Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, quy chuẩn kỹ thuật môi trường gắn với một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với việc xác định hậu quả của hành vi phạm tội, căn cứ khởi tố, định tội, định khung hình phạt và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Kết quả giám định pháp y về thương tích không đơn thuần phản ánh tình trạng sức khỏe mà còn là nguồn chứng cứ được sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, người bị hại, người bị tố giác, bị can và những người tham gia tố tụng cần hiểu rõ quyền đề nghị trưng cầu, quyền tự yêu cầu giám định, thành phần hồ sơ, phương pháp tính tỷ lệ tổn thương cơ thể cũng như thủ tục giám định bổ sung hoặc giám định lại. Long Phan PMT phân tích chi tiết các giám định phần trăm thương tich nhằm giúp Quý khách hàng chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong từng giai đoạn tố tụng hình sự.

giam-dinh-thuong-tich-lam-can-cu-xu-ly-hinh-su-va-boi-thuong

Giám định thương tích làm căn cứ xử lý hình sự và bồi thường 

Giá trị của kết quả giám định tỷ lệ thương tích đối với vụ án hình sự

Trong một vụ án có hành vi xâm phạm sức khỏe, kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể có thể tác động trực tiếp đến hướng xử lý của cơ quan tiến hành tố tụng. Đây là tài liệu chuyên môn được lập bởi người có chuyên môn giám định, nhằm đưa ra kết luận đối với những vấn đề mà cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người có quyền yêu cầu giám định đặt ra.

Thông qua kết luận giám định, cơ quan có thẩm quyền có thể xác định rõ hơn mức độ thiệt hại về sức khỏe, đặc điểm của thương tích và hậu quả thực tế mà hành vi gây ra. Những thông tin này đặc biệt có giá trị trong các vụ việc liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Trước hết, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể có thể được sử dụng để xem xét dấu hiệu cấu thành tội phạm. Trong nhiều trường hợp, mức độ tổn thương của người bị hại là một trong những dữ kiện có ảnh hưởng đến việc cơ quan tiến hành tố tụng xác định có hay không căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, việc đánh giá trách nhiệm hình sự không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ thương tích mà còn phải được xem xét đồng thời với công cụ, phương tiện, tính chất hành vi và những tình tiết khác của vụ việc.

Bên cạnh đó, kết luận giám định còn có ý nghĩa đối với việc xác định khung hình phạt. Cùng một hành vi gây thương tích nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể khác nhau hoặc đi kèm các tình tiết khác nhau có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý không giống nhau. Vì vậy, tính chính xác của kết quả giám định có thể ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.

Ở góc độ dân sự trong vụ án hình sự, kết luận giám định là một trong những tài liệu hỗ trợ xác định mức độ thiệt hại về sức khỏe. Căn cứ vào tình trạng thương tích, quá trình điều trị và hậu quả sức khỏe, người bị hại có thể yêu cầu xem xét các khoản chi phí điều trị, phục hồi sức khỏe, chi phí chăm sóc, khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, tổn thất tinh thần và những thiệt hại khác nếu có căn cứ.

Kết quả giám định đồng thời giúp bảo đảm quyền của cả người bị hại và người bị buộc tội. Người bị hại có cơ sở chuyên môn để chứng minh hậu quả mà mình phải chịu. Ngược lại, người bị tố giác, bị can hoặc người bào chữa có thể sử dụng hồ sơ chuyên môn để kiểm tra tính phù hợp giữa thương tích, tài liệu y tế và nội dung buộc tội.

Theo Điểm d Khoản 1 Điều 87 và Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, kết luận giám định là nguồn chứng cứ được sử dụng trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án.

Ngoài ra, theo Khoản 3 và Khoản 4 Điều 35 Luật Giám định tư pháp 2025, kết luận giám định tư pháp được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và sử dụng trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án.

Điều này cho thấy giấy chứng nhận thương tích, bệnh án, giấy ra viện hay kết quả chụp chiếu tại cơ sở y tế có giá trị cung cấp thông tin về tình trạng điều trị nhưng không thể mặc nhiên thay thế kết luận giám định pháp y trong trường hợp pháp luật yêu cầu phải thực hiện giám định.

Do đó, việc chỉ thu thập hồ sơ điều trị mà không thực hiện đúng thủ tục giám định có thể khiến cơ quan tiến hành tố tụng thiếu căn cứ chuyên môn để đánh giá đầy đủ hậu quả của hành vi, từ đó ảnh hưởng đến quá trình khởi tố, định tội, định khung hình phạt và giải quyết yêu cầu bồi thường.

Trường hợp phải trưng cầu và quyền yêu cầu giám định thương tích

Trong tố tụng hình sự, người bị thương không phải trong mọi trường hợp đều có thể trực tiếp mang hồ sơ đến tổ chức pháp y để yêu cầu giám định ngay từ đầu. Pháp luật thiết lập cơ chế trưng cầu giám định thông qua cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đồng thời dành cho đương sự cơ chế tự mình yêu cầu giám định khi đáp ứng điều kiện nhất định.

Theo Khoản 4 Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định khi cần xác định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động.

Quy định này có ý nghĩa bảo đảm việc đánh giá thương tích được thực hiện bởi chủ thể có chuyên môn thay vì dựa trên nhận định chủ quan hoặc chỉ dựa vào lời khai của các bên. Khi hậu quả sức khỏe có khả năng ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện thủ tục trưng cầu theo quy định.

Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đương sự, người đại diện, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định.

Như vậy, quyền đề nghị giám định không chỉ thuộc về người bị hại. Trong trường hợp kết quả giám định có khả năng ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của mình, người bị tố giác, bị can hoặc người bào chữa cũng có quyền đưa ra đề nghị để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét.

Trong thực tiễn, nếu nhận thấy việc xác định tỷ lệ thương tích có ý nghĩa đối với quá trình giải quyết vụ án nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành quyết định trưng cầu, người có quyền lợi liên quan nên thực hiện đề nghị bằng văn bản. Văn bản cần trình bày rõ sự việc, nội dung cần giám định và kèm theo các tài liệu y tế hiện có để cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xem xét.

Đối với quyền tự mình yêu cầu giám định, đây không phải là cơ chế được sử dụng tùy ý ngay từ đầu.

Theo Khoản 3 Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đương sự hoặc người đại diện của họ chỉ được tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định nhưng đề nghị đó không được chấp nhận.

Đồng thời, Khoản 3 Điều 3 Luật Giám định tư pháp 2025 cũng xác định người yêu cầu giám định tư pháp là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đề nghị trưng cầu giám định không được chấp nhận.

Do đó, trình tự xử lý phù hợp thông thường sẽ là người có quyền trước tiên đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định. Nếu đề nghị không được chấp nhận và người đó thuộc trường hợp pháp luật cho phép, họ mới có cơ sở thực hiện quyền tự yêu cầu tổ chức giám định tư pháp.

Cần lưu ý rằng việc có quyền yêu cầu không đồng nghĩa tổ chức giám định phải tiếp nhận tất cả hồ sơ trong mọi trường hợp.

Theo Khoản 1 Điều 38 Luật Giám định tư pháp 2025, tổ chức giám định có quyền từ chối thực hiện nếu nội dung yêu cầu không thuộc phạm vi chuyên môn, tài liệu không đủ cơ sở phục vụ việc kết luận, điều kiện thiết bị không đáp ứng hoặc việc tiếp nhận không bảo đảm tính độc lập, khách quan theo quy định.

