Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do và quá trình tham gia tố tụng của bị can, bị cáo. Vì vậy, điều kiện thay đổi biện pháp ngăn chặn với bị can, bị cáo là vấn đề cần được xem xét trên cơ sở tính chất vụ án, nhân thân người bị buộc tội và yêu cầu bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định nhiều biện pháp ngăn chặn khác nhau, trong đó bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm là hai biện pháp có thể được áp dụng thay thế tạm giam khi đáp ứng điều kiện luật định. Việc hiểu đúng căn cứ, điều kiện và nghĩa vụ kèm theo sẽ giúp bị can, bị cáo và người thân lựa chọn phương án phù hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

cac-bien-phap-ngan-chan-trong-to-tung-hinh-su-
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

Các biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong tố tụng hình sự

Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp tố tụng được cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng trong những trường hợp luật định nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, hạn chế nguy cơ người bị buộc tội gây khó khăn cho hoạt động tố tụng, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội hoặc nhằm bảo đảm cho việc thi hành án.

Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021, hệ thống các biện pháp ngăn chặn có liên quan gồm:

  • Giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo Điều 110;

  • Bắt người phạm tội quả tang theo Điều 111;

  • Bắt người đang bị truy nã theo Điều 112;

  • Bắt bị can, bị cáo để tạm giam theo Điều 113;

  • Tạm giữ theo Điều 117;

  • Tạm giam theo Điều 119;

  • Bảo lĩnh theo Điều 121;

  • Đặt tiền để bảo đảm theo Điều 122;

  • Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Điều 123;

  • Tạm hoãn xuất cảnh theo Điều 124.

Mỗi biện pháp có đối tượng, điều kiện, thẩm quyền và thời hạn áp dụng riêng. Vì vậy, không thể căn cứ đơn thuần vào mong muốn được tại ngoại của bị can, bị cáo để quyết định thay đổi biện pháp đang áp dụng.

Đặc biệt, bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm được Bộ luật Tố tụng Hình sự xác định là những biện pháp ngăn chặn có thể thay thế tạm giam. Do đó, trong trường hợp bị can, bị cáo đang bị tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét áp dụng một trong hai biện pháp này nếu căn cứ của vụ án và điều kiện cụ thể của người bị buộc tội cho phép.

Khi nào cơ quan tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn?

Khoản 1 Điều 109 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 quy định căn cứ chung để áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Theo đó, cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ cho thấy người bị buộc tội có khả năng gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; có nguy cơ tiếp tục phạm tội; hoặc việc áp dụng biện pháp là cần thiết để bảo đảm thi hành án.

Như vậy, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn phải gắn với mục đích tố tụng cụ thể. Cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét hoàn cảnh của từng vụ án, hành vi bị điều tra, nguy cơ bỏ trốn, khả năng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, khả năng tác động đến người làm chứng, chứng cứ và các yếu tố khác liên quan đến hoạt động giải quyết vụ án.

Điều này đồng thời cho thấy biện pháp ngăn chặn không nhất thiết phải được duy trì giống nhau trong toàn bộ quá trình tố tụng. Khi tình tiết, căn cứ hoặc mức độ cần thiết thay đổi, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét việc hủy bỏ, thay thế hoặc áp dụng một biện pháp phù hợp khác theo quy định.

Điều kiện xem xét thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo

Việc thay đổi biện pháp ngăn chặn không được thực hiện một cách tự động chỉ vì bị can, bị cáo hoặc gia đình có đơn đề nghị. Cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá tổng thể căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn và tình trạng thực tế của người bị buộc tội.

Một số yếu tố thường có ý nghĩa khi xem xét bao gồm tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; nhân thân của bị can, bị cáo; nơi cư trú; khả năng chấp hành yêu cầu triệu tập; nguy cơ bỏ trốn; nguy cơ tiếp tục phạm tội; khả năng gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử và yêu cầu bảo đảm thi hành án.

Đối với trường hợp đang bị tạm giam, Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định cụ thể hai biện pháp thay thế là bảo lĩnh theo Điều 121 và đặt tiền để bảo đảm theo Điều 122. Mặc dù cùng có chức năng thay thế tạm giam, điều kiện của từng biện pháp không hoàn toàn giống nhau.

