù hợp của khách hàng;

  • Tư vấn quyền và nghĩa vụ tương ứng với tư cách tố tụng;

  • Hướng dẫn chuẩn bị nội dung, tài liệu trước khi làm việc với cơ quan điều tra;

  • Tư vấn cách trình bày lời khai đúng phạm vi hiểu biết và quy định pháp luật;

  • Đồng hành, hỗ trợ khách hàng trong quá trình lấy lời khai theo quy định;

  • Rà soát biên bản làm việc và kịp thời đề nghị điều chỉnh nếu nội dung ghi nhận không chính xác;

  • Theo dõi diễn biến vụ án và tư vấn phương án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình tố tụng.

Khách hàng có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.

Một số câu hỏi thường gặp

Bị triệu tập là người liên quan có đồng nghĩa sắp bị khởi tố không?

Không. Theo khoản 1 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Việc chuyển sang tư cách bị can chỉ được thực hiện khi Cơ quan điều tra có căn cứ theo quy định và ra quyết định khởi tố bị can theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Người liên quan có thể mời luật sư ngay từ buổi làm việc đầu tiên không?

Có. Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ghi nhận quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, trong đó có luật sư.

Không đến theo giấy triệu tập thì có bị xử lý không?

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo khoản 3 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuy nhiên, hậu quả của việc vắng mặt phải được xem xét căn cứ vào tư cách tố tụng, hoàn cảnh cụ thể và các quy định liên quan. Không thể mặc nhiên cho rằng mọi trường hợp vắng mặt đều bị dẫn giải, bởi Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về dẫn giải đối với những chủ thể và điều kiện cụ thể.

Lời khai của người liên quan có thể gây bất lợi cho chính họ không?

Có thể phát sinh rủi ro nếu nội dung khai báo không chính xác, mâu thuẫn với các chứng cứ khác hoặc vượt quá những gì người đó thực sự biết. Người được triệu tập nên phân biệt thông tin trực tiếp biết với thông tin nghe từ người khác, đồng thời không biến suy đoán thành sự thật khi trình bày.

Chủ nhà trọ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu phát hiện ma túy trong phòng cho thuê không?

Không thể chỉ dựa vào việc chất ma túy được phát hiện tại phòng cho thuê để kết luận chủ nhà phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng cần xác minh nhận thức, hành vi và các chứng cứ liên quan đến chủ nhà. Nếu có căn cứ cho thấy người này biết và có hành vi tạo điều kiện cho việc sử dụng trái phép chất ma túy thì có thể phát sinh vấn đề trách nhiệm hình sự theo các quy định tương ứng, trong đó có Điều 255, Điều 256 và Điều 257 Bộ luật Hình sự.

Người liên quan có được đọc lại biên bản trước khi ký không?

Người tham gia tố tụng nên đọc kỹ nội dung biên bản trước khi ký để bảo đảm thông tin được ghi nhận phù hợp với những gì mình đã trình bày. Nếu phát hiện nội dung chưa chính xác hoặc chưa phản ánh đầy đủ ý kiến của mình, cần đề nghị cơ quan lập biên bản xem xét, điều chỉnh theo quy định trước khi xác nhận.

Khi bị triệu tập là người liên quan trong vụ án ma túy, việc được triệu tập không đồng nghĩa với việc đã bị xác định phạm tội. Người được triệu tập cần xác định đúng tư cách tố tụng, kiểm tra giấy triệu tập, chuẩn bị tài liệu, trình bày trung thực trong phạm vi hiểu biết và chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trong trường hợp vụ việc có dấu hiệu phức tạp hoặc có khả năng ảnh hưởng đến quyền lợi, việc trao đổi với luật sư từ sớm có thể giúp quá trình làm việc được chuẩn bị phù hợp hơn. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Cần làm gì khi bị triệu tập là người liên quan trong vụ án ma túy?

