Mua tài sản do trộm cắp mà có không phải trong mọi trường hợp đều dẫn đến trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu người mua nhận thức rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội mà vẫn thực hiện việc mua, nhận giữ hoặc tiếp tục đưa tài sản vào giao dịch, nguy cơ phát sinh trách nhiệm pháp lý là vấn đề cần đặc biệt lưu ý.

Theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là nhận thức của người mua về nguồn gốc tài sản và việc có hay không sự hứa hẹn trước với người thực hiện tội phạm.
Ngoài trách nhiệm hình sự, trường hợp chưa đủ căn cứ cấu thành tội phạm vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định hiện hành. Vì vậy, người mua tài sản cũ, tài sản thanh lý hoặc tài sản không đầy đủ giấy tờ cần thận trọng kiểm tra nguồn gốc trước khi giao dịch.

mua-tai-san-do-trom-cap-can-kiem-tra-ro-nguon-goc-tai-san-truoc-khi-giao-dich-

Mua tài sản do trộm cắp: Cần kiểm tra rõ nguồn gốc tài sản trước khi giao dịch.

Điều kiện để hành vi mua tài sản trộm cắp bị xem xét trách nhiệm hình sự

Việc một người mua phải tài sản sau đó được xác định là tài sản trộm cắp không đồng nghĩa người đó đương nhiên phạm tội. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của hành vi và đánh giá nhận thức thực tế của người mua tại thời điểm giao dịch.

Theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Từ quy định này, khi xem xét một giao dịch mua tài sản trộm cắp, cần chú ý đến hai nội dung chính: người mua có biết rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội hay không và giữa người mua với người thực hiện hành vi phạm tội có sự hứa hẹn, thống nhất từ trước về việc tiêu thụ tài sản hay không.

Người mua phải “biết rõ” tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội

“Biết rõ” là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hành vi có thuộc phạm vi Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 hay không.

Người mua phải có nhận thức rằng tài sản mình tiếp nhận, mua, cất giữ hoặc tiêu thụ có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của người khác. Nếu người mua hoàn toàn không biết nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được vấn đề này thì không thể chỉ dựa vào việc tài sản sau đó bị xác định là tang vật của vụ trộm để mặc nhiên kết luận người mua phạm tội.

Trong thực tế, việc đánh giá một người có “biết rõ” hay không thường được thực hiện dựa trên tổng hợp các tình tiết khách quan của giao dịch. Cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét mức giá, tình trạng giấy tờ, thông tin của người bán, cách thức giao nhận, thời gian giao dịch và những thông tin mà người mua được cung cấp trước hoặc trong khi mua tài sản.

Chẳng hạn, một tài sản có giá trị thị trường cao nhưng được bán với giá thấp bất thường, người bán không cung cấp được giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, không xác định được nguồn gốc hàng hóa hoặc cố tình che giấu danh tính có thể là những tình tiết cần được xem xét.

Tuy nhiên, các dấu hiệu trên không phải những điều kiện cứng mà chỉ cần xuất hiện là có thể kết luận người mua “biết rõ”. Việc xác định nhận thức của người mua vẫn phải dựa trên toàn bộ chứng cứ và hoàn cảnh cụ thể của vụ việc.

tieu-thu-tai-san-pham-toi-biet-ro-nguon-goc-nhung-van-mua-ban-co-the-bi-xu-ly-

Tiêu thụ tài sản phạm tội: Biết rõ nguồn gốc nhưng vẫn mua bán có thể bị xử lý.

Không có sự hứa hẹn trước với người thực hiện hành vi phạm tội

Ngoài yếu tố nhận thức, Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 còn đề cập đến điều kiện người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản không hứa hẹn trước với người thực hiện hành vi phạm tội.

Hứa hẹn trước được hiểu là trường hợp giữa người mua và người thực hiện tội phạm đã có sự bàn bạc, thống nhất hoặc cam kết từ trước về việc tiếp nhận, mua hoặc tiêu thụ tài sản mà người phạm tội dự định chiếm đoạt.

Đây là căn cứ quan trọng để phân biệt hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với trường hợp người mua có thể bị xem xét với vai trò đồng phạm trong chính tội phạm nguồn.

Nếu một người biết trước người khác chuẩn bị thực hiện hành vi trộm cắp và đồng ý nhận mua tài sản sau khi trộm được, hành vi của người này có thể được đánh giá khác với trường hợp chỉ phát sinh việc mua bán sau khi hành vi trộm cắp đã hoàn thành.

Tiếp tục bán tài sản sau khi biết nguồn gốc bất hợp pháp

Trách nhiệm pháp lý không nhất thiết chỉ được xem xét tại thời điểm mua tài sản.

Nếu ban đầu người mua không biết nguồn gốc bất hợp pháp nhưng sau đó nhận được thông tin xác đáng cho thấy tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội, việc tiếp tục bán, chuyển nhượng, cầm cố hoặc đưa tài sản cho người khác có thể làm phát sinh những vấn đề pháp lý mới.

Do đó, khi đã phát hiện hoặc có căn cứ đáng tin cậy về nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản, người đang quản lý tài sản nên dừng các giao dịch tiếp theo và chủ động làm việc với cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn.

Giá trị tài sản có quyết định việc người mua bị xử lý hình sự không?