Điều kiện áp dụng bảo lĩnh thay thế tạm giam

Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 quy định bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam.

Việc bị can, bị cáo có được áp dụng bảo lĩnh hay không trước hết phụ thuộc vào đánh giá của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của người bị buộc tội. Đây là những căn cứ quan trọng để xác định liệu việc tiếp tục tạm giam có còn cần thiết hay có thể thay bằng biện pháp ít nghiêm khắc hơn.

Bảo lĩnh do cá nhân thực hiện

Trường hợp cá nhân đứng ra nhận bảo lĩnh thì phải đáp ứng các yêu cầu mà Điều 121 quy định.

Theo đó, phải có ít nhất hai người là người thân thích của bị can, bị cáo cùng nhận bảo lĩnh. Người nhận bảo lĩnh phải từ đủ 18 tuổi, có nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có thu nhập ổn định và có điều kiện thực tế để quản lý người được bảo lĩnh.

Việc yêu cầu người nhận bảo lĩnh có khả năng quản lý bị can, bị cáo nhằm bảo đảm biện pháp này không chỉ mang tính hình thức. Người nhận bảo lĩnh phải có điều kiện để nhắc nhở, giám sát và hỗ trợ người được bảo lĩnh thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong suốt thời gian biện pháp ngăn chặn có hiệu lực.

Cá nhân nhận bảo lĩnh phải lập giấy cam đoan theo quy định. Giấy cam đoan phải được xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Bảo lĩnh do cơ quan, tổ chức thực hiện

Không chỉ cá nhân mà cơ quan, tổ chức cũng có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thuộc cơ quan, tổ chức mình.

Trong trường hợp này, cơ quan hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh phải lập giấy cam đoan và giấy này phải có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cơ chế này tạo điều kiện để người bị buộc tội có thể được quản lý, giám sát thông qua môi trường làm việc hoặc tổ chức mà họ đang tham gia, nhưng việc có chấp nhận cho bảo lĩnh hay không vẫn thuộc quyền quyết định của cơ quan tố tụng có thẩm quyền.

Nghĩa vụ của bị can, bị cáo được bảo lĩnh

Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ theo khoản 3 Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021.

Việc được bảo lĩnh không đồng nghĩa với việc người bị buộc tội được miễn khỏi các nghĩa vụ tố tụng. Họ vẫn phải tuân thủ những yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

Nếu người được bảo lĩnh không chấp hành các nghĩa vụ đã cam đoan, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc hơn theo quy định.

dieu-kien-bao-linh-hoac-dat-tien-de-thay-the-tam-giam-

Điều kiện bảo lĩnh hoặc đặt tiền để thay thế tạm giam

Điều kiện đặt tiền để bảo đảm thay thế tạm giam

Bên cạnh bảo lĩnh, Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 quy định đặt tiền để bảo đảm là một biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể quyết định cho bị can, bị cáo hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo.

Như vậy, không phải cứ có khả năng tài chính và đồng ý nộp tiền là đương nhiên được thay đổi biện pháp tạm giam. Khả năng đặt tiền chỉ là một yếu tố. Quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào việc cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá có đủ căn cứ để thay thế tạm giam hay không.

Cam đoan của bị can, bị cáo

Khi được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, bị can, bị cáo phải lập giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ theo khoản 2 Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021.

Những nghĩa vụ này nhằm bảo đảm người được áp dụng biện pháp vẫn chịu sự quản lý của cơ quan tiến hành tố tụng và không lợi dụng việc không bị tạm giam để gây trở ngại cho quá trình giải quyết vụ án.

Do đó, sau khi được thay đổi biện pháp ngăn chặn, bị can, bị cáo cần tuân thủ nghiêm túc nội dung cam đoan và yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Trường hợp người thân thích đặt tiền để bảo đảm

Điều 122 cũng cho phép người thân thích của bị can, bị cáo được đặt tiền để bảo đảm nếu được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Người thân thích trong trường hợp này phải lập giấy cam đoan theo quy định và có trách nhiệm không để bị can, bị cáo vi phạm những nghĩa vụ đã được xác lập.