>>> Xem thêm:

Read More

Tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động là căn cứ quan trọng để xác định mức suy giảm khả năng lao động và xem xét quyền hưởng các chế độ đối với người lao động. Trên thực tế, việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể không chỉ dựa vào tình trạng thương tích mà phải tuân thủ phương pháp giám định và bảng tỷ lệ do pháp luật quy định. Người lao động cũng cần phân biệt rõ tỷ lệ tổn thương cơ thể với mức tiền trợ cấp thực tế được nhận, bởi số tiền hưởng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Việc chuẩn bị đúng hồ sơ, áp dụng đúng quy định về giám định và xác định chính xác tỷ lệ suy giảm khả năng lao động giúp hạn chế tranh chấp, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người lao động và trách nhiệm của doanh nghiệp.

xac-dinh-ty-le-thuong-tat-do-tai-nan-lao-dong-theo-muc-do-ton-thuong-thuc-te-

Xác định tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động theo mức độ tổn thương thực tế.

Cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do tai nạn lao động

Tỷ lệ tổn thương cơ thể, trong thực tế thường được gọi là tỷ lệ thương tật, là một trong những căn cứ quan trọng để Hội đồng giám định y khoa xác định mức suy giảm khả năng lao động của người bị tai nạn lao động. Kết quả này có ý nghĩa trực tiếp khi giải quyết chế độ tai nạn lao động, bởi mức suy giảm được xác định sẽ là cơ sở để xem xét người lao động thuộc trường hợp hưởng trợ cấp một lần hay trợ cấp hằng tháng.

Tuy nhiên, tỷ lệ tổn thương cơ thể không phải là con số được xác định theo đánh giá riêng của bác sĩ điều trị hoặc do người lao động tự tính toán dựa trên hồ sơ bệnh án. Việc xác định phải được thực hiện theo nguyên tắc, phương pháp và bảng tỷ lệ được quy định tại Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH. Từ ngày 01/7/2025, hồ sơ và trình tự khám giám định được thực hiện theo Thông tư 25/2025/TT-BYT, thay thế Thông tư 56/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2022/TT-BYT.

Người lao động cũng cần lưu ý rằng điều kiện về tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để được hưởng chế độ tai nạn lao động từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là từ 5% trở lên nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác theo luật. Đồng thời, mức trợ cấp thực tế không chỉ căn cứ vào tỷ lệ tổn thương mà còn liên quan đến thời gian người lao động đã tham gia đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tiền lương làm căn cứ theo từng chế độ.

nguoi-lao-dong-co-the-duoc-huong-che-do-khi-suy-giam-kha-nang-lao-dong-tu-5-

Người lao động có thể được hưởng chế độ khi suy giảm khả năng lao động từ 5%.

Nguyên tắc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể

Theo Điều 2 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Đây là cơ sở để Hội đồng giám định y khoa xem xét từng thương tích và tổng hợp tỷ lệ trong trường hợp người lao động có nhiều tổn thương.

Trước hết, mỗi tổn thương cơ thể chỉ được xác định tỷ lệ một lần và không được tính trùng. Quy định này nhằm tránh việc một tổn thương được đưa vào nhiều mục khác nhau của bảng tỷ lệ rồi cộng dồn làm tăng không đúng tỷ lệ tổn thương thực tế.

Nếu người lao động chỉ có một tổn thương thì tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể được xác định theo giới hạn cao nhất của tỷ lệ phần trăm tương ứng với tổn thương đó trong bảng tỷ lệ. Khi có từ hai tổn thương trở lên, tỷ lệ của từng tổn thương không được cộng trực tiếp theo phép cộng thông thường mà phải được tổng hợp theo phương pháp được quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH.

Bên cạnh đó, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của một người không được vượt quá 100%. Tỷ lệ sau khi tổng hợp được thể hiện dưới dạng số nguyên; trường hợp phần thập phân từ 0,5 trở lên thì được làm tròn thành 01 đơn vị.