Một trong những vấn đề thường gây nhầm lẫn là quan điểm cho rằng tài sản phải đạt một giá trị nhất định thì người mua mới có thể bị xử lý hình sự. Quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 cần được hiểu đầy đủ hơn.

Khung cơ bản không quy định giá trị tối thiểu của tài sản

Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 không đặt ra một mức giá trị tài sản tối thiểu làm điều kiện bắt buộc để xác định tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Theo đó, nếu có đủ căn cứ xác định người mua biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có và không có sự hứa hẹn trước, việc tài sản có giá trị thấp không tự động loại trừ khả năng bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, người mua không nên cho rằng những tài sản như điện thoại cũ, xe máy cũ, máy tính hoặc đồ điện tử có giá trị không quá lớn thì có thể giao dịch mà không cần quan tâm đến nguồn gốc.

Giá trị tài sản là căn cứ xác định các khung tăng nặng

Mặc dù không phải điều kiện tối thiểu của khung cơ bản, giá trị tài sản, vật phạm pháp và khoản thu lợi bất chính có ý nghĩa trong việc xác định các khung hình phạt tăng nặng được quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Do đó, khi giải quyết vụ việc, việc định giá tài sản và xác định khoản thu lợi bất chính có thể trở thành nội dung quan trọng để xác định khung hình phạt tương ứng.

trach-nhiem-hinh-su-nguoi-mua-co-the-bi-truy-cuu-neu-biet-ro-tai-san-do-pham-toi-ma-co-

Trách nhiệm hình sự: Người mua có thể bị truy cứu nếu biết rõ tài sản do phạm tội mà có.

Mức xử phạt khi mua tài sản do trộm cắp mà có

Tùy vào mức độ và tính chất hành vi, người mua tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Việc phân biệt hai trường hợp phải dựa trên kết quả xác minh cụ thể, đặc biệt là chứng cứ về nhận thức của người mua và những tình tiết khác liên quan đến giao dịch.

Mức phạt hành chính khi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm

Trường hợp mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, có hiệu lực từ ngày 15/12/2025 và thay thế điểm d khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với hành vi này là từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn có thể bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm theo quy định.

Đối với người nước ngoài, khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP còn quy định việc xem xét áp dụng hình thức trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Khung hình phạt theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015

Khi hành vi đã đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, mức hình phạt được xác định theo các khoản tương ứng tại Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Khung cơ bản theo khoản 1: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung theo khoản 2: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi thuộc một trong các trường hợp như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc tái phạm nguy hiểm.

Khung theo khoản 3: Phạt tù từ 07 năm đến 10 năm nếu tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

Khung theo khoản 4: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm nếu tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc số tiền thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên.

Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

Theo khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Bên cạnh đó, tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội còn có thể được xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vật chứng. Trường hợp xác định được chủ sở hữu hợp pháp, tài sản có thể được trả lại sau khi hoàn thành các thủ tục xác minh và xử lý cần thiết.

Người mua cần lưu ý rằng việc tài sản được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp không đồng nghĩa khoản tiền đã thanh toán cho người bán sẽ được hoàn trả ngay. Đây là một trong những thiệt hại thực tế mà người mua tài sản không rõ nguồn gốc có thể phải đối mặt.

Các trường hợp thường gặp khi mua phải tài sản do trộm cắp mà có

Mua xe máy, điện thoại hoặc thiết bị điện tử không có giấy tờ

Xe máy, điện thoại, laptop, máy tính bảng, đồng hồ và nhiều thiết bị điện tử thường được mua bán lại trên thị trường. Do đặc điểm dễ chuyển nhượng và khó kiểm tra nguồn gốc nếu thiếu chứng từ, các giao dịch này cần được thực hiện thận trọng.

Nếu người bán đưa ra mức giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường nhưng không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, người mua nên yêu cầu cung cấp thông tin và tài liệu liên quan trước khi thanh toán.

Những chứng cứ như tin nhắn trao đổi, thông tin tài khoản, chứng từ chuyển tiền, hình ảnh tài sản hoặc giấy mua bán nên được lưu giữ để chứng minh hoàn cảnh giao dịch.

Tiệm cầm đồ hoặc cửa hàng đồ cũ nhận tài sản có nguồn gốc phạm tội

Đối với cơ sở kinh doanh cầm đồ, thu mua tài sản cũ, số lượng giao dịch lớn và diễn ra thường xuyên khiến yêu cầu kiểm soát nguồn gốc tài sản trở nên đặc biệt quan trọng.

Nếu hoạt động chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản có nguồn gốc từ tội phạm được xác định có tính chất chuyên nghiệp hoặc có tổ chức thì có thể phát sinh tình tiết định khung theo khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Do đó, cơ sở kinh doanh nên yêu cầu người giao tài sản cung cấp thông tin nhận dạng, giấy tờ cần thiết, lưu lại dữ liệu giao dịch và xây dựng quy trình kiểm tra nguồn gốc tài sản trước khi tiếp nhận.

Người bán tài sản chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thuộc phạm vi điều luật quy định.

Trong đó, khoản 2 Điều 12 có đề cập đến Điều 173 về tội trộm cắp tài sản trong trường hợp thuộc mức độ rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Nếu người bán không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì chưa đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì vấn đề nguồn gốc tài sản vẫn có thể được xem xét. Người mua biết rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi trộm cắp vẫn có thể bị đánh giá trách nhiệm độc lập theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc quy định xử phạt hành chính nếu hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Người mua cần làm gì khi phát hiện tài sản có nguồn gốc từ trộm cắp?