Vì vậy, trước khi gửi hồ sơ, người yêu cầu nên kiểm tra kỹ tư cách của mình, nội dung cần giám định và toàn bộ tài liệu y tế liên quan. Hồ sơ càng rõ ràng, đầy đủ và được sắp xếp theo đúng mục đích giám định thì nguy cơ bị yêu cầu bổ sung hoặc từ chối tiếp nhận càng được hạn chế.

Hồ sơ đề nghị trưng cầu hoặc yêu cầu giám định thương tích

Hồ sơ giám định thương tích không nên chỉ bao gồm một giấy chứng nhận thương tích hoặc giấy ra viện. Để tổ chức giám định có thể đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe, hồ sơ cần thể hiện được quá trình phát sinh thương tích, quá trình khám chữa bệnh, kết quả cận lâm sàng và các tài liệu có liên quan đến diễn biến vụ việc.

Việc phân biệt giữa hồ sơ đề nghị trưng cầu và hồ sơ tự yêu cầu giám định cũng rất cần thiết.

Nếu gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang giải quyết vụ án, người tham gia tố tụng sử dụng đơn đề nghị trưng cầu giám định. Ngược lại, khi đã đáp ứng điều kiện tự mình yêu cầu giám định và gửi trực tiếp đến tổ chức giám định tư pháp, người yêu cầu cần lập văn bản yêu cầu giám định phù hợp.

Theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 26 và Khoản 1 Điều 29 Luật Giám định tư pháp 2025, hồ sơ trưng cầu bao gồm quyết định trưng cầu cùng các thông tin, tài liệu, đồ vật liên quan và đối tượng cần giám định nếu có.

Đối với trường hợp cá nhân tự yêu cầu giám định, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 27 Luật Giám định tư pháp 2025 quy định người yêu cầu phải gửi văn bản yêu cầu giám định, hồ sơ yêu cầu và giấy tờ chứng minh tư cách của mình.

Tùy diễn biến từng vụ việc, nhóm tài liệu nên được chuẩn bị có thể bao gồm:

  • Đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền trưng cầu giám định hoặc văn bản yêu cầu tổ chức giám định thực hiện giám định, trong đó nêu cụ thể vấn đề cần được kết luận.

  • Giấy chứng nhận thương tích do cơ sở khám chữa bệnh cấp.

  • Hồ sơ bệnh án liên quan đến quá trình cấp cứu, điều trị nội trú hoặc ngoại trú.

  • Giấy ra viện, đơn thuốc, toa thuốc và các chỉ định chuyên môn có liên quan.

  • Kết quả X-quang, CT, MRI, siêu âm hoặc tài liệu cận lâm sàng khác thể hiện đặc điểm của tổn thương.

  • Ảnh chụp thương tích được ghi nhận tại thời điểm xảy ra vụ việc hoặc trong quá trình điều trị.

  • Dữ liệu camera, hình ảnh, video hoặc các tài liệu phản ánh diễn biến hành vi gây thương tích.

  • Lời khai nhân chứng hoặc tài liệu liên quan đến nguồn gốc hình thành thương tích.

  • Biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tài liệu tố tụng có liên quan.

  • Chứng từ chứng minh chi phí khám bệnh, chữa bệnh, thuốc men và phục hồi sức khỏe.

  • Tài liệu chứng minh khoản thu nhập bị mất hoặc giảm sút trong thời gian điều trị.

  • Tài liệu liên quan đến người trực tiếp chăm sóc trong trường hợp người bị hại cần người chăm sóc.

  • Những chứng cứ thể hiện ảnh hưởng của thương tích đối với khả năng lao động hoặc sinh hoạt của người bị hại.

Việc chuẩn bị đầy đủ tài liệu không chỉ hỗ trợ tổ chức giám định mà còn góp phần hạn chế tình trạng phải bổ sung hồ sơ nhiều lần. Nếu hồ sơ thiếu phim chụp, bệnh án hoặc tài liệu thể hiện diễn biến điều trị, tổ chức giám định có thể gặp khó khăn trong việc đánh giá chính xác từng tổn thương.

Đặc biệt, người có yêu cầu cần kiểm tra sự thống nhất giữa các loại giấy tờ. Trường hợp bệnh án ghi nhận một vị trí tổn thương nhưng giấy chứng nhận thương tích hoặc phim chụp thể hiện thông tin khác, sự không thống nhất này cần được rà soát ngay trước khi đưa vào hồ sơ giám định.

Trình tự thực hiện giám định và thời hạn ban hành kết luận

Việc giám định tỷ lệ thương tích trong vụ án hình sự phải được tiến hành theo đúng trình tự tố tụng. Nếu thực hiện không đúng chủ thể, sai loại văn bản hoặc hồ sơ chưa đáp ứng yêu cầu, thời gian giải quyết có thể bị kéo dài.

Thông thường, quá trình thực hiện được triển khai qua các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị và nộp đề nghị trưng cầu giám định

Người bị hại, người bị tố giác, bị can, người bào chữa hoặc chủ thể có quyền theo quy định chuẩn bị văn bản đề nghị và gửi đến cơ quan đang có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Nội dung đề nghị nên xác định rõ vấn đề cần giám định, chẳng hạn tỷ lệ tổn thương cơ thể, tính chất của thương tích hoặc những vấn đề chuyên môn có liên quan.

Bước 2: Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét đề nghị

Sau khi tiếp nhận, cơ quan có thẩm quyền đánh giá sự cần thiết của việc giám định dựa trên tài liệu của vụ án và quy định pháp luật.

Nếu thuộc trường hợp cần phải trưng cầu giám định để xác định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành quyết định trưng cầu.

Bước 3: Chuyển quyết định trưng cầu, hồ sơ và đối tượng giám định

Theo Khoản 3 Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan trưng cầu phải gửi quyết định trưng cầu, hồ sơ và đối tượng trưng cầu trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.

Việc chuyển giao kịp thời giúp tổ chức giám định sớm tiếp nhận tài liệu và triển khai các hoạt động chuyên môn cần thiết.

Bước 4: Tổ chức giám định xem xét việc tiếp nhận

Theo Khoản 3 Điều 28 Luật Giám định tư pháp 2025, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được trưng cầu hoặc yêu cầu giám định, tổ chức giám định phải thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận hoặc từ chối thực hiện.

Nếu từ chối, việc từ chối phải được thực hiện theo căn cứ pháp luật. Do đó, người gửi hồ sơ cần kiểm tra kỹ nội dung thông báo để xác định liệu cần bổ sung tài liệu, điều chỉnh nội dung yêu cầu hay lựa chọn hướng xử lý khác.

Bước 5: Thực hiện hoạt động giám định

Sau khi hồ sơ được tiếp nhận, giám định viên nghiên cứu tài liệu y tế, kiểm tra kết quả cận lâm sàng, đối chiếu diễn biến điều trị và thực hiện việc khám trực tiếp đối với người cần giám định khi thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu.

Quá trình này nhằm nhận diện từng tổn thương, xác định mức độ ảnh hưởng và lựa chọn tỷ lệ phù hợp trong bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Bước 6: Ban hành kết luận giám định

Theo Điểm c Khoản 1 Điều 208 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn giám định tối đa đối với trường hợp bắt buộc trưng cầu nhằm xác định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động là 09 ngày.

Tuy nhiên, cần hiểu đúng thời điểm bắt đầu tính thời hạn.

Theo Khoản 3 Điều 30 Luật Giám định tư pháp 2025, thời hạn giám định được tính kể từ ngày người giám định hoặc tổ chức giám định nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Như vậy, việc một cá nhân nộp đơn đề nghị trưng cầu không đồng nghĩa thời hạn 09 ngày lập tức bắt đầu. Trước đó còn có quá trình cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, ban hành quyết định, chuyển hồ sơ và tổ chức giám định kiểm tra tính đầy đủ của tài liệu.