Cách tổng hợp tỷ lệ khi người lao động có nhiều tổn thương

Một trong những điểm dễ gây nhầm lẫn khi xác định tỷ lệ thương tật là trường hợp người lao động đồng thời bị nhiều thương tích. Trong trường hợp này, pháp luật không cho phép cộng đơn giản tỷ lệ của từng tổn thương để cho ra kết quả cuối cùng.

Theo Điều 3 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, tỷ lệ tổn thương được tổng hợp theo phương pháp lấy tỷ lệ của tổn thương cao nhất trước, sau đó tiếp tục xác định tỷ lệ của các tổn thương còn lại trên phần khả năng cơ thể chưa bị tổn thương.

Ví dụ, nếu người lao động có một tổn thương được xác định ở mức 30% và một tổn thương khác có tỷ lệ 20%, không thể lấy 30% cộng với 20% để kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 50%. Tỷ lệ của tổn thương tiếp theo phải được tính trên phần cơ thể còn lại theo đúng phương pháp tổng hợp mà Điều 3 quy định.

Cách tính này có ý nghĩa quan trọng vì kết quả cuối cùng có thể khác đáng kể so với việc cộng số học các tỷ lệ. Do đó, người lao động không nên tự lấy các tỷ lệ thương tích được thể hiện rời rạc trong hồ sơ bệnh án để dự đoán chính xác kết quả giám định. Kết luận chính thức phải được thực hiện bởi Hội đồng giám định y khoa theo đúng bảng tỷ lệ và phương pháp pháp luật quy định.

Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể được sử dụng khi giám định

Việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể phải căn cứ vào bảng tỷ lệ được ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH và được sửa đổi tại khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch 21/2014/TTLT-BYT-BLĐTBXH.

Các bảng tỷ lệ được xây dựng để áp dụng đối với nhiều dạng tổn thương, bệnh, tật và bệnh nghề nghiệp. Vì vậy, khi giám định tai nạn lao động, việc lựa chọn đúng mục tương ứng với thương tích thực tế có vai trò rất quan trọng.

Đối với trường hợp tai nạn lao động gây thương tích, Hội đồng giám định y khoa cần xác định chính xác loại tổn thương, vị trí bị tổn thương, mức độ tổn thương và đối chiếu với mục tương ứng trong bảng tỷ lệ số 1. Nếu xác định không đúng loại hoặc mức độ tổn thương, tỷ lệ được áp dụng có thể thay đổi và từ đó ảnh hưởng đến mức suy giảm khả năng lao động cũng như quyền hưởng chế độ của người lao động.

Trách nhiệm của doanh nghiệp khi người lao động bị tai nạn lao động

Kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể không phải là căn cứ duy nhất để xác định quyền lợi của người lao động. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp còn phải thực hiện các nghĩa vụ trực tiếp theo Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

Các trách nhiệm này cần được phân biệt với chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động có thể phát sinh ngay từ thời điểm xảy ra tai nạn và không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào việc người lao động đã có kết luận giám định cuối cùng hay chưa.

Thanh toán chi phí y tế và tiền lương trong thời gian điều trị

Theo khoản 1 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm kịp thời tổ chức sơ cứu, cấp cứu cho người lao động khi xảy ra tai nạn lao động và tạm ứng chi phí điều trị cho người bị tai nạn.

Khoản 2 Điều 38 Luật này tiếp tục quy định những khoản chi phí mà người sử dụng lao động phải thực hiện tùy thuộc vào tình trạng tham gia bảo hiểm y tế của người lao động và kết quả giám định.

Theo đó, doanh nghiệp phải thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những khoản chi phí không thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế đối với người lao động có tham gia bảo hiểm y tế. Trong trường hợp người lao động được người sử dụng lao động giới thiệu đi giám định nhưng kết quả suy giảm khả năng lao động dưới 5%, doanh nghiệp vẫn phải thanh toán phí khám giám định. Nếu người lao động không tham gia bảo hiểm y tế, người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế liên quan theo quy định.