Ngừng ngay các giao dịch liên quan đến tài sản

Khi nhận thấy tài sản mình đang sở hữu hoặc quản lý có dấu hiệu liên quan đến một vụ trộm cắp, người mua nên tạm dừng việc sử dụng, bán, chuyển nhượng, cầm cố hoặc đưa tài sản cho người khác.

Việc tiếp tục giao dịch sau khi đã biết nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản có thể làm phát sinh thêm những vấn đề pháp lý.

Chủ động trình báo và giao nộp tài sản

Người mua có thể chủ động liên hệ cơ quan công an có thẩm quyền để trình báo vụ việc và thực hiện việc giao nộp tài sản theo hướng dẫn.

Khi trình báo, cần cung cấp chính xác thông tin về người bán, thời điểm giao dịch, địa điểm mua, giá mua, phương thức thanh toán và quá trình sử dụng hoặc quản lý tài sản.

Bảo quản tài liệu chứng minh quá trình mua tài sản

Các giấy tờ và dữ liệu liên quan đến giao dịch cần được lưu giữ nguyên trạng. Đây có thể là căn cứ quan trọng để làm rõ việc người mua có biết nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản tại thời điểm giao dịch hay không.

Chủ động khắc phục hậu quả và hợp tác với cơ quan có thẩm quyền

Nếu vụ việc đủ căn cứ xử lý hình sự, thái độ hợp tác, thành khẩn khai báo và việc chủ động khắc phục hậu quả có thể được xem xét theo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Cụ thể, điểm r khoản 1 Điều 51 quy định tự thú là tình tiết giảm nhẹ; điểm s khoản 1 Điều 51 quy định thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; điểm b khoản 1 Điều 51 quy định tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ theo điều kiện luật định.

Những rủi ro pháp lý khi mua tài sản không rõ nguồn gốc

Rủi ro bị xem xét về yếu tố “biết rõ”

Giá bán thấp bất thường, giấy tờ không đầy đủ, thông tin người bán không rõ ràng hoặc giao dịch được thực hiện trong hoàn cảnh bất thường có thể trở thành những tình tiết được xem xét khi đánh giá nhận thức của người mua.

Tuy nhiên, từng dấu hiệu riêng lẻ không đồng nghĩa với việc người mua chắc chắn biết tài sản có nguồn gốc phạm tội. Việc đánh giá phải dựa trên tổng thể chứng cứ của vụ việc.

Rủi ro phát sinh trách nhiệm khi bán lại tài sản

Nếu sau khi biết tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội mà người mua vẫn bán lại, hành vi này có thể được xem xét là hành vi tiêu thụ tài sản.

Do đó, người mua không nên tìm cách chuyển tài sản cho người khác nhằm tránh việc phải giao nộp hoặc che giấu nguồn gốc tài sản.

Rủi ro đối với hoạt động kinh doanh đồ cũ

Các cơ sở cầm đồ, mua bán tài sản đã qua sử dụng nên chủ động xây dựng quy trình kiểm tra nguồn gốc tài sản, lưu trữ hồ sơ giao dịch và thông tin của người giao tài sản.

Đây là biện pháp cần thiết để giảm thiểu nguy cơ phát sinh tranh chấp và tạo cơ sở giải trình khi cơ quan chức năng tiến hành xác minh.

Dịch vụ luật sư tư vấn, bào chữa liên quan đến mua tài sản do trộm cắp mà có

Chuyên tư vấn Luật cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến hành vi mua, chứa chấp và tiêu thụ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội.

Phân tích hồ sơ và xác định dấu hiệu pháp lý

Luật sư có thể nghiên cứu tài liệu, diễn biến giao dịch và các chứng cứ liên quan để đối chiếu với những dấu hiệu “biết rõ” và “không hứa hẹn trước” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Đánh giá nguy cơ và khung hình phạt

Trên cơ sở giá trị tài sản, số tiền thu lợi bất chính và tình tiết liên quan, luật sư có thể tư vấn về các vấn đề pháp lý cần lưu ý và khung hình phạt tương ứng nếu có căn cứ xử lý hình sự.

Hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ trình báo

Trường hợp người mua phát hiện tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp, Chuyên tư vấn Luật có thể hỗ trợ chuẩn bị nội dung trình báo, tường trình, tài liệu liên quan và tư vấn phương án giao nộp tài sản.

Hỗ trợ khi làm việc với cơ quan có thẩm quyền

Luật sư có thể tham gia cùng khách hàng trong quá trình làm việc, lấy lời khai và giải trình với cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật, qua đó hỗ trợ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Tư vấn phòng ngừa rủi ro cho cửa hàng mua bán đồ cũ

Đối với tiệm cầm đồ, cửa hàng thu mua đồ cũ hoặc cơ sở kinh doanh tài sản đã qua sử dụng, luật sư có thể tư vấn xây dựng quy trình kiểm tra, tiếp nhận, lập hồ sơ và lưu trữ thông tin về nguồn gốc tài sản.

Quý khách có nhu cầu được đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.

Câu hỏi thường gặp về mua tài sản do trộm cắp mà có

Mua đồ nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp có bị xử lý hình sự không?

Theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện hành vi phải biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có. Nếu người mua không biết và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được nguồn gốc phạm tội của tài sản thì chưa đủ căn cứ chỉ dựa vào việc tài sản là đồ trộm cắp để kết luận người mua phạm tội.

Mua tài sản trộm cắp giá trị nhỏ có thể bị phạt tù không?

Có thể nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 không đặt ra giá trị tài sản tối thiểu đối với khung hình phạt cơ bản.

Cửa hàng cầm đồ mua nhầm tài sản trộm cắp xử lý thế nào?

Tùy thuộc vào chứng cứ của vụ việc, cửa hàng có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc bị xử phạt hành chính nếu hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trường hợp có tính chất chuyên nghiệp có thể thuộc tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 323.

Đã mua phải tài sản trộm cắp cần làm gì?

Người mua nên ngừng sử dụng, chuyển nhượng hoặc cất giấu tài sản; đồng thời chủ động trình báo, giao nộp tài sản và cung cấp đầy đủ thông tin về giao dịch cho cơ quan có thẩm quyền.

Mức phạt tù cao nhất của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là bao nhiêu?

Theo khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, mức phạt tù cao nhất là từ 10 năm đến 15 năm đối với trường hợp tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên.

Người bán chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người mua có bị xử lý không?

Có thể bị xem xét tùy thuộc vào nhận thức của người mua và các tình tiết cụ thể. Việc người bán chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự không đương nhiên loại trừ việc xem xét nguồn gốc tài sản và trách nhiệm pháp lý của người mua theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.

Mua tài sản do trộm cắp mà có có thể dẫn đến nhiều rủi ro pháp lý nếu người mua biết rõ nguồn gốc tài sản nhưng vẫn tiếp tục tiếp nhận hoặc tiêu thụ. Để hạn chế nguy cơ phát sinh trách nhiệm, người mua nên kiểm tra giấy tờ, thông tin người bán và nguồn gốc tài sản trước khi giao dịch; trường hợp phát hiện nghi vấn cần dừng giao dịch, lưu giữ chứng cứ và chủ động làm việc với cơ quan có thẩm quyền. Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Mua tài sản do trộm cắp mà có: Hành vi này có phạm tội không?

Xem thêm:


Read More

 Lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng là hành vi có thể xuất hiện trong nhiều tình huống quản lý tài chính và tài sản tại doanh nghiệp. Tùy thuộc vào vị trí của người thực hiện, nguồn gốc khoản tiền, phương thức nhận và sử dụng tiền, cũng như ý thức chiếm đoạt, vụ việc có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý khác nhau.

Doanh nghiệp có thể phải xem xét trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trách nhiệm vật chất trong quan hệ lao động hoặc các rủi ro liên quan đến việc hạch toán, kê khai thuế.
Vì vậy, việc xác định đúng bản chất hành vi, thu thập đầy đủ chứng cứ và lựa chọn phương án xử lý phù hợp ngay từ đầu có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ tài sản và quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp.
doanh-nghiep-can-xac-minh-dong-tien-va-quyen-quan-ly-tai-san-khi-phat-hien-tien-cong-ty-bi-su-dung-cho-muc-dich-ca-nhan-

Doanh nghiệp cần xác minh dòng tiền và quyền quản lý tài sản khi phát hiện tiền công ty bị sử dụng cho mục đích cá nhân.

Trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng tiền công ty vào mục đích cá nhân

Để xác định một người có thể bị xử lý hình sự hay không, doanh nghiệp cần phân tích toàn bộ quá trình quản lý và sử dụng khoản tiền thay vì chỉ căn cứ vào kết quả cuối cùng là tiền của công ty đã được dùng cho mục đích cá nhân. Trong đó, mối quan hệ giữa người thực hiện với tài sản, quyền hạn được giao và mục đích thực tế khi sử dụng tiền là những yếu tố đặc biệt quan trọng.

Nếu người thực hiện có quyền quản lý tài sản và lợi dụng chính chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt thì cần xem xét quy định về tội tham ô tài sản. Trường hợp tài sản được giao cho người đó một cách hợp pháp nhưng sau đó người này phát sinh ý định chiếm đoạt thì cần đối chiếu với quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nếu người đó chỉ sử dụng tài sản trái phép nhằm vụ lợi mà không có mục đích chiếm đoạt thì cần xem xét Điều 177 Bộ luật Hình sự. Trong khi đó, Điều 176 chỉ đặt ra trong những trường hợp tài sản thuộc phạm vi tài sản bị giao nhầm hoặc tài sản do người đó tìm được, bắt được nhưng cố tình không trả hoặc không giao nộp.

Người có chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tiền công ty có thể bị xử lý về tội tham ô tài sản

Tội tham ô tài sản được xem xét khi người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí được giao để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Trong môi trường doanh nghiệp, chủ thể thực hiện hành vi không nhất thiết chỉ là giám đốc hay người đứng đầu công ty. Tùy cơ cấu tổ chức và phạm vi công việc được phân công, giám đốc, kế toán trưởng, kế toán, thủ quỹ hoặc người khác được giao trực tiếp quản lý tiền và tài sản của doanh nghiệp đều có thể thuộc nhóm chủ thể cần được xem xét.

Điểm quan trọng cần xác định là giữa chức vụ, quyền hạn của người thực hiện và tài sản bị chiếm đoạt phải có mối liên hệ nhất định. Nói cách khác, người đó phải có trách nhiệm quản lý hoặc có quyền hạn nhất định đối với tài sản và lợi dụng vị trí này để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Đây là cơ sở để phân biệt trường hợp tham ô tài sản với những hành vi chiếm đoạt khác.

Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015, tội tham ô tài sản được xác lập khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên. Trường hợp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng người thực hiện trước đó đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, hoặc đã bị kết án về một trong các tội thuộc Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự mà chưa được xóa án tích thì vẫn có thể thuộc trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đáng chú ý, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 được bổ sung năm 2017 đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Vì vậy, trường hợp người quản lý tại công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tiền mà mình có trách nhiệm quản lý cũng cần được xem xét theo quy định này.

Theo khoản 2 Điều 352 Bộ luật Hình sự 2015, người có chức vụ là người được bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng hoặc bằng hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đó. Vì vậy, khi đánh giá một người có thuộc chủ thể của tội tham ô tài sản hay không, doanh nghiệp cần kiểm tra cụ thể chức danh, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi tài sản mà người đó được giao quản lý thay vì chỉ dựa vào tên gọi chức vụ.

Chiếm giữ tiền công ty không hoàn trả có thể phát sinh trách nhiệm hình sự

Một hướng xử lý khác cần được phân biệt là trường hợp người thực hiện không có chức vụ, quyền hạn quản lý tài sản nhưng lại cố tình giữ tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình và không hoàn trả sau khi chủ sở hữu yêu cầu.

Tình huống này có thể phát sinh khi tiền của doanh nghiệp được chuyển nhầm vào tài khoản cá nhân hoặc một người được giao tiền để thực hiện công việc, nhận tiền tạm ứng, tiền công tác, tiền quỹ nhưng sau đó không quyết toán, không hoàn lại phần tiền còn thừa mặc dù doanh nghiệp đã nhiều lần yêu cầu. Khi đó, cần căn cứ vào nguồn gốc tài sản và diễn biến cụ thể để xác định có thuộc trường hợp của tội chiếm giữ trái phép tài sản hay không.

Theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người cố tình không trả lại tài sản cho chủ sở hữu trong trường hợp tài sản được giao nhầm hoặc không giao nộp tài sản cho cơ quan có trách nhiệm trong trường hợp tài sản do mình tìm được, mà tài sản có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khoản 2 Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 cũng quy định khung hình phạt nặng hơn đối với trường hợp tài sản bị chiếm giữ có giá trị từ 200.000.000 đồng trở lên. Khác với tội tham ô tài sản, chủ thể của tội chiếm giữ trái phép tài sản không bắt buộc phải là người có chức vụ hoặc quyền hạn quản lý tài sản. Vấn đề trọng tâm là xác định nguồn gốc tài sản có thuộc trường hợp Điều 176 quy định hay không và người đang giữ tài sản có cố ý không hoàn trả sau khi được yêu cầu hay không.

Không phải mọi trường hợp sử dụng tiền công ty sai mục đích đều là tội phạm

Doanh nghiệp cần tránh quan điểm cho rằng cứ lấy tiền công ty dùng vào việc cá nhân thì đương nhiên cấu thành tội phạm. Trên thực tế, có những trường hợp hành vi chưa đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội tham ô tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng trái phép tài sản hoặc một tội danh khác. Khi đó, vụ việc có thể được giải quyết theo trách nhiệm dân sự, trách nhiệm vật chất của người lao động hoặc trách nhiệm quản trị doanh nghiệp.

Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi xâm phạm tài sản, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của người khác và gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 đồng thời quy định nguyên tắc thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, đồng thời cho phép các bên thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường.

Nếu người sử dụng tiền là người lao động của doanh nghiệp, việc xác định trách nhiệm vật chất còn phải căn cứ vào Bộ luật Lao động và các quy định hướng dẫn. Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định trình tự xử lý trường hợp người lao động làm mất tài sản được giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động. Những trường hợp bồi thường khác được xem xét theo Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật có liên quan.

Đối với người quản lý doanh nghiệp, trách nhiệm còn được đặt ra trên cơ sở nghĩa vụ quản trị. Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 yêu cầu thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty cổ phần phải thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích hợp pháp tối đa của công ty.

hanh-vi-lay-tien-cong-ty-dung-viec-rieng-co-the-bi-xem-xet-trach-nhiem-hinh-su-dan-su-hoac-trach-nhiem-vat-chat-tuy-truong-hop-

Hành vi lấy tiền công ty dùng việc riêng có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự, dân sự hoặc trách nhiệm vật chất tùy trường hợp.

Phân biệt các trường hợp sử dụng tiền công ty để xác định hướng xử lý

Khi phát hiện dòng tiền doanh nghiệp được sử dụng không đúng mục đích, chủ doanh nghiệp nên phân loại vụ việc dựa trên nguồn gốc tài sản, vị trí của người thực hiện và mục đích của hành vi. Việc phân loại này giúp hạn chế tình trạng áp dụng sai tội danh hoặc lựa chọn sai phương thức xử lý.

Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí được giao để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý thì cần xem xét Điều 352 và khoản 1, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự, với dấu hiệu trọng tâm là có chức vụ, quyền hạn, có trách nhiệm quản lý tài sản và có hành vi chiếm đoạt.