Trong trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp hoặc cần thực hiện hội chẩn, Khoản 5 Điều 30 Luật Giám định tư pháp 2025 cho phép thời gian thực hiện có thể được gia hạn nhưng không quá một phần hai thời hạn giám định tối đa.

Do đó, người tham gia tố tụng nên theo dõi không chỉ ngày nộp đơn mà còn cần xác định thời điểm cơ quan giám định thực tế nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đây mới là mốc có ý nghĩa khi đánh giá tiến độ thực hiện giám định theo quy định.

Cách xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể

Một điểm dễ gây nhầm lẫn là tỷ lệ tổn thương cơ thể không được xác định bằng cách cộng trực tiếp tất cả tỷ lệ của từng vết thương.

Trong hoạt động giám định pháp y, giám định viên phải xác định từng loại tổn thương, đối chiếu với bảng tỷ lệ được pháp luật quy định và áp dụng phương pháp cộng lùi để xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Việc giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể về nguyên tắc phải thực hiện trực tiếp trên người cần giám định.

Theo Điều 2 Thông tư số 22/2019/TT-BYT, chỉ thực hiện giám định trên hồ sơ trong trường hợp người cần giám định đã chết, mất tích hoặc thuộc trường hợp đặc biệt khác theo quy định.

Như vậy, hồ sơ bệnh án, phim chụp, giấy chứng nhận thương tích hay giấy ra viện mặc dù có giá trị chuyên môn nhưng thông thường chỉ đóng vai trò tài liệu để giám định viên đối chiếu. Các tài liệu này không mặc nhiên thay thế hoạt động khám giám định trực tiếp khi pháp luật yêu cầu.

Công thức xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể được thực hiện theo nguyên tắc:

Tổng tỷ lệ % TTCT = T1 + T2 + T3 + … + Tn

Trong công thức trên:

  • T1 là tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của tổn thương thứ nhất và được xác định theo khung tỷ lệ tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.

  • T2 được xác định theo công thức: T2 = (100 – T1) x tỷ lệ % TTCT thứ 2/100.

  • T3 được xác định theo công thức: T3 = (100 – T1 – T2) x tỷ lệ % TTCT thứ 3/100.

  • Tn được xác định theo công thức: Tn = {100 – T1 – T2 – T3 – … – T(n-1)} x tỷ lệ % TTCT thứ n/100.

Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 22/2019/TT-BYT, kết quả cuối cùng là tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sau khi được làm tròn số và tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của một người phải nhỏ hơn 100%.

Đây chính là điểm tạo nên sự khác biệt giữa phương pháp cộng lùi và việc cộng số học thông thường.

Ví dụ, khi một người có nhiều tổn thương ở các bộ phận khác nhau trên cơ thể, tỷ lệ của tổn thương thứ hai không được cộng nguyên vẹn vào tỷ lệ thứ nhất. Tổn thương tiếp theo sẽ được tính dựa trên phần tỷ lệ sức khỏe còn lại sau khi đã xác định tổn thương trước.

Vì vậy, việc tự lấy các tỷ lệ dự kiến của từng vết thương rồi cộng lại thường không phản ánh chính xác tỷ lệ tổn thương cơ thể theo phương pháp pháp y.

Đây cũng là lý do người bị hại không nên chỉ căn cứ vào mô tả thương tích trên giấy ra viện để tự xác định mức phần trăm thương tích của mình.

Kết luận giám định phải bảo đảm khách quan, phù hợp với chuyên môn và có sự tương thích với hồ sơ y tế.

Theo Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người giám định tư pháp kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định mà không có lý do hợp pháp có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đồng thời, Điểm i Khoản 1 Điều 24 Luật Giám định tư pháp 2025 cũng xác định nghĩa vụ không được từ chối kết luận giám định nếu không có căn cứ luật định.

Mặc dù tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là một chỉ số kỹ thuật chuyên môn, kết quả này có thể dẫn đến những hệ quả pháp lý lớn trong vụ án hình sự.

Một sự khác biệt trong việc ghi nhận tổn thương, lựa chọn mức tỷ lệ hoặc áp dụng phương pháp tính có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá dấu hiệu tội phạm, căn cứ xử lý, mức độ trách nhiệm hình sự, phạm vi yêu cầu bồi thường hoặc phương án bào chữa.

Vì vậy, khi phát hiện kết luận giám định có điểm chưa phù hợp, người tham gia tố tụng cần đối chiếu lại bệnh án, kết quả chụp chiếu, bảng tỷ lệ và toàn bộ quy trình thực hiện giám định trước khi đưa ra yêu cầu tiếp theo.

can-chuan-bi-du-ho-so-khi-de-nghi-giam-dinh-thuong-tich

Cần chuẩn bị đủ hồ sơ khi đề nghị giám định thương tích

Khi nào được đề nghị giám định bổ sung thương tích?

Giám định bổ sung là cơ chế được áp dụng khi kết quả giám định lần đầu chưa giải quyết đầy đủ những vấn đề cần thiết hoặc trong quá trình giải quyết vụ án xuất hiện nội dung mới cần được làm rõ bằng kiến thức chuyên môn.

Theo Khoản 1 Điều 210 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Khoản 1 Điều 32 Luật Giám định tư pháp 2025, giám định bổ sung được thực hiện khi kết luận giám định trước đó chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án.

Như vậy, giám định bổ sung không có mục đích phủ nhận toàn bộ kết quả giám định trước. Cơ chế này chủ yếu được sử dụng để bổ sung những phần còn thiếu hoặc làm rõ những nội dung chưa được kết luận đầy đủ.

Chẳng hạn, kết luận ban đầu có thể mới đánh giá một số tổn thương nhưng chưa xem xét một tổn thương khác đã được thể hiện trong hồ sơ bệnh án hoặc phim chụp. Trong trường hợp này, việc đề nghị giám định bổ sung có thể là hướng xử lý phù hợp.

Giám định bổ sung cũng có thể phát sinh khi sau thời điểm giám định xuất hiện thêm tài liệu y tế có ý nghĩa đối với việc xác định hậu quả của thương tích.

Người đề nghị nên chỉ ra cụ thể vấn đề chưa được kết luận, thay vì trình bày chung chung rằng mình không đồng ý với tỷ lệ thương tích.

Việc xác định đúng nội dung cần bổ sung sẽ giúp cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở rõ ràng hơn khi xem xét đề nghị.

Khi nào có thể yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích?

Khác với giám định bổ sung, giám định lại được đặt ra khi có căn cứ nghi ngờ tính chính xác của kết luận giám định đã có.

Theo Khoản 1 Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Khoản 2 Điều 32 Luật Giám định tư pháp 2025, việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác và phải do người giám định khác thực hiện.

Mục đích của quy định này là bảo đảm tính độc lập khi đánh giá lại vấn đề chuyên môn đang có tranh luận.

Một số dấu hiệu thực tế có thể là căn cứ để người tham gia tố tụng xem xét việc đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại gồm:

  • Thông tin về vị trí, kích thước hoặc đặc điểm thương tích trong bệnh án không thống nhất với nội dung kết luận giám định.

  • Phim X-quang, CT hoặc MRI thể hiện một tổn thương nhưng kết luận giám định không đề cập hoặc chưa đánh giá.

  • Kết luận giám định không giải thích đầy đủ mối liên hệ giữa các tổn thương và sự việc đang được điều tra.