Ngoài các khoản chi phí y tế, khoản 3 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 còn yêu cầu người sử dụng lao động trả đầy đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian nghỉ việc để điều trị và phục hồi chức năng lao động.

Bồi thường khi tai nạn không hoàn toàn do lỗi của người lao động

Nếu tai nạn lao động xảy ra không hoàn toàn do lỗi của chính người lao động, khoản 4 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người sử dụng lao động phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo mức tối thiểu tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

Cụ thể, nếu người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10%, mức bồi thường tối thiểu là 1,5 tháng tiền lương.

Đối với trường hợp suy giảm từ 11% đến 80%, cứ tăng thêm 1% suy giảm khả năng lao động thì mức bồi thường được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương.

Nếu người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc bị chết do tai nạn lao động thì mức bồi thường tối thiểu là 30 tháng tiền lương.

Đối với tai nạn xảy ra ngoài nơi làm việc nhưng người lao động đang thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành của người sử dụng lao động, trường hợp tai nạn do lỗi của người khác hoặc không xác định được người gây tai nạn thì khoản 1 Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 vẫn đặt ra trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động theo khoản 4 Điều 38.

Trợ cấp trong trường hợp tai nạn do lỗi của người lao động

Trường hợp tai nạn lao động xảy ra do lỗi của chính người lao động không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoàn toàn không có nghĩa vụ.

Theo khoản 5 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động vẫn phải thực hiện trợ cấp cho người lao động với mức tối thiểu bằng 40% mức bồi thường được xác định theo khoản 4 Điều 38, tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định những trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động. Các trường hợp này bao gồm tai nạn xảy ra do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây tai nạn nhưng không liên quan đến công việc; người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe; hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái quy định pháp luật.

ho-so-giam-dinh-va-muc-suy-giam-kha-nang-lao-dong-la-can-cu-giai-quyet-che-do-

Hồ sơ giám định và mức suy giảm khả năng lao động là căn cứ giải quyết chế độ.

Hồ sơ và trình tự giám định tỷ lệ thương tật

Để kết quả giám định được sử dụng làm căn cứ giải quyết chế độ, người lao động cần thực hiện đúng hồ sơ và trình tự do pháp luật quy định.

Từ ngày 01/7/2025, hồ sơ và trình tự khám giám định tai nạn lao động được thực hiện theo Thông tư 25/2025/TT-BYT. Việc sử dụng đúng mẫu giấy tờ, đúng chủ thể lập hồ sơ và đúng trình tự có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế tình trạng hồ sơ bị yêu cầu bổ sung hoặc kéo dài thời gian giải quyết.

Hồ sơ giám định lần đầu

Theo khoản 1 Điều 16 Thông tư 25/2025/TT-BYT, hồ sơ khám giám định lần đầu do tai nạn lao động gồm các giấy tờ cơ bản sau:

  • Giấy giới thiệu giám định y khoa theo Mẫu số 12 Phụ lục II nếu người lao động vẫn thuộc quyền quản lý của người sử dụng lao động;

  • Giấy đề nghị giám định y khoa theo Mẫu số 13 Phụ lục II nếu người lao động không còn thuộc quyền quản lý hoặc thuộc trường hợp được pháp luật quy định;

  • Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ gồm giấy ra viện, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tích;

  • Bản sao hợp lệ Biên bản điều tra tai nạn lao động trong trường hợp cá nhân tự đề nghị khám giám định;

  • Các giấy tờ chẩn đoán, điều trị khác nếu có.

Việc chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ này giúp cơ quan, Hội đồng có cơ sở xác định thương tích liên quan đến tai nạn lao động và tiến hành việc giám định theo quy định.

Chủ thể có trách nhiệm lập hồ sơ giám định

Điều 21 Thông tư 25/2025/TT-BYT phân định trách nhiệm lập hồ sơ tùy thuộc từng trường hợp cụ thể.