Việc cho phép người thân thích đặt tiền giúp mở rộng khả năng áp dụng biện pháp thay thế tạm giam trong trường hợp bản thân bị can, bị cáo không có đủ điều kiện về tài sản nhưng gia đình có khả năng thực hiện việc bảo đảm.

Hậu quả khi vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan

Một trong những vấn đề đặc biệt cần lưu ý đối với biện pháp đặt tiền để bảo đảm là hậu quả pháp lý phát sinh nếu người được áp dụng biện pháp không tuân thủ nghĩa vụ.

Theo Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021, nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ theo quy định thì có thể bị tạm giam và số tiền đã đặt để bảo đảm có thể bị tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp người thân thích là người đặt tiền thì họ cũng phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ. Nếu xảy ra vi phạm thuộc trường hợp luật quy định, khoản tiền được sử dụng để bảo đảm cũng có thể bị xử lý theo quy định.

Vì vậy, trước khi đề nghị áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, người thực hiện cần hiểu rằng khoản tiền này gắn trực tiếp với trách nhiệm chấp hành nghĩa vụ tố tụng của bị can, bị cáo.

Bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm khác nhau như thế nào?

Mặc dù đều là biện pháp thay thế tạm giam, bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm có cơ chế thực hiện khác nhau.

Đối với bảo lĩnh, trọng tâm của biện pháp nằm ở trách nhiệm quản lý, giám sát và cam kết của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh. Người nhận bảo lĩnh phải đáp ứng điều kiện cụ thể và chịu trách nhiệm trong phạm vi pháp luật quy định đối với việc thực hiện cam kết.

Đối với đặt tiền để bảo đảm, ngoài việc đánh giá tính chất hành vi và nhân thân, cơ quan tiến hành tố tụng còn xem xét tình trạng tài sản của bị can, bị cáo. Biện pháp này gắn với một khoản tiền bảo đảm và khoản tiền có thể bị xử lý nếu người được áp dụng biện pháp vi phạm nghĩa vụ luật định.

Do sự khác biệt này, việc lựa chọn đề nghị bảo lĩnh hay đặt tiền để bảo đảm cần căn cứ vào điều kiện thực tế của bị can, bị cáo và gia đình, đồng thời phải phù hợp với đánh giá của cơ quan có thẩm quyền.

Có đơn xin thay đổi biện pháp ngăn chặn thì có được chấp nhận không?

Việc nộp đơn đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn không đồng nghĩa với việc cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải chấp nhận yêu cầu.

Đơn đề nghị là cơ sở để trình bày những căn cứ, tình tiết và tài liệu mà người làm đơn cho rằng có thể chứng minh việc tiếp tục áp dụng biện pháp hiện tại không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp khác.

Cơ quan có thẩm quyền vẫn phải đánh giá độc lập trên cơ sở hồ sơ vụ án, tính chất hành vi, nhân thân người bị buộc tội và yêu cầu bảo đảm quá trình tố tụng.

Do đó, hồ sơ đề nghị nên trình bày rõ các tình tiết có lợi và kèm theo tài liệu chứng minh phù hợp, thay vì chỉ đề nghị chung chung rằng bị can hoặc bị cáo muốn được tại ngoại.

Những yếu tố cần lưu ý khi đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn

Khi chuẩn bị đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn, bị can, bị cáo và gia đình cần đặc biệt chú ý đến cơ sở pháp lý và tình trạng thực tế của vụ án.

Thông tin về nhân thân, quan hệ gia đình, việc làm, nơi cư trú và khả năng quản lý người bị buộc tội cần được trình bày trung thực, thống nhất với các tài liệu kèm theo.

Nếu đề nghị bảo lĩnh, cần xác định đúng người có đủ điều kiện nhận bảo lĩnh và chuẩn bị giấy cam đoan theo Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021.

Nếu đề nghị đặt tiền để bảo đảm, cần xem xét điều kiện theo Điều 122, chuẩn bị cam đoan của bị can, bị cáo hoặc người thân thích và thực hiện các yêu cầu liên quan khi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Quan trọng hơn, người được thay đổi biện pháp ngăn chặn phải tiếp tục nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ tố tụng. Việc được áp dụng bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm không làm chấm dứt tư cách bị can, bị cáo cũng như trách nhiệm chấp hành yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.

luat-su-tu-van-thay-doi-bien-phap-ngan-chan-cho-bi-can-bi-cao

Luật sư tư vấn thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bị can, bị cáo.