  • Xuất hiện tài liệu y tế mới có khả năng làm thay đổi việc đánh giá tình trạng sức khỏe.

  • Sau lần giám định đầu xuất hiện biến chứng hoặc diễn biến điều trị có liên quan trực tiếp đến thương tích.

  • Có căn cứ cho rằng quá trình tiếp nhận tài liệu, khám giám định hoặc đánh giá tổn thương chưa bảo đảm khách quan.

  • Kết luận chuyên môn có nội dung khó giải thích hoặc không tương thích với tài liệu điều trị được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Để đề nghị có cơ sở hơn, người tham gia tố tụng nên rà soát từng điểm khác biệt giữa kết luận giám định và tài liệu y tế thay vì chỉ đưa ra nhận định rằng kết quả quá cao hoặc quá thấp.

Đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại nên được thực hiện bằng văn bản nhằm tạo căn cứ chứng minh người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền của mình.

Trình tự thực tế có thể tiến hành như sau:

Thứ nhất, rà soát toàn bộ kết luận giám định. Người đề nghị cần xác định chính xác nội dung chưa rõ, thiếu thông tin hoặc có khả năng chưa chính xác.

Thứ hai, đối chiếu với hồ sơ y tế. Cần kiểm tra bệnh án, giấy ra viện, kết quả X-quang, CT, MRI, ảnh thương tích và các tài liệu điều trị khác.

Thứ ba, thu thập chứng cứ mới nếu có. Trường hợp người bị thương tiếp tục điều trị hoặc xuất hiện tình trạng sức khỏe mới liên quan đến thương tích, tài liệu phát sinh cần được lưu giữ và cung cấp.

Thứ tư, lập đơn đề nghị. Đơn được gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang giải quyết vụ án, tùy thuộc giai đoạn tố tụng.

Thứ năm, theo dõi việc giải quyết. Khi đề nghị không được chấp nhận, người tham gia tố tụng cần xem xét lý do và tiếp tục thực hiện quyền kiến nghị nếu có căn cứ chuyên môn hoặc tài liệu cho thấy việc giám định cần được xem xét lại.

Trong trường hợp đặc biệt, Điều 212 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định việc giám định lại thuộc thẩm quyền quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định.

Đây là thủ tục áp dụng trong trường hợp đặc biệt, không phải cơ chế giám định lại thông thường được áp dụng đối với tất cả các vụ án.

Người tham gia tố tụng cũng cần quan tâm đến yếu tố thời điểm. Nếu có mâu thuẫn trong kết luận nhưng không kịp thời đề nghị làm rõ, kết quả ban đầu vẫn có thể được cơ quan tiến hành tố tụng xem xét và sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Điều này có thể ảnh hưởng đến căn cứ khởi tố, nội dung buộc tội, phạm vi trách nhiệm hình sự, nghĩa vụ bồi thường cũng như khả năng bảo vệ quyền lợi của các bên.

Những lưu ý giúp bảo vệ quyền lợi khi giám định thương tích

Người tham gia tố tụng cần lưu ý rằng kết quả giám định thường được hình thành từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. Bên cạnh việc khám trực tiếp, giám định viên còn dựa trên hồ sơ điều trị, kết quả cận lâm sàng và những tài liệu liên quan.

Do đó, việc bảo quản hồ sơ y tế ngay từ thời điểm xảy ra vụ việc có ý nghĩa rất lớn.

Người bị hại nên lưu lại đầy đủ giấy tờ từ lần khám đầu tiên, bởi đây thường là nhóm tài liệu phản ánh rõ nhất tình trạng thương tích gần thời điểm hành vi xảy ra.

Nếu được chụp X-quang, CT, MRI hoặc thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác, các kết quả này cũng cần được lưu giữ đầy đủ. Trong nhiều trường hợp, phim chụp là căn cứ quan trọng để đối chiếu giữa biểu hiện bên ngoài và tổn thương bên trong cơ thể.

Các giấy ra viện, hồ sơ phẫu thuật, tài liệu tái khám và chứng cứ về quá trình phục hồi cũng cần được tập hợp theo thứ tự thời gian.

Ngoài yếu tố y tế, tài liệu thể hiện diễn biến vụ việc như camera, ảnh hiện trường, lời khai nhân chứng hoặc biên bản của cơ quan chức năng có thể giúp làm rõ mối liên hệ giữa hành vi bị tố giác và thương tích.

Sau khi nhận kết luận giám định, người có quyền lợi liên quan cần đọc kỹ từng nội dung thay vì chỉ quan tâm đến con số tỷ lệ cuối cùng.

Cần kiểm tra kết luận đã ghi nhận đầy đủ các tổn thương hay chưa, đặc điểm tổn thương có phù hợp với hồ sơ điều trị không và có bỏ sót vấn đề chuyên môn nào đáng chú ý hay không.

Nếu phát hiện dấu hiệu bất thường, việc đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại nên được thực hiện sớm để hạn chế việc kết luận chưa phù hợp tiếp tục được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án.

co-the-yeu-cau-giam-dinh-bo-sung-hoac-giam-dinh-lai

Có thể yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại

Dịch vụ hỗ trợ thủ tục giám định thương tích của Long Phan PMT

Giám định tỷ lệ thương tích là thủ tục có liên quan đồng thời đến kiến thức pháp luật tố tụng hình sự, hồ sơ y tế và hoạt động giám định tư pháp. Chỉ một thiếu sót trong việc lập đơn, xác định nội dung cần giám định hoặc thu thập tài liệu cũng có thể khiến quá trình xử lý kéo dài.

Long Phan PMT hỗ trợ Quý khách hàng rà soát toàn diện hồ sơ và xác định phương án thực hiện phù hợp với từng giai đoạn tố tụng.

Phạm vi công việc có thể bao gồm:

  • Tư vấn quy định pháp luật về trưng cầu và yêu cầu giám định pháp y thương tích.

  • Xác định chủ thể có quyền đề nghị trưng cầu hoặc tự mình yêu cầu giám định.

  • Soạn thảo đơn đề nghị trưng cầu giám định gửi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.

  • Kiểm tra nội dung cần đề nghị giám định để hạn chế tình trạng yêu cầu không rõ ràng hoặc không đúng phạm vi.

  • Rà soát Giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ bệnh án và giấy ra viện.

  • Kiểm tra kết quả X-quang, CT, MRI cùng các tài liệu điều trị khác trong phạm vi hồ sơ được cung cấp.

  • Hướng dẫn sắp xếp tài liệu y tế và chứng cứ theo diễn biến thời gian.

  • Đánh giá sơ bộ hồ sơ thương tích để định hướng phương án tố tụng phù hợp.

  • Hỗ trợ người bị hại thực hiện quyền đề nghị trưng cầu giám định.

  • Hỗ trợ người bị tố giác, bị can hoặc bị cáo kiểm tra tính hợp pháp và tính phù hợp của kết luận giám định.

  • Rà soát mâu thuẫn giữa kết luận giám định với bệnh án, phim chụp hoặc tài liệu điều trị.

  • Tư vấn căn cứ đề nghị giám định bổ sung khi nội dung kết luận chưa đầy đủ hoặc xuất hiện tình tiết mới.

  • Tư vấn căn cứ đề nghị giám định lại khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác.

  • Soạn thảo đơn đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại.

  • Hỗ trợ làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình bổ sung tài liệu.

  • Đại diện hoặc tham gia cùng khách hàng trong quá trình làm việc với cơ quan chức năng khi phù hợp với quy định pháp luật.

  • Tư vấn yêu cầu khởi tố vụ án khi kết quả giám định và các chứng cứ khác thể hiện dấu hiệu tội phạm.