Theo khoản 1 Điều 21, người lao động tự lập và gửi hồ sơ trong một số trường hợp như giám định tái phát, không còn thuộc quyền quản lý của người sử dụng lao động và các trường hợp khác được điều luật quy định.

Trong khi đó, khoản 3 Điều 21 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm lập, hoàn chỉnh và gửi hồ sơ đối với những trường hợp không thuộc các khoản 1, 2, 4 và 5 của Điều này.

Trình tự khám giám định

Theo khoản 1 Điều 22 Thông tư 25/2025/TT-BYT, việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ và thực hiện trình tự khám giám định được tiến hành theo Thông tư 01/2023/TT-BYT về hoạt động của Hội đồng giám định y khoa các cấp.

Đối với tai nạn lao động, khoản 2 Điều 22 Thông tư 25/2025/TT-BYT xác định nội dung khám giám định tùy thuộc từng trường hợp.

Giám định lần đầu căn cứ vào những tổn thương liên quan đến tai nạn được ghi nhận trong giấy ra viện, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tích. Đối với giám định tái phát, Hội đồng xem xét những tổn thương đã được ghi nhận và những tổn thương nặng hơn được thể hiện trong hồ sơ điều trị. Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động nhiều lần thì thực hiện giám định tổng hợp theo quy định.

Khi nào được giám định lại hoặc giám định phúc quyết?

Pháp luật hiện hành phân biệt nhiều hình thức giám định khác nhau, trong đó có giám định lại do thương tật tái phát, giám định tổng hợp và giám định phúc quyết. Mỗi thủ tục có điều kiện áp dụng và hồ sơ tương ứng, do đó người lao động cần xác định đúng trường hợp trước khi thực hiện.

Giám định lại do thương tật tái phát

Theo Điều 17 Thông tư 25/2025/TT-BYT, người lao động có thể được giám định lại khi thương tật do tai nạn lao động tái phát, đã được điều trị và có tài liệu y tế chứng minh tổn thương nặng hơn so với lần giám định gần nhất.

Hồ sơ giám định lại bao gồm giấy giới thiệu hoặc giấy đề nghị giám định; bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện thể hiện tình trạng tổn thương nặng hơn; cùng bản sao hợp lệ Biên bản giám định y khoa của lần gần nhất.

Thời gian giữa các lần giám định

Khoản 3 Điều 47 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người lao động thuộc trường hợp thương tật hoặc bệnh tật tái phát tại điểm b khoản 1 Điều 47 được giám định lại sau 24 tháng kể từ ngày Hội đồng giám định y khoa đưa ra kết luận về tỷ lệ suy giảm khả năng lao động ở lần liền kề trước.

Pháp luật đồng thời có ngoại lệ đối với trường hợp bệnh nghề nghiệp có tính chất khiến sức khỏe người lao động suy giảm nhanh. Khi thuộc trường hợp này, việc giám định có thể được thực hiện sớm hơn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 47 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định nếu thương tật hoặc bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định thì người lao động có thể thực hiện thủ tục giám định trước hoặc ngay trong quá trình điều trị. Đây là trường hợp cần phân biệt với thời hạn giám định lại do thương tật tái phát.

Không đồng ý với kết quả giám định thì thực hiện phúc quyết

Trong trường hợp có căn cứ thực hiện giám định phúc quyết, Điều 19 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định hồ sơ phúc quyết đối với hai nhóm trường hợp gồm trường hợp vượt khả năng chuyên môn và trường hợp theo đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Nếu tiếp tục đề nghị giám định phúc quyết lần cuối thì hồ sơ được thực hiện theo Điều 20 Thông tư 25/2025/TT-BYT. Hồ sơ có thể bao gồm văn bản hoặc giấy đề nghị phúc quyết lần cuối, Biên bản giám định phúc quyết và quyết định thành lập Hội đồng giám định y khoa phúc quyết lần cuối của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Người lao động cần lưu ý rằng việc không đồng ý với kết quả giám định không đồng nghĩa với việc đương nhiên được tổ chức giám định lại. Việc phúc quyết phải đáp ứng điều kiện, thành phần hồ sơ và trình tự tương ứng theo Điều 19, Điều 20 Thông tư 25/2025/TT-BYT.