Luật sư tư vấn thay đổi biện pháp ngăn chặn tại Long Phan PMT

Quá trình đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn liên quan đến nhiều yếu tố như giai đoạn tố tụng, thẩm quyền giải quyết, căn cứ áp dụng biện pháp hiện tại, nhân thân của bị can, bị cáo và hồ sơ chứng minh điều kiện áp dụng biện pháp thay thế.

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các công việc:

  • Tư vấn quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự liên quan đến biện pháp ngăn chặn;

  • Phân tích căn cứ đang áp dụng tạm giữ, tạm giam hoặc các biện pháp ngăn chặn khác;

  • Tư vấn điều kiện áp dụng bảo lĩnh theo Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021;

  • Tư vấn điều kiện đặt tiền để bảo đảm theo Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021;

  • Đánh giá hồ sơ và những tình tiết có thể sử dụng khi đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn;

  • Hướng dẫn chuẩn bị giấy cam đoan và các tài liệu chứng minh liên quan;

  • Soạn thảo đơn đề nghị thay đổi hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn;

  • Hỗ trợ khách hàng thực hiện các thủ tục với cơ quan tiến hành tố tụng;

  • Tư vấn quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo sau khi được áp dụng biện pháp thay thế tạm giam;

  • Luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội theo quy định.

Việc áp dụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn phải căn cứ vào từng vụ án cụ thể và quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Đối với trường hợp thay thế tạm giam bằng bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm, bị can, bị cáo phải đáp ứng những điều kiện và nghĩa vụ tương ứng tại Điều 121, Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

 Nguồn: Tại ngoại trong quá trình điều tra có được tự do đi lại không?

Xem thêm: Điều kiện thay đổi biện pháp ngăn chặn với bị can, bị cáo?

XỬ PHẠT KINH DOANH HÀNG KHÔNG RÕ NGUỒN GỐC VÀ CÁCH GIẢM NHẸ



Read More

 Trong hoạt động mua bán, phân phối hàng hóa, xử phạt kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc là vấn đề cần được đặc biệt lưu ý khi cá nhân, hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp không thể xuất trình đầy đủ tài liệu chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa đang lưu thông trên thị trường. Việc thiếu hoặc không chứng minh được hóa đơn, hợp đồng, chứng từ nhập khẩu và các giấy tờ liên quan có thể dẫn đến xử phạt tiền, tịch thu hàng hóa, buộc tiêu hủy hoặc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp. Trường hợp vụ việc có dấu hiệu liên quan đến hàng nhập lậu, hàng giả, trốn thuế hoặc sử dụng chứng từ không hợp pháp, trách nhiệm pháp lý còn có thể chuyển từ xử phạt hành chính sang trách nhiệm hình sự. Vì vậy, người kinh doanh cần nhận diện đúng hành vi, chủ động chuẩn bị tài liệu và thực hiện quyền giải trình kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

hang-hoa-khong-ro-nguon-goc-co-the-bi-phat-tien-tich-thu-hoac-buoc-tieu-huy-tuy-gia-tri-tinh-chat-va-loai-hang-hoa-vi-pham-

Hàng hóa không rõ nguồn gốc có thể bị phạt tiền, tịch thu hoặc buộc tiêu hủy tùy giá trị, tính chất và loại hàng hóa vi phạm.

Nhận diện hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ khi cơ quan chức năng kiểm tra

Không phải bất kỳ hàng hóa nào chưa xuất trình được hóa đơn ngay tại thời điểm kiểm tra cũng đương nhiên được xem là hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Việc đánh giá phải dựa trên các căn cứ cụ thể thể hiện trên nhãn hàng hóa, bao bì, hóa đơn, chứng từ, hợp đồng, tài liệu vận chuyển, giấy tờ nhập khẩu và những tài liệu có liên quan khác.

Quản lý thị trường là một trong những lực lượng có thẩm quyền tiến hành kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, bao gồm việc phòng, chống sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng cấm và hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, đồng thời thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại Điều 81 đến Điều 88 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP.