Nếu người thực hiện ban đầu nhận tài sản hợp pháp thông qua hợp đồng rồi sau đó mới phát sinh hành vi chiếm đoạt, doanh nghiệp cần đối chiếu Điều 175 Bộ luật Hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp người thực hiện vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của công ty nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt thì cần xem xét Điều 177 Bộ luật Hình sự. Trong khi đó, Điều 176 được xem xét khi tài sản thuộc trường hợp được giao nhầm hoặc người thực hiện tìm được, bắt được nhưng cố tình không trả hoặc không giao nộp theo quy định.

Nếu hành vi sử dụng tiền sai mục đích chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì doanh nghiệp có thể yêu cầu hoàn trả, bồi thường thiệt hại và xử lý nội bộ dựa trên Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật lao động hoặc pháp luật doanh nghiệp tùy từng quan hệ pháp lý cụ thể.

Nghĩa vụ tách biệt tài sản và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp

Việc đánh giá hành vi sử dụng tiền công ty vào mục đích cá nhân còn phải đặt trong bối cảnh loại hình doanh nghiệp. Không nên mặc nhiên áp dụng một cách giống nhau đối với tất cả doanh nghiệp vì chế độ tài sản và tư cách pháp lý của từng loại hình có sự khác biệt.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và có khối tài sản độc lập với tài sản của thành viên, cổ đông theo quy định pháp luật. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Do đó, khi phát hiện một khoản tiền doanh nghiệp bị sử dụng cho mục đích cá nhân, cần xác định rõ khoản tiền đó thuộc tài sản của doanh nghiệp, ai có quyền quản lý, ai có quyền quyết định việc sử dụng và việc sử dụng có phù hợp với thẩm quyền được giao hay không.

Trách nhiệm trung thực và cẩn trọng của người đại diện theo pháp luật

Theo điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng và tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định người đại diện theo pháp luật phải trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không được lợi dụng địa vị, chức vụ, sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh hoặc tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi hay phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.

Khoản 2 Điều 13 tiếp tục quy định người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp do vi phạm các trách nhiệm được quy định tại khoản 1. Vì vậy, trường hợp người đại diện theo pháp luật tự ý rút hoặc sử dụng tiền công ty cho mục đích cá nhân trái với thẩm quyền, Điều lệ, nghị quyết hoặc lợi ích của doanh nghiệp thì trách nhiệm phải được xem xét dựa trên hành vi cụ thể, phạm vi quyền hạn và thiệt hại thực tế phát sinh.

Trách nhiệm bồi thường của người quản lý khi sử dụng tài sản công ty trái quy định

Đối với công ty cổ phần, khoản 1 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác phải thực hiện quyền, nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng và trung thành với lợi ích của công ty, cổ đông; đồng thời không được lạm dụng địa vị, chức vụ hoặc sử dụng tài sản của công ty để tư lợi.

Nếu người quản lý vi phạm những nghĩa vụ này, khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định họ phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới trong việc đền bù lợi ích bị mất, hoàn trả lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty cũng như bên thứ ba.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác cần được xác định dựa trên các quy định riêng về cơ cấu quản trị của công ty trách nhiệm hữu hạn, Điều lệ doanh nghiệp và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật nếu người đó đồng thời giữ chức danh này.

bao-toan-chung-tu-sao-ke-ngan-hang-va-du-lieu-giao-dich-la-co-so-quan-trong-de-doanh-nghiep-lua-chon-huong-xu-ly-phu-hop-

Bảo toàn chứng từ, sao kê ngân hàng và dữ liệu giao dịch là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp lựa chọn hướng xử lý phù hợp.

Rủi ro thuế khi tiền công ty bị sử dụng cho mục đích cá nhân

Việc tiền doanh nghiệp được sử dụng cho mục đích cá nhân không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đương nhiên thực hiện hành vi trốn thuế. Rủi ro thuế xuất hiện khi khoản tiền này được hạch toán, kê khai hoặc xác định nghĩa vụ thuế không đúng bản chất giao dịch.

Ví dụ, một khoản chi phục vụ lợi ích cá nhân lại được ghi nhận như chi phí của doanh nghiệp, doanh nghiệp sử dụng chứng từ không hợp pháp hoặc cố tình che giấu giao dịch nhằm làm giảm số thuế phải nộp. Khi đó, ngoài vấn đề thu hồi tiền và trách nhiệm của người sử dụng tiền, doanh nghiệp còn cần rà soát lại hồ sơ kế toán và nghĩa vụ thuế liên quan.

Từ ngày 01/7/2026, Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực và thay thế khung quản lý thuế trước đó theo quy định chuyển tiếp của Luật. Vì vậy, những khoản chi phát sinh hoặc được hạch toán trong giai đoạn áp dụng pháp luật mới cần được doanh nghiệp kiểm tra theo quy định tương ứng.

Nếu khoản tiền phục vụ mục đích cá nhân bị ghi nhận sai thành chi phí của doanh nghiệp, hậu quả về thuế sẽ phụ thuộc vào phương thức hạch toán và kê khai cụ thể. Có trường hợp chỉ dẫn đến khai sai hoặc làm thiếu số thuế phải nộp; nhưng cũng có trường hợp hành vi đáp ứng dấu hiệu trốn thuế theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025. Do đó, không nên đánh đồng mọi khoản tiền công ty được sử dụng sai mục đích với hành vi trốn thuế.