Tỷ lệ thương tật bao nhiêu thì được hưởng trợ cấp tai nạn lao động?

Theo khoản 2 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 45 mới đáp ứng điều kiện về tỷ lệ để hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Đồng thời, người lao động phải không thuộc các trường hợp loại trừ được quy định tại khoản 3 Điều 45.

Suy giảm từ 5% đến 30% được hưởng trợ cấp một lần

Theo khoản 2 Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm 5% khả năng lao động được hưởng mức trợ cấp bằng 05 lần mức tham chiếu. Sau đó, cứ tăng thêm 1% suy giảm khả năng lao động thì mức trợ cấp được tăng thêm 0,5 lần mức tham chiếu.

Ngoài phần trợ cấp tính theo tỷ lệ suy giảm, người lao động còn được hưởng khoản trợ cấp tính dựa trên thời gian đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nếu thời gian đóng từ 01 năm trở xuống thì khoản này được tính bằng 0,5 tháng tiền lương đóng quỹ; sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng quỹ thì được cộng thêm 0,3 tháng tiền lương đóng quỹ của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Suy giảm từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hằng tháng

Theo điểm a khoản 2 Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm 31% khả năng lao động được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 30% mức lương cơ sở. Sau đó, cứ tăng thêm 1% suy giảm khả năng lao động thì mức trợ cấp được cộng thêm 2% mức lương cơ sở.

Ngoài khoản trợ cấp tính theo tỷ lệ suy giảm, điểm b khoản 2 Điều 49 còn quy định khoản trợ cấp hằng tháng dựa trên số năm đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Với thời gian đóng từ 01 năm trở xuống, mức tính là 0,5% mức tiền lương đóng Quỹ; sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì được cộng thêm 0,3%.

Mức tham chiếu và mức lương cơ sở áp dụng từ ngày 01/7/2025

Điều 48 và Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 hiện vẫn sử dụng trực tiếp thuật ngữ “mức lương cơ sở” khi quy định cách tính trợ cấp một lần và trợ cấp hằng tháng. Trong khi đó, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đưa ra khái niệm “mức tham chiếu” tại Điều 7, nhưng Điều 139 của Luật này không sửa điểm a khoản 2 Điều 48 hoặc điểm a khoản 2 Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động sang thuật ngữ “mức tham chiếu”.

Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 161/2026/NĐ-CP đã tăng mức lương cơ sở từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Theo nội dung nguồn, cơ quan BHXH cũng xác nhận việc điều chỉnh này làm thay đổi các mức đóng và mức hưởng BHXH, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong những trường hợp có căn cứ tính theo lương cơ sở hoặc mức tham chiếu.

Như vậy, có thể khái quát rằng người lao động suy giảm từ 5% đến 30% thuộc trường hợp hưởng trợ cấp một lần, còn từ 31% trở lên thuộc trường hợp hưởng trợ cấp hằng tháng. Tuy nhiên, để xác định chính xác số tiền được hưởng cần xem xét đồng thời tỷ lệ suy giảm, thời gian đóng Quỹ và tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp.

Tai nạn trên đường đi làm có được xem là tai nạn lao động?

Không phải mọi tai nạn xảy ra trên đường đều được mặc nhiên xác định là tai nạn lao động. Theo điểm c khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tai nạn xảy ra trên tuyến đường từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở, trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý, thuộc một trong các trường hợp tai nạn lao động theo quy định.

Để được hưởng chế độ, người lao động vẫn phải đáp ứng điều kiện suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên cùng các điều kiện khác theo luật.

Trong trường hợp tai nạn trên đường đi làm do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây tai nạn, khoản 2 Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người sử dụng lao động vẫn có trách nhiệm trợ cấp cho người lao động theo mức tương ứng tại khoản 5 Điều 38 của Luật này.