Khi hoạt động kiểm tra được thực hiện tại cửa hàng, kho chứa hàng, cơ sở kinh doanh hoặc địa điểm phân phối, chủ thể kinh doanh cần phối hợp và cung cấp những tài liệu đang có để chứng minh nguồn hàng hợp pháp. Các tài liệu có thể bao gồm hóa đơn mua hàng, hợp đồng với nhà cung cấp, phiếu xuất kho, biên bản bàn giao, chứng từ vận chuyển, tờ khai hải quan đối với hàng nhập khẩu và những giấy tờ khác có khả năng xác định được quá trình mua bán, sở hữu và lưu thông của hàng hóa.

Trường hợp tại thời điểm kiểm tra chưa có sẵn toàn bộ hóa đơn hoặc chứng từ không có nghĩa người kinh doanh chắc chắn bị xác định có hành vi vi phạm. Chủ thể kinh doanh có thể bổ sung, giải trình theo yêu cầu và trong thời hạn pháp luật cho phép. Tuy nhiên, nếu hết thời hạn mà vẫn không thể đưa ra căn cứ hợp pháp chứng minh nguồn gốc của hàng hóa thì hàng hóa có nguy cơ bị xác định là hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ và bị tạm giữ hoặc xử lý theo quy định.

Tiêu chí pháp lý để xác định hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ

Theo Khoản 13 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ được hiểu là hàng hóa đang lưu thông trên thị trường nhưng không có căn cứ để xác định được nguồn gốc nơi sản xuất hoặc xuất xứ của hàng hóa.

Như vậy, tiêu chí pháp lý không chỉ nằm ở việc có hay không có một hóa đơn tại thời điểm kiểm tra. Vấn đề cốt lõi là người kinh doanh có thể chứng minh được hàng hóa đến từ đâu, được sản xuất hoặc nhập khẩu bởi chủ thể nào, được mua bán thông qua giao dịch nào và quyền sở hữu hoặc quyền phân phối có căn cứ hợp pháp hay không.

Cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét đồng thời nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chẳng hạn nhãn hàng hóa, thông tin trên bao bì, hợp đồng mua bán, hóa đơn đầu vào, phiếu xuất kho, chứng từ giao nhận, tài liệu vận chuyển, tờ khai hải quan và các chứng từ thể hiện quyền sở hữu hợp pháp.

Do đó, trường hợp người kinh doanh chỉ thiếu một loại giấy tờ nhưng vẫn còn những chứng cứ khác đủ khả năng làm rõ toàn bộ nguồn gốc hàng hóa thì cần nhanh chóng tập hợp, hệ thống hóa và nộp cho cơ quan đang xử lý vụ việc. Ngược lại, nếu không có bất kỳ tài liệu đáng tin cậy nào làm cơ sở xác định nguồn hàng thì khả năng bị xử lý sẽ cao hơn.

nguoi-kinh-doanh-can-nhanh-chong-bo-sung-hoa-don-hop-dong-chung-tu-van-chuyen-va-tai-lieu-lien-quan-de-chung-minh-nguon-goc-hang-hoa-khi-bi-kiem-tra-

Người kinh doanh cần nhanh chóng bổ sung hóa đơn, hợp đồng, chứng từ vận chuyển và tài liệu liên quan để chứng minh nguồn gốc hàng hóa khi bị kiểm tra.

Những chứng từ có thể sử dụng để chứng minh nguồn gốc hàng hóa

Khi phát sinh việc kiểm tra, việc đầu tiên người kinh doanh nên thực hiện là rà soát toàn bộ chuỗi hồ sơ liên quan đến lô hàng. Không nên chỉ tập trung vào một hóa đơn duy nhất mà cần nhìn nhận toàn bộ quá trình từ mua hàng, thanh toán, vận chuyển đến nhập kho và phân phối.

Căn cứ Khoản 13 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, hồ sơ chứng minh nguồn gốc có thể liên quan đến chứng từ chứng nhận xuất xứ, hợp đồng, hóa đơn mua bán, tờ khai hải quan và những giấy tờ khác chứng minh quyền sở hữu hợp pháp.