  • Hỗ trợ xác định phạm vi yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

  • Rà soát chứng từ chi phí điều trị, phục hồi sức khỏe và khoản thu nhập bị mất.

  • Xác định tài liệu chứng minh chi phí người chăm sóc và những thiệt hại khác liên quan.

  • Xây dựng phương án bảo vệ quyền lợi cho bị hại trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

  • Xây dựng phương án bào chữa cho người bị tố giác, bị can hoặc bị cáo khi kết quả giám định ảnh hưởng đến nội dung buộc tội.

  • Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định trưng cầu, trình tự giám định và nội dung kết luận.

  • Hỗ trợ xây dựng luận cứ tranh tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tại Tòa án.

Việc có luật sư hoặc người có chuyên môn pháp lý tham gia từ sớm có thể giúp người liên quan kiểm soát tốt hơn tài liệu, thời hạn và các quyền tố tụng của mình.

Trong những vụ án mà tỷ lệ thương tích có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến căn cứ khởi tố hoặc khung hình phạt, việc rà soát hồ sơ ngay sau khi có kết luận giám định càng cần được thực hiện thận trọng.

Quý khách hàng có thể cung cấp hồ sơ y tế, tài liệu vụ việc và những thông tin liên quan để Long Phan PMT đánh giá ban đầu, xác định những nội dung cần bổ sung và đề xuất phương án xử lý phù hợp.

Giám định tỷ lệ thương tích là căn cứ chuyên môn có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình khởi tố, định tội, định khung hình phạt, bồi thường thiệt hại và bảo vệ quyền lợi của các bên trong vụ án hình sự. Người tham gia tố tụng cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ y tế, thực hiện đúng quyền đề nghị trưng cầu, theo dõi thời hạn giám định và kịp thời yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại khi có căn cứ. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

 Nguồn: Quy trình yêu cầu và cách giám định phần trăm thương tích trong vụ án hình sự 

>>> Xem thêm: Thủ tục yêu cầu giám định thương tích bổ sung trong vụ án hình sự

Read More

Khi phát hiện giao dịch mua bán đất có dấu hiệu sử dụng Giấy chứng nhận giả mạo, người mua cần lập tức dừng thanh toán, bảo quản chứng cứ và xác minh thông tin thửa đất tại cơ quan đăng ký đất đai. Việc hiểu đúng xử lý khi mua đất dính sổ giả giúp người mua phân biệt giữa tranh chấp dân sự và hành vi có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tùy thuộc vào nhận thức, mục đích và hành vi của bên bán, người bị thiệt hại có thể lựa chọn khởi kiện tại Tòa án hoặc tố giác đến cơ quan điều tra. Xử lý sớm và đúng trình tự là điều kiện quan trọng để tăng khả năng thu hồi tiền, yêu cầu bồi thường và ngăn chặn việc tẩu tán tài sản.

nguoi-mua-can-kiem-tra-dau-hieu-bat-thuong-va-xac-minh-giay-chung-nhan-tai-co-quan-dang-ky-dat-dai

Người mua cần kiểm tra dấu hiệu bất thường và xác minh Giấy chứng nhận tại cơ quan đăng ký đất đai  

Nhận diện rủi ro khi giao dịch đất bằng Giấy chứng nhận giả mạo

Trong thực tế, các thuật ngữ “sổ đỏ giả” hoặc “sổ hồng giả” thường được sử dụng để chỉ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất bị làm giả, sửa chữa hoặc giả mạo thông tin. Đây không chỉ là rủi ro liên quan đến giấy tờ mà còn có thể làm cho toàn bộ giao dịch chuyển nhượng không được pháp luật công nhận.

Giấy chứng nhận là một trong những căn cứ quan trọng để xác định người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Khi giấy tờ được sử dụng trong giao dịch không tồn tại trong cơ sở dữ liệu đăng ký đất đai hoặc không do cơ quan có thẩm quyền cấp, người xuất trình giấy tờ đó có thể không có quyền định đoạt đối với bất động sản.

Trong trường hợp người mua đã giao tiền đặt cọc, thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá trị chuyển nhượng, việc phát hiện Giấy chứng nhận giả có thể dẫn đến nhiều hậu quả như:

  • Không thể thực hiện thủ tục công chứng hoặc chứng thực hợp đồng;

  • Không đủ điều kiện đăng ký sang tên tại cơ quan đăng ký đất đai;

  • Không được công nhận quyền sử dụng đất;

  • Khó xác định và truy tìm người trực tiếp nhận tiền;

  • Có nguy cơ bên bán tẩu tán tiền hoặc tài sản;

  • Phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả tiền;

  • Mất hoặc thất lạc chứng cứ nếu chậm thực hiện biện pháp bảo toàn;

  • Hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu trong một số trường hợp.

Vì vậy, ngay khi xuất hiện dấu hiệu bất thường, người mua không nên tiếp tục giao tiền với lý do chờ bên bán giải thích hoặc hoàn thiện lại giấy tờ. Việc thanh toán thêm không làm cho Giấy chứng nhận giả trở thành hợp pháp mà chỉ có thể khiến thiệt hại tăng lên và làm phức tạp quá trình thu hồi tài sản.

Những dấu hiệu thường gặp của Giấy chứng nhận có nguy cơ giả mạo

Việc quan sát bằng mắt thường chỉ giúp phát hiện nghi vấn ban đầu. Người mua không nên tự kết luận một Giấy chứng nhận là thật hoặc giả nếu chưa có kết quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền hoặc kết luận giám định.

Một Giấy chứng nhận có thể cần được kiểm tra kỹ khi xuất hiện một hoặc nhiều dấu hiệu sau đây:

  • Thông tin về người sử dụng đất không phù hợp với dữ liệu đăng ký;

  • Số thửa, số tờ bản đồ, địa chỉ hoặc diện tích đất không thống nhất;

  • Số phát hành hoặc số vào sổ cấp Giấy chứng nhận không tồn tại;

  • Mã tra cứu hoặc mã QR không thể kiểm tra trên hệ thống;

  • Chất liệu giấy khác với mẫu Giấy chứng nhận được cơ quan nhà nước sử dụng;

  • Màu sắc, kích thước, phông chữ hoặc bố cục trình bày có điểm bất thường;

  • Họa tiết bảo mật, tem chống giả hoặc dấu chìm không đúng quy cách;

  • Con dấu bị nhòe, lệch, sai tên cơ quan hoặc có dấu hiệu in màu;

  • Chữ ký không đúng người có thẩm quyền hoặc có dấu hiệu sao chép;

  • Nội dung trên giấy có dấu hiệu tẩy xóa, chắp vá hoặc chỉnh sửa;

  • Trang bổ sung không thống nhất với phần chính của Giấy chứng nhận;

  • Thông tin biến động không phù hợp với lịch sử đăng ký của thửa đất;

  • Bản đồ, sơ đồ thửa đất không trùng khớp với hiện trạng thực tế;

  • Thời điểm cấp giấy không phù hợp với tên gọi hoặc thẩm quyền của cơ quan cấp.