Điều 44 Luật Quản lý thuế 2025 quy định nguyên tắc xử phạt và mức xử phạt đối với từng nhóm hành vi. Theo điểm b khoản 3 Điều 44, mức phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế khai tăng trong trường hợp được miễn, giảm, hoàn, không thu được áp dụng đối với các hành vi thuộc phạm vi điều luật. Đối với hành vi trốn thuế quy định tại khoản 4 Điều 45, điểm c khoản 3 Điều 44 quy định mức phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn.

Các bước doanh nghiệp nên thực hiện khi phát hiện tiền công ty bị sử dụng sai mục đích

Khi phát hiện khoản tiền của doanh nghiệp bị lấy và sử dụng cho mục đích cá nhân, doanh nghiệp không nên vội vàng xử lý khi chưa xác minh đầy đủ. Việc thực hiện đúng trình tự giúp doanh nghiệp vừa bảo toàn chứng cứ, vừa có cơ sở lựa chọn giữa yêu cầu hoàn trả, xử lý nội bộ, khởi kiện dân sự hoặc tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm.

Trước tiên, doanh nghiệp cần xác định diễn biến của dòng tiền và phạm vi quyền quản lý tài sản của người thực hiện. Việc xác minh ban đầu càng đầy đủ thì quá trình đánh giá trách nhiệm pháp lý càng có cơ sở.

Doanh nghiệp có thể thực hiện các công việc sau:

  • Đối chiếu sổ sách kế toán, sao kê tài khoản ngân hàng, phiếu thu, phiếu chi, ủy nhiệm chi, chứng từ kế toán và dữ liệu phê duyệt giao dịch để xác định khoản tiền đã được rút hoặc chuyển đi, thời điểm giao dịch và người phê duyệt.

  • Kiểm tra căn cứ xác lập quyền tiếp cận hoặc quản lý tiền của người thực hiện thông qua Điều lệ công ty, quy chế tài chính, quyết định bổ nhiệm, hợp đồng lao động, giấy ủy quyền, quy trình tạm ứng hoặc quyết định chi tiền.

  • Lập biên bản làm việc và yêu cầu người có liên quan giải trình bằng văn bản về lý do nhận tiền, mục đích sử dụng, số tiền đã sử dụng, số tiền còn lại và khả năng hoàn trả.

  • Bảo quản dữ liệu điện tử cùng chứng từ gốc như email, tin nhắn công việc, dữ liệu kế toán, lịch sử phê duyệt giao dịch và tài liệu ngân hàng. Doanh nghiệp không nên tự ý chỉnh sửa dữ liệu gốc sau khi phát hiện vụ việc.

  • Xác định thiệt hại thực tế, bao gồm số tiền chưa được hoàn trả và các thiệt hại khác có căn cứ phát sinh từ việc tài sản bị sử dụng trái quy định.

Sau khi hoàn tất việc thu thập và xác minh, doanh nghiệp mới nên lựa chọn hướng xử lý. Nếu người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý thì có thể xem xét Điều 353 Bộ luật Hình sự. Nếu người đó nhận tài sản hợp pháp thông qua hợp đồng rồi sau đó thực hiện hành vi chiếm đoạt thì cần đối chiếu Điều 175.

Trường hợp người thực hiện chỉ sử dụng trái phép tài sản vì vụ lợi nhưng không nhằm chiếm đoạt thì cần xem xét Điều 177. Điều 176 chỉ phù hợp với trường hợp tài sản bị giao nhầm hoặc do người đó tìm được, bắt được rồi cố tình không trả hoặc không giao nộp. Nếu không đáp ứng dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể xử lý theo hướng bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Dân sự 2015 và pháp luật lao động hiện hành.

Thông báo vi phạm, yêu cầu hoàn trả và bồi thường thiệt hại

Sau khi có kết quả xác minh, doanh nghiệp có thể gửi văn bản yêu cầu người có liên quan giải trình, hoàn trả khoản tiền đã sử dụng, chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại nếu có đầy đủ căn cứ.

Đối với người quản lý doanh nghiệp, trách nhiệm cần được xem xét đồng thời theo Luật Doanh nghiệp, Điều lệ và các quy chế quản trị nội bộ phù hợp với loại hình công ty. Đối với công ty cổ phần, khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 đặt ra trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới trong việc đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường thiệt hại khi người quản lý vi phạm nghĩa vụ của mình.

Nếu người thực hiện hành vi là người lao động, doanh nghiệp cần xem xét đồng thời quan hệ lao động, trách nhiệm vật chất và các quy định nội bộ hợp pháp trước khi áp dụng biện pháp xử lý. Việc yêu cầu bồi thường cũng cần dựa trên mức thiệt hại thực tế và căn cứ pháp lý tương ứng.

Đối với trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Do đó, doanh nghiệp cần lưu ý thời điểm phát hiện hành vi và thiệt hại để bảo đảm quyền yêu cầu được thực hiện trong thời hiệu luật định.

Tố giác hành vi có dấu hiệu tham ô hoặc chiếm giữ trái phép tài sản

Trong trường hợp tài liệu thu thập được cho thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, doanh nghiệp có thể thực hiện quyền tố giác về tội phạm và gửi kèm các tài liệu, chứng cứ liên quan đến cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Đây là cơ sở để doanh nghiệp hoặc cá nhân có thông tin về vụ việc cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng để được tiếp nhận, xác minh và giải quyết theo trình tự pháp luật.