Những rủi ro pháp lý khi xác định tỷ lệ thương tật

Quá trình xác định tỷ lệ thương tật có thể phát sinh nhiều vấn đề nếu người lao động hoặc doanh nghiệp áp dụng sai căn cứ pháp lý, sử dụng hồ sơ không đầy đủ hoặc nhầm lẫn giữa các thủ tục khác nhau. Những sai sót này có thể ảnh hưởng đến quá trình giám định cũng như việc giải quyết quyền lợi.

Sử dụng văn bản giám định đã hết hiệu lực

Từ ngày 01/7/2025, hồ sơ và trình tự khám giám định phải được thực hiện theo Thông tư 25/2025/TT-BYT. Thông tư 56/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2022/TT-BYT đã hết hiệu lực kể từ thời điểm này.

Do đó, người lao động và bộ phận nhân sự cần kiểm tra lại mẫu biểu, căn cứ pháp luật và thành phần hồ sơ trước khi nộp. Việc tiếp tục sử dụng quy định hoặc biểu mẫu của văn bản đã hết hiệu lực có thể dẫn đến việc hồ sơ bị yêu cầu điều chỉnh, bổ sung hoặc trả lại.

Nhầm tỷ lệ tổn thương cơ thể với số tiền trợ cấp

Một tỷ lệ suy giảm khả năng lao động nhất định không đồng nghĩa với một khoản tiền trợ cấp cố định cho mọi trường hợp.

Theo điểm b khoản 2 Điều 48 và điểm b khoản 2 Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, mức trợ cấp còn phụ thuộc vào thời gian người lao động đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tiền lương làm căn cứ đóng Quỹ.

Vì vậy, hai người cùng được xác định suy giảm 20% hoặc cùng suy giảm 40% vẫn có thể có mức trợ cấp khác nhau nếu thời gian đóng Quỹ hoặc tiền lương làm căn cứ đóng khác nhau.

Không ghi nhận đầy đủ tổn thương trong quá trình giám định

Khoản 2 Điều 22 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định nội dung giám định lần đầu dựa trên những tổn thương liên quan đến tai nạn được ghi nhận trong giấy ra viện, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tích.

Tuy nhiên, khoản 4 Điều 22 còn quy định rằng trong quá trình khám, nếu phát hiện tổn thương khác thì tổn thương đó cũng được ghi nhận tại kết quả khám hiện tại. Vì vậy, không nên hiểu một cách tuyệt đối rằng Hội đồng giám định y khoa chỉ xem xét những tổn thương xuất hiện trong hồ sơ ban đầu.

Chậm lập hồ sơ giám định hoặc hồ sơ hưởng chế độ

Hồ sơ giám định y khoa và hồ sơ đề nghị hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là hai thủ tục có tính chất khác nhau. Điều 21 Thông tư 25/2025/TT-BYT xác định chủ thể có trách nhiệm lập hồ sơ giám định trong từng trường hợp.

Sau khi đáp ứng điều kiện hưởng chế độ, Điều 57 và Điều 59 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 tiếp tục quy định về hồ sơ hưởng chế độ và thời hạn giải quyết. Theo khoản 1 Điều 59, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ xác định tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động tại Long Phan PMT

Đối với những vụ việc có nhiều thương tích, hồ sơ y tế phức tạp hoặc phát sinh tranh chấp về trách nhiệm bồi thường, trợ cấp, việc rà soát hồ sơ và xác định đúng quy định pháp luật có thể giúp các bên hạn chế sai sót trong quá trình giải quyết.