Bên cạnh đặc điểm của giấy tờ, hành vi của người bán cũng là yếu tố cần được quan sát. Rủi ro thường cao hơn khi người bán:

  • Không cho người mua giữ bản sao hoặc chụp đầy đủ các trang;

  • Chỉ cung cấp hình ảnh mờ, bị che số hoặc cắt mất thông tin;

  • Từ chối xuất trình giấy tờ tùy thân của người đứng tên;

  • Không đồng ý gặp trực tiếp người có tên trên Giấy chứng nhận;

  • Thúc giục người mua chuyển tiền trong thời gian rất ngắn;

  • Yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt nhưng không lập biên nhận;

  • Đề nghị chuyển tiền vào tài khoản của người không liên quan;

  • Né tránh việc xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai;

  • Không đồng ý ký hợp đồng tại Tổ chức hành nghề công chứng;

  • Cung cấp thông tin không thống nhất giữa các lần trao đổi;

  • Đưa ra lý do bất thường để giải thích việc chưa thể sang tên;

  • Hứa hẹn giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường nhằm thúc đẩy giao dịch;

  • Yêu cầu ký giấy nhận nợ hoặc giấy vay tiền thay cho hợp đồng đặt cọc;

  • Sau khi nhận tiền thì trì hoãn, cắt liên lạc hoặc thay đổi nơi cư trú.

Các dấu hiệu này không phải căn cứ duy nhất để xác định có hành vi phạm tội. Tuy nhiên, chúng cho thấy người mua cần ngừng giao dịch và tiến hành xác minh trước khi phát sinh thêm nghĩa vụ tài chính.

Việc xác định Giấy chứng nhận thật hay giả cần được thực hiện thông qua một hoặc nhiều biện pháp như:

  • Đối chiếu với hồ sơ địa chính;

  • Tra cứu thông tin tại cơ quan đăng ký đất đai;

  • Yêu cầu cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận xác nhận;

  • Kiểm tra lịch sử biến động của thửa đất;

  • Đối chiếu với bản đồ địa chính và dữ liệu đo đạc;

  • Yêu cầu trưng cầu hoặc thực hiện giám định theo quy định;

  • Thu thập hồ sơ cấp giấy, hồ sơ sang tên và tài liệu lưu trữ.

Chỉ kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc kết quả giám định hợp pháp mới có giá trị xác định tính thật, giả của Giấy chứng nhận trong quá trình giải quyết vụ việc.

Các biện pháp cần thực hiện ngay khi phát hiện dấu hiệu giả mạo

Dừng toàn bộ việc thanh toán

Người mua cần ngừng giao thêm tiền đặt cọc, tiền mua đất, phí môi giới hoặc bất kỳ khoản tiền nào do bên bán yêu cầu. Việc dừng thanh toán phải được thực hiện ngay cả khi bên bán cam kết sẽ đổi giấy, bổ sung hồ sơ hoặc hoàn thiện thủ tục trong thời gian ngắn.

Người mua cũng không nên ký thêm:

  • Giấy nhận nợ;

  • Hợp đồng vay tiền;

  • Phụ lục điều chỉnh mục đích giao tiền;

  • Biên bản tự nguyện thanh toán;

  • Giấy xác nhận đã nhận đủ đất;

  • Thỏa thuận thay thế hợp đồng đặt cọc;

  • Văn bản từ bỏ quyền khiếu nại hoặc khởi kiện;

  • Biên bản xác nhận tiền đã giao là khoản vay cá nhân.

Những tài liệu được ký sau khi phát hiện sự việc có thể bị sử dụng để thay đổi bản chất giao dịch, che giấu mục đích nhận tiền ban đầu hoặc gây khó khăn cho việc chứng minh hành vi gian dối.

Yêu cầu bên bán cung cấp hồ sơ và giải trình

Người mua nên gửi yêu cầu bằng văn bản, tin nhắn, email hoặc hình thức có thể lưu trữ để đề nghị bên bán cung cấp:

  • Bản gốc Giấy chứng nhận;

  • Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận;

  • Quyết định cấp đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất;

  • Tài liệu về nguồn gốc sử dụng đất;

  • Hợp đồng nhận chuyển nhượng trước đó;

  • Hồ sơ khai nhận hoặc phân chia di sản;

  • Văn bản ủy quyền;

  • Giấy tờ nhân thân của người đứng tên;

  • Tài liệu xác nhận tình trạng hôn nhân;

  • Trích lục bản đồ hoặc trích đo địa chính;

  • Biên lai thực hiện nghĩa vụ tài chính;

  • Hồ sơ đăng ký biến động;

  • Các tài liệu chứng minh quyền hợp pháp đối với thửa đất.

Nếu thông tin giữa Giấy chứng nhận và hồ sơ khác có sự mâu thuẫn, người mua cần yêu cầu bên bán giải thích cụ thể. Nội dung giải trình phải được lưu giữ vì có thể trở thành chứng cứ thể hiện nhận thức, thái độ và cách thức xử lý của bên bán.

Xác minh tại cơ quan có thẩm quyền

Người mua cần liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nơi có bất động sản để kiểm tra thông tin. Nội dung cần xác minh có thể bao gồm:

  • Thửa đất có tồn tại trên hồ sơ địa chính hay không;

  • Người đứng tên trên Giấy chứng nhận có đúng hay không;

  • Giấy chứng nhận có được cơ quan có thẩm quyền cấp hay không;

  • Số phát hành và số vào sổ có tồn tại hay không;

  • Thửa đất đã được chuyển nhượng cho người khác chưa;

  • Đất có đang bị thế chấp hay không;

  • Đất có đang bị kê biên để thi hành án hay không;

  • Có quyết định thu hồi hoặc thông báo thu hồi đất hay không;

  • Có tranh chấp được ghi nhận tại cơ quan có thẩm quyền hay không;

  • Có biện pháp ngăn chặn giao dịch hoặc biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không;

  • Thông tin diện tích, mục đích sử dụng và thời hạn sử dụng có chính xác hay không.

Người mua nên ưu tiên hình thức xác minh có văn bản trả lời hoặc tài liệu xác nhận. Kết quả trao đổi bằng lời nói chỉ có giá trị tham khảo và có thể khó sử dụng khi tố giác hoặc khởi kiện.

Bảo quản đầy đủ chứng cứ

Tất cả tài liệu liên quan đến quá trình giao dịch cần được giữ nguyên trạng. Người mua không nên tự ý sửa chữa, ghi chú trực tiếp hoặc làm thay đổi giấy tờ nghi giả.

Các tài liệu quan trọng gồm:

  • Bản gốc hoặc bản sao Giấy chứng nhận nghi giả;

  • Hợp đồng đặt cọc;

  • Hợp đồng chuyển nhượng;

  • Giấy biên nhận tiền;

  • Sao kê tài khoản ngân hàng;

  • Lệnh chuyển tiền;

  • Nội dung chuyển khoản;

  • Tin nhắn qua điện thoại hoặc ứng dụng;

  • Thư điện tử;

  • File ghi âm hợp pháp;

  • Hình ảnh tại thời điểm giao dịch;

  • Video camera;

  • Thông tin người môi giới;

  • Giấy hẹn công chứng;

  • Phiếu yêu cầu công chứng;

  • Văn bản từ chối công chứng hoặc sang tên;

  • Kết quả xác minh tại cơ quan đăng ký đất đai;

  • Danh thiếp, số điện thoại, địa chỉ và tài khoản mạng xã hội của bên bán.

Dữ liệu điện tử cần được sao lưu trên nhiều thiết bị hoặc phương tiện lưu trữ. Người mua nên giữ nguyên nội dung gốc, đồng thời lập bản in hoặc bản sao để sử dụng khi làm việc với cơ quan có thẩm quyền.