Trong thực tế, người kinh doanh có thể rà soát và chuẩn bị các tài liệu như:

  • Hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn bán hàng có thông tin về bên bán, bên mua, loại hàng hóa, số lượng và giá trị giao dịch.

  • Hợp đồng mua bán, hợp đồng phân phối hoặc thỏa thuận thương mại thể hiện quan hệ giữa nhà cung cấp và bên mua.

  • Phiếu xuất kho, phiếu giao hàng, biên bản giao nhận hoặc tài liệu xác nhận việc hàng hóa đã được chuyển giao.

  • Chứng từ vận chuyển thể hiện đơn vị giao nhận, tuyến đường, thời gian giao hàng và chủ thể nhận hàng.

  • Tờ khai hải quan đối với hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu.

  • Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa C/O trong trường hợp cần chứng minh xuất xứ theo hồ sơ nhập khẩu hoặc theo yêu cầu quản lý.

  • Hồ sơ công bố sản phẩm đối với các loại hàng chịu sự quản lý chuyên ngành như thực phẩm, mỹ phẩm hoặc những sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe.

  • Tem hàng hóa, nhãn hàng hóa và nhãn phụ bằng tiếng Việt đối với những hàng hóa nhập khẩu thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu phải thể hiện các nội dung này.

Việc thu thập và hoàn thiện hồ sơ nên được triển khai ngay sau khi cơ quan chức năng lập biên bản kiểm tra hoặc tạm giữ hàng hóa. Hồ sơ càng đầy đủ, thống nhất về thời gian, số lượng, chủng loại và chủ thể giao dịch thì khả năng chứng minh nguồn hàng hợp pháp càng cao.

Đặc biệt, đối với trường hợp hàng hóa được mua qua nhiều khâu trung gian, chứng cứ từ nhà cung cấp, đơn vị vận chuyển, bên thanh toán và các chủ thể trong chuỗi giao dịch có thể có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải trình.

viec-giai-trinh-dung-thoi-han-cung-cap-chung-cu-hop-phap-va-de-nghi-ap-dung-tinh-tiet-giam-nhe-co-the-giup-han-che-rui-ro-xu-phat

Việc giải trình đúng thời hạn, cung cấp chứng cứ hợp pháp và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ 

Mức phạt khi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ

Mức xử phạt đối với hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ không được xác định một cách tùy nghi. Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét giá trị hàng hóa vi phạm, tư cách của người vi phạm là cá nhân hay tổ chức, loại hàng hóa, tính chất hành vi và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ có liên quan.

Căn cứ Khoản 1 đến Khoản 11 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ được phân chia thành nhiều khung xử phạt căn cứ theo giá trị hàng hóa vi phạm.

Đối với hàng hóa có giá trị dưới 1.000.000 đồng, cá nhân có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng; tổ chức có thể bị cảnh cáo hoặc phạt từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Nếu hàng hóa vi phạm có giá trị từ 1.000.000 đồng đến dưới 3.000.000 đồng, mức tiền phạt đối với cá nhân từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, trong khi tổ chức có thể bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Đối với hàng hóa trị giá từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, tổ chức có thể bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

Nếu giá trị hàng hóa từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; mức áp dụng đối với tổ chức từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Đối với hàng hóa trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng, cá nhân có thể bị xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng và tổ chức có thể bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng.

Trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng, mức tiền phạt dành cho cá nhân là từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; đối với tổ chức, mức tiền phạt từ 14.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Khi hàng hóa có giá trị từ 30.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; tổ chức có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Nếu giá trị hàng hóa từ 40.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; tổ chức có thể bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Đối với hàng hóa có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 70.000.000 đồng, mức phạt cá nhân dao động từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và mức dành cho tổ chức từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Nếu hàng hóa trị giá từ 70.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, cá nhân có thể bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, còn tổ chức có thể bị phạt từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.

Đối với hàng hóa vi phạm có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên, mức phạt đối với cá nhân từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nếu chủ thể vi phạm là tổ chức, mức phạt có thể từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Theo Điểm b Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân. Vì vậy, việc xác định chính xác chủ thể bị xử phạt là cá nhân, hộ kinh doanh hay tổ chức có ý nghĩa trực tiếp đối với số tiền phải nộp.