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, mọi tố giác, tin báo về tội phạm phải được tiếp nhận đầy đủ và giải quyết kịp thời; cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thuộc các cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

Hồ sơ tố giác của doanh nghiệp nên trình bày đầy đủ những thông tin cần thiết, bao gồm:

  • Thông tin về doanh nghiệp và người đại diện;

  • Thông tin về người bị phản ánh cùng chức vụ, nhiệm vụ tại công ty;

  • Quá trình người đó được giao quản lý hoặc tiếp cận khoản tiền;

  • Số tiền và những giao dịch có dấu hiệu bất thường;

  • Thời điểm doanh nghiệp phát hiện sự việc;

  • Nội dung giải trình của người có liên quan nếu doanh nghiệp đã tiến hành làm việc;

  • Số tiền đã được hoàn trả và số tiền còn thiếu;

  • Chứng từ kế toán, tài liệu ngân hàng, dữ liệu điện tử và các chứng cứ khác;

  • Đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh hành vi có dấu hiệu tội phạm.

Theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi tố giác được thực hiện trực tiếp, cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và ghi vào sổ tiếp nhận. Trường hợp tố giác được gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc phương tiện thông tin khác thì thông tin cũng phải được ghi nhận theo quy định.

Dịch vụ luật sư tư vấn xử lý hành vi lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng tại Long Phan PMT

Việc xử lý hành vi lấy tiền doanh nghiệp sử dụng vào mục đích cá nhân cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá toàn diện cả chứng cứ, quyền quản lý tài sản, mục đích sử dụng tiền và hậu quả thực tế. Long Phan PMT có thể hỗ trợ doanh nghiệp rà soát hồ sơ, xác định hướng xử lý và chuẩn bị các tài liệu cần thiết trong quá trình giải quyết vụ việc.

Các nội dung hỗ trợ có thể bao gồm:

  • Rà soát chứng từ và đối chiếu sổ sách kế toán để xác định giá trị tài sản đã bị chiếm đoạt hoặc chiếm giữ;

  • Phân tích vụ việc để đánh giá khả năng thuộc tội tham ô tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản hoặc chỉ là tranh chấp, trách nhiệm dân sự nội bộ;

  • Soạn thảo đơn tố giác tội phạm hoặc đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại;

  • Đại diện doanh nghiệp làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc tham gia tố tụng tại Tòa án;

  • Tư vấn việc điều chỉnh sổ sách kế toán và nghĩa vụ thuế có liên quan sau khi vụ việc được xử lý.

Doanh nghiệp cần đánh giá vụ việc cụ thể dựa trên toàn bộ hồ sơ và chứng cứ thực tế thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi của hành vi. Việc xác định đúng bản chất pháp lý ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn được phương thức xử lý phù hợp, đồng thời hạn chế nguy cơ bỏ sót chứng cứ hoặc áp dụng không đúng căn cứ pháp luật.

Một số câu hỏi thường gặp khi phát hiện tiền công ty bị sử dụng cho việc riêng

Giám đốc dùng tiền công ty cho mục đích cá nhân thì doanh nghiệp xử lý như thế nào?

Căn cứ khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp có quyền yêu cầu giám đốc hoàn trả lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại nếu có căn cứ xác định người quản lý vi phạm nghĩa vụ của mình. Nếu hành vi đồng thời đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội tham ô tài sản theo khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 thì doanh nghiệp có thể thực hiện quyền tố giác đến cơ quan điều tra để xem xét trách nhiệm hình sự, đồng thời yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường theo quy định.

Rút tiền công ty sai mục đích có ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế không?

Có thể phát sinh rủi ro thuế nếu khoản tiền sử dụng cho mục đích cá nhân được hạch toán hoặc kê khai không đúng bản chất giao dịch. Theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025, nếu hành vi thuộc nhóm được xác định là trốn thuế thì có thể bị xử phạt theo điểm c khoản 3 Điều 44, với mức phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn, bên cạnh nghĩa vụ về số thuế phải nộp và tiền chậm nộp theo quy định.

Doanh nghiệp có thời hạn bao lâu để khởi kiện yêu cầu bồi thường?

Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Doanh nghiệp cần căn cứ vào bản chất quan hệ pháp luật cụ thể để xác định đúng thời hiệu áp dụng.

Sau khi doanh nghiệp tố giác, cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong bao lâu?

Việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm được thực hiện theo trình tự của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Hồ sơ cần cung cấp đầy đủ thông tin về người liên quan, dòng tiền, giao dịch, chứng từ và các tài liệu chứng minh để cơ quan có thẩm quyền có cơ sở kiểm tra, xác minh theo quy định.

Lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng không phải trong mọi trường hợp đều dẫn đến trách nhiệm hình sự, nhưng hành vi này có thể làm phát sinh nhiều dạng trách nhiệm pháp lý khác nhau tùy thuộc vào tính chất, mức độ và hoàn cảnh cụ thể. Doanh nghiệp cần phân biệt giữa hành vi tham ô tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng trái phép tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản với trường hợp chỉ phát sinh nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường thiệt hại. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần kiểm tra việc hạch toán, kê khai để hạn chế rủi ro về thuế khi dòng tiền bị sử dụng sai bản chất.

Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Hướng dẫn xử lý nhân viên lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng đúng luật

>>> Xem thêm:

 

Read More

My maps