Lập vi bằng khi cần ghi nhận sự kiện

Vi bằng có thể được sử dụng để ghi nhận:

  • Việc giao nhận giấy tờ;

  • Nội dung trao đổi giữa các bên;

  • Bên bán thừa nhận đã nhận tiền;

  • Bên bán cam kết hoàn trả;

  • Việc bên bán không đến làm việc theo lịch hẹn;

  • Tình trạng người bán né tránh hoặc từ chối cung cấp hồ sơ;

  • Hiện trạng địa chỉ giao dịch;

  • Nội dung hiển thị trên trang thông tin hoặc tài khoản mạng xã hội;

  • Việc giao thông báo yêu cầu hoàn trả tiền.

Vi bằng không thay thế kết luận giám định và cũng không tự xác định Giấy chứng nhận là giả. Tuy nhiên, đây có thể là nguồn chứng cứ hỗ trợ chứng minh diễn biến thực tế của vụ việc.

khi-nghi-ngo-giay-chung-nhan-gia-mao-nguoi-mua-phai-dung-thanh-toan-bao-toan-chung-cu

Khi nghi ngờ Giấy chứng nhận giả mạo, người mua phải dừng thanh toán, bảo toàn chứng cứ

Phân biệt tranh chấp dân sự với vụ việc có dấu hiệu hình sự

Giấy chứng nhận giả không đồng nghĩa trong mọi trường hợp người bán đều phạm tội. Để xem xét trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá nhận thức, mục đích, thủ đoạn và ý chí chiếm đoạt của người thực hiện hành vi.

Trường hợp chủ yếu được giải quyết theo hướng dân sự

Vụ việc có thể mang tính chất dân sự khi:

  • Bên bán không biết Giấy chứng nhận là giả;

  • Giấy chứng nhận bị người khác tráo đổi;

  • Người bán cũng là người bị lừa trong một giao dịch trước đó;

  • Chưa có căn cứ chứng minh ý định chiếm đoạt;

  • Bên bán vẫn hợp tác xác minh và hoàn trả tiền;

  • Giao dịch không thể thực hiện do không đáp ứng điều kiện chuyển nhượng;

  • Các bên tranh chấp về hiệu lực hợp đồng hoặc nghĩa vụ hoàn trả;

  • Hành vi gian dối chưa được chứng minh bằng tài liệu, dữ liệu hoặc lời khai phù hợp.

Trong trường hợp này, người mua có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án:

  • Tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu;

  • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu;

  • Buộc bên bán hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận;

  • Yêu cầu trả lãi do chậm hoàn trả;

  • Yêu cầu bồi thường thiệt hại;

  • Đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản.

Trường hợp có dấu hiệu tội phạm

Vụ việc có thể được xem xét theo hướng hình sự khi có căn cứ cho thấy bên bán:

  • Biết rõ Giấy chứng nhận là giả;

  • Biết mình không phải chủ sử dụng đất nhưng vẫn giao dịch;

  • Chủ động làm giả hoặc thuê người làm giả giấy tờ;

  • Giả mạo người đứng tên trên Giấy chứng nhận;

  • Sử dụng giấy tờ giả để tạo lòng tin;

  • Cố ý đưa ra thông tin sai sự thật;

  • Nhận tiền rồi bỏ trốn;

  • Cắt đứt toàn bộ liên lạc sau khi nhận tiền;

  • Chuyển tiền sang nhiều tài khoản nhằm che giấu dòng tiền;

  • Tẩu tán tài sản;

  • Thực hiện cùng phương thức đối với nhiều người;

  • Sử dụng môi giới, người đóng giả hoặc địa chỉ giả;

  • Có ý định chiếm đoạt ngay từ trước hoặc tại thời điểm nhận tiền.

Yếu tố quan trọng không chỉ là việc giao dịch không thành công mà còn là thủ đoạn gian dối được sử dụng để làm cho người mua tin tưởng và giao tài sản.

Trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng Giấy chứng nhận giả để chiếm đoạt tiền

Trường hợp người bán cố ý dùng Giấy chứng nhận giả để làm cho người mua tin rằng mình có quyền chuyển nhượng, từ đó giao tiền và bị chiếm đoạt, hành vi có thể bị xem xét về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Căn cứ Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, hành vi cố ý sử dụng Giấy chứng nhận giả mạo để chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng có thể bị áp dụng một trong các hình phạt sau:

  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc

  • Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Đối với tài sản có giá trị lớn hơn hoặc hành vi có thêm tình tiết định khung, mức hình phạt sẽ được xác định theo khoản tương ứng của Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản, người làm giả hoặc sử dụng Giấy chứng nhận giả để thực hiện hành vi trái pháp luật còn có thể bị xem xét về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Theo Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, người phạm tội có thể bị:

  • Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng;

  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc

  • Phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

Việc xác định người vi phạm bị xử lý về một hay nhiều tội danh phụ thuộc vào hành vi cụ thể, mục đích sử dụng tài liệu giả, hậu quả xảy ra và kết quả điều tra của cơ quan có thẩm quyền.

Người mua không nên tự khẳng định bên bán phạm tội chỉ dựa trên việc Giấy chứng nhận bị xác định là giả. Đơn tố giác cần tập trung trình bày sự việc, chứng cứ và dấu hiệu bất thường, đồng thời đề nghị cơ quan điều tra xác minh theo thẩm quyền.

Trình tự tố giác hành vi lừa đảo trong giao dịch đất đai

Xác định nơi tiếp nhận tố giác

Theo Khoản 2 Điều 145 và Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cá nhân có thể gửi đơn hoặc trực tiếp tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm đến:

  • Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền;

  • Viện kiểm sát nhân dân;

  • Cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định của pháp luật.

Đơn có thể được gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra tại nơi xảy ra việc giao nhận tiền, nơi có bất động sản, nơi người bán cư trú hoặc nơi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm.

Người tố giác có thể đồng thời gửi bản sao đơn đến Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền để theo dõi quá trình tiếp nhận và giải quyết nguồn tin.

Trình bày nội dung tố giác theo trình tự thời gian

Đơn tố giác cần thể hiện rõ:

  • Thông tin của người tố giác;

  • Thông tin của người bị tố giác;

  • Thông tin người môi giới và người liên quan;

  • Thời điểm biết đến bất động sản;

  • Cách thức bên bán giới thiệu thửa đất;

  • Nội dung thông tin mà bên bán cung cấp;

  • Quá trình kiểm tra Giấy chứng nhận;

  • Thời điểm ký hợp đồng đặt cọc hoặc hợp đồng chuyển nhượng;

  • Số tiền đã giao;

  • Phương thức giao tiền;

  • Tài khoản hoặc người nhận tiền;

  • Thời điểm phát hiện Giấy chứng nhận có dấu hiệu giả;

  • Kết quả xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai;

  • Hành vi của bên bán sau khi nhận tiền;

  • Dấu hiệu bỏ trốn, né tránh hoặc tẩu tán tài sản;

  • Yêu cầu xác minh hành vi lừa đảo;

  • Yêu cầu xem xét hành vi sử dụng tài liệu giả;

  • Yêu cầu thu hồi và hoàn trả tài sản bị chiếm đoạt.

Nội dung nên được trình bày khách quan, theo thứ tự thời gian và có tài liệu kèm theo. Người tố giác cần tránh sử dụng những nhận định không có chứng cứ hoặc tự suy đoán về tội danh.