Long Phan PMT hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp trong các vấn đề liên quan đến tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động, bao gồm:

  • Rà soát hồ sơ tai nạn lao động và biên bản điều tra tai nạn;

  • Kiểm tra điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định;

  • Rà soát hồ sơ bệnh án, giấy chứng nhận thương tích để xem xét các tổn thương cần được giám định;

  • Hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ giám định lần đầu theo đúng mẫu biểu của Thông tư 25/2025/TT-BYT;

  • Hỗ trợ thực hiện thủ tục giám định lại do thương tật tái phát;

  • Hỗ trợ hồ sơ giám định phúc quyết khi có căn cứ thực hiện;

  • Kiểm tra sự phù hợp giữa kết quả giám định và hồ sơ bệnh án;

  • Tính toán mức trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hằng tháng dựa trên tỷ lệ tổn thương và thời gian đóng Quỹ;

  • Xác định khoản bồi thường, trợ cấp mà người sử dụng lao động phải thực hiện theo Điều 38, Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015;

  • Rà soát hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bảo hiểm tai nạn lao động;

  • Hỗ trợ đại diện khiếu nại và bảo vệ quyền lợi khi việc giải quyết chế độ có dấu hiệu không đúng quy định.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.

Câu hỏi thường gặp về tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động

Bị tai nạn lao động bao nhiêu phần trăm thì được hưởng chế độ?

Theo khoản 2 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn lao động thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 45 và không thuộc trường hợp loại trừ tại khoản 3 Điều 45 mới đủ điều kiện hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Nếu mức suy giảm dưới 5%, người lao động không đủ điều kiện nhận trợ cấp từ Quỹ theo điều kiện về tỷ lệ, nhưng vẫn có thể phát sinh quyền được người sử dụng lao động thanh toán chi phí khám giám định theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

Tỷ lệ từ 5% đến 30% được hưởng chế độ gì?

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thuộc trường hợp hưởng trợ cấp một lần theo Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Khoản trợ cấp gồm phần tính theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động và phần tính thêm dựa trên số năm đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Tỷ lệ từ 31% trở lên được hưởng chế độ gì?

Theo Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thuộc trường hợp hưởng trợ cấp hằng tháng. Mức trợ cấp được tính theo tỷ lệ suy giảm và có phần trợ cấp bổ sung căn cứ vào thời gian đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Không đồng ý với kết quả giám định thì phải làm gì?

Trong trường hợp thuộc điều kiện thực hiện phúc quyết, người lao động có thể đề nghị giám định phúc quyết theo Điều 19 Thông tư 25/2025/TT-BYT. Nếu vẫn không đồng ý với kết quả phúc quyết, có thể tiếp tục đề nghị giám định phúc quyết lần cuối theo Điều 20 Thông tư này, với việc thực hiện theo hồ sơ và trình tự được pháp luật quy định.

Có nhiều thương tật thì có được cộng tỷ lệ trực tiếp với nhau không?

Không nên tự cộng số học tỷ lệ của từng thương tích. Trường hợp có nhiều tổn thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể phải được tổng hợp theo phương pháp quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, trên cơ sở lấy tỷ lệ tổn thương cao nhất trước và tính các tổn thương tiếp theo trên phần cơ thể còn lại.

Tai nạn trên đường đi làm có được hưởng chế độ tai nạn lao động không?

Có thể được hưởng nếu tai nạn xảy ra trên tuyến đường và trong khoảng thời gian hợp lý từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở, thuộc trường hợp được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Ngoài điều kiện về địa điểm, tuyến đường và thời gian, người lao động còn phải đáp ứng điều kiện suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên để được hưởng trợ cấp theo quy định.

Việc xác định đúng tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết chế độ bảo hiểm, trợ cấp và trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động. Người lao động cần tuân thủ đúng nguyên tắc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, sử dụng đúng bảng tỷ lệ, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ giám định và phân biệt rõ thủ tục giám định lần đầu, giám định lại, giám định tổng hợp và giám định phúc quyết. Đồng thời, tỷ lệ suy giảm khả năng lao động chỉ là một yếu tố để xác định quyền lợi, bởi mức trợ cấp còn có thể phụ thuộc vào thời gian đóng Quỹ và tiền lương làm căn cứ theo từng chế độ.

Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Toàn tập hướng dẫn cách xác định tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động

>> Xem thêm:



Read More

My maps