Chuẩn bị hồ sơ tố giác

Hồ sơ có thể gồm:

  • Đơn tố giác tội phạm;

  • Giấy chứng nhận nghi giả;

  • Bản sao hoặc hình ảnh thể hiện việc giao nhận Giấy chứng nhận;

  • Hợp đồng đặt cọc;

  • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

  • Phụ lục hợp đồng;

  • Giấy biên nhận tiền;

  • Sao kê ngân hàng;

  • Chứng từ chuyển khoản;

  • Nội dung tin nhắn;

  • Email trao đổi;

  • File ghi âm hợp pháp;

  • Hình ảnh, video hoặc dữ liệu camera;

  • Vi bằng;

  • Thông tin nhân thân của bên bán;

  • Số điện thoại, địa chỉ và tài khoản mạng xã hội;

  • Thông tin tài khoản ngân hàng nhận tiền;

  • Tài liệu về người môi giới;

  • Giấy hẹn công chứng;

  • Văn bản từ chối công chứng;

  • Văn bản từ chối đăng ký sang tên;

  • Kết quả xác minh của Văn phòng đăng ký đất đai;

  • Văn bản của cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận;

  • Kết quả giám định nếu đã được thực hiện;

  • Tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế;

  • Danh mục toàn bộ tài liệu nộp kèm.

Người tố giác nên giữ lại bản gốc và chỉ giao nộp khi có yêu cầu hợp lệ. Khi nộp hồ sơ, cần đề nghị cấp giấy tiếp nhận hoặc giấy biên nhận có ghi rõ số lượng tài liệu đã giao.

Khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối

Trong trường hợp chưa đủ căn cứ xác định trách nhiệm hình sự hoặc người mua cần chủ động yêu cầu hoàn trả tiền, phương án khởi kiện dân sự có thể được thực hiện.

Trọng tâm của vụ án không chỉ nằm ở việc Giấy chứng nhận là giả mà còn ở hành vi cung cấp thông tin không đúng sự thật hoặc che giấu sự thật làm cho người mua hiểu sai về:

  • Người có quyền sử dụng đất;

  • Quyền chuyển nhượng;

  • Tình trạng pháp lý của bất động sản;

  • Nguồn gốc đất;

  • Tình trạng thế chấp;

  • Tình trạng tranh chấp;

  • Khả năng công chứng;

  • Khả năng đăng ký sang tên;

  • Đối tượng thực tế của giao dịch.

Khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, trong đó các chủ thể tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện và mục đích, nội dung của giao dịch không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Nếu bên bán cố ý sử dụng giấy tờ giả hoặc cung cấp thông tin sai lệch làm cho bên mua hiểu không đúng về giao dịch, điều kiện tự nguyện có thể không được bảo đảm.

Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Khi có đủ chứng cứ chứng minh việc bị lừa dối, người mua có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu

Theo Điểm c Khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối là 02 năm kể từ ngày người bị lừa dối biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Người mua nên khởi kiện sớm sau khi có kết quả xác minh. Việc chậm thực hiện có thể dẫn đến:

  • Tranh chấp về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu;

  • Khó thu thập chứng cứ;

  • Bên bán thay đổi nơi cư trú;

  • Tài khoản bị rút hết tiền;

  • Tài sản khác bị chuyển nhượng;

  • Người liên quan không còn hợp tác;

  • Dữ liệu điện tử bị xóa;

  • Hồ sơ camera hết thời hạn lưu trữ.

Những yêu cầu có thể đề nghị Tòa án giải quyết

Tùy thuộc vào nội dung giao dịch và thiệt hại thực tế, người mua có thể yêu cầu:

  • Tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu;

  • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu;

  • Tuyên bố các phụ lục hoặc thỏa thuận liên quan vô hiệu;

  • Buộc bên chuyển nhượng hoàn trả toàn bộ tiền đã nhận;

  • Buộc người có liên quan hoàn trả khoản tiền đã nhận không có căn cứ;

  • Yêu cầu thanh toán lãi do chậm hoàn trả;

  • Yêu cầu bồi thường chi phí công chứng;

  • Yêu cầu bồi thường phí môi giới;

  • Yêu cầu bồi thường chi phí xác minh;

  • Yêu cầu bồi thường chi phí đi lại;

  • Yêu cầu bồi thường chi phí lập vi bằng;

  • Yêu cầu bồi thường các thiệt hại thực tế khác;

  • Đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Mỗi khoản thiệt hại phải được chứng minh bằng chứng từ, tài liệu hoặc căn cứ hợp lý. Tòa án chỉ xem xét khoản bồi thường có mối liên hệ với hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế.

tuy-vao-dau-hieu-gian-doi-va-muc-dich-chiem-doat-vu-viec-co-the-duoc-giai-quyet
Tùy vào dấu hiệu gian dối và mục đích chiếm đoạt, vụ việc có thể được giải quyết  

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.

Theo đó:

  • Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập;

  • Khi giao dịch vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu;

  • Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận;

  • Trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả;

  • Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức đó;

  • Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường;

  • Việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật khác có liên quan.

Nếu người bán không phải là người sử dụng đất hợp pháp, người mua thông thường không thể yêu cầu giao thửa đất cho mình. Quyền sử dụng đất thuộc về chủ thể hợp pháp và không thể được chuyển giao chỉ dựa trên một Giấy chứng nhận giả.

Trong trường hợp này, hướng xử lý thực tế là yêu cầu:

  • Hoàn trả tiền đặt cọc;

  • Hoàn trả tiền mua đất;

  • Thanh toán tiền lãi;

  • Bồi thường thiệt hại;

  • Xử lý tiền hoặc tài sản đã bị chiếm đoạt;

  • Áp dụng biện pháp ngăn chặn việc tẩu tán tài sản.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ giải quyết giao dịch đất sử dụng giấy tờ giả

Các vụ việc liên quan Giấy chứng nhận giả thường có sự đan xen giữa quan hệ hợp đồng, trách nhiệm bồi thường, dấu hiệu tội phạm và yêu cầu truy tìm tài sản. Việc đánh giá không chính xác có thể khiến người mua lựa chọn sai cơ quan, thiếu chứng cứ hoặc chậm áp dụng biện pháp bảo toàn.

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng thực hiện các công việc sau:

  • Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ giao dịch;

  • Rà soát hợp đồng đặt cọc và hợp đồng chuyển nhượng;

  • Phân tích chứng từ thanh toán và dòng tiền;

  • Hướng dẫn xác minh thông tin tại Văn phòng đăng ký đất đai;

  • Đánh giá dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;

  • Đánh giá hành vi làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả;

  • Hướng dẫn bảo quản Giấy chứng nhận nghi giả;

  • Tư vấn lập vi bằng;

  • Hướng dẫn sao lưu tin nhắn, email và ghi âm hợp pháp;

  • Soạn thảo đơn tố giác tội phạm;

  • Chuẩn bị danh mục tài liệu kèm theo;

  • Đại diện làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra;

  • Làm việc với Viện kiểm sát nhân dân;

  • Soạn đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu;

  • Yêu cầu hoàn trả tiền và thanh toán lãi;

  • Xác định các khoản thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường;

  • Chuẩn bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

  • Làm việc với Tổ chức hành nghề công chứng;

  • Yêu cầu bảo toàn hồ sơ công chứng và dữ liệu camera;

  • Làm rõ vai trò của người môi giới;

  • Tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp;

  • Theo dõi quá trình giải quyết và thi hành án.

Việc xử lý khi mua đất bằng Giấy chứng nhận giả cần được triển khai theo trình tự: dừng thanh toán, xác minh giấy tờ, bảo toàn chứng cứ, đánh giá dấu hiệu gian dối, lựa chọn khởi kiện dân sự hoặc tố giác hình sự và áp dụng biện pháp ngăn chặn tẩu tán tài sản khi có căn cứ. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Hướng dẫn chi tiết quy trình xử lý khi mua đất dính sổ giả

>>> Xem thêm: Trách nhiệm bồi thường thuộc về ai khi giấy tờ giả mạo được công chứng? 



Read More

My maps