Những nhóm hàng hóa có thể bị áp dụng mức phạt gấp đôi

Bên cạnh giá trị hàng hóa, tính chất của loại hàng đang kinh doanh cũng ảnh hưởng đáng kể đến mức chế tài. Một số nhóm sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, môi trường hoặc thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện có thể chịu mức xử phạt cao hơn mức thông thường.

Theo Điểm a Khoản 12 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, trường hợp vi phạm liên quan đến thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thuốc, nguyên liệu làm thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế có thể bị áp dụng mức phạt gấp 02 lần mức phạt tiền tương ứng.

Theo Điểm b Khoản 12 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, quy định này còn áp dụng đối với hóa chất, chế phẩm diệt khuẩn, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, giống cây trồng, giống vật nuôi và thức ăn thủy sản.

Ngoài ra, Điểm c Khoản 12 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định hàng hóa thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cũng có thể thuộc trường hợp áp dụng mức phạt gấp đôi.

Do vậy, đối với các cơ sở kinh doanh mỹ phẩm, thực phẩm, thực phẩm chức năng, thuốc, trang thiết bị y tế hoặc những sản phẩm chuyên ngành, việc quản lý hồ sơ không nên chỉ dừng lại ở hóa đơn. Chủ thể kinh doanh còn cần quan tâm đến nhãn, nhãn phụ, hồ sơ công bố, điều kiện lưu hành và các giấy tờ chuyên ngành khác.

Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả

Tiền phạt không phải là hậu quả pháp lý duy nhất mà người kinh doanh có thể phải chịu.

Căn cứ khoản 13, 14 Điều 17 Nghị định 98/2022/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi kinh doanh không rõ nguồn gốc.

Theo đó, tang vật vi phạm có thể bị tịch thu, trừ trường hợp hàng hóa đã thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy.

Bên cạnh hình thức tịch thu, người vi phạm có thể phải thực hiện thêm những biện pháp khắc phục hậu quả khác.

Theo Điểm a Khoản 14 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, hàng hóa vi phạm có thể bị buộc tiêu hủy nếu gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng hoặc môi trường.

Theo Điểm b Khoản 14 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP, chủ thể vi phạm còn có thể bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

Vì vậy, thiệt hại thực tế của một vụ việc có thể lớn hơn nhiều so với tiền phạt. Ngoài khoản tiền phải nộp cho Nhà nước, chủ thể kinh doanh có khả năng mất toàn bộ hàng hóa, phải chi phí cho việc tiêu hủy và phải hoàn trả lợi ích đã thu được từ hành vi vi phạm. Trong một số trường hợp, người tiêu dùng còn có thể yêu cầu hoàn tiền hoặc bồi thường nếu sản phẩm gây ra thiệt hại.

Khi nào vi phạm hành chính có nguy cơ chuyển sang trách nhiệm hình sự?

Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ không mặc nhiên đồng nghĩa với việc người kinh doanh bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Phần lớn trường hợp, nếu hành vi chỉ đáp ứng dấu hiệu của vi phạm hành chính thì sẽ được xử lý theo Điều 17 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.

Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra, nếu cơ quan chức năng phát hiện các tài liệu hoặc dấu hiệu cho thấy hàng hóa liên quan đến hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, sản xuất hoặc kinh doanh hàng giả, trốn thuế hay sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để che giấu nguồn hàng thì hồ sơ có thể được chuyển sang cơ quan điều tra.

Việc xác định có căn cứ xử lý hình sự hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm bản chất hàng hóa, giá trị lô hàng, nguồn gốc, phương thức đưa hàng vào thị trường, kết quả giám định, hành vi của người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình xác minh.

Nguy cơ bị xử lý về Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới

Nếu có căn cứ xác định hàng hóa đã được đưa qua biên giới trái pháp luật nhằm né tránh sự kiểm tra của cơ quan nhà nước hoặc nhằm trốn nghĩa vụ thuế, người thực hiện hành vi có thể bị xem xét trách nhiệm về Tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong trường hợp hành vi phù hợp với dấu hiệu vận chuyển trái phép hàng hóa hoặc tiền tệ qua biên giới, trách nhiệm có thể được xem xét theo Điều 189 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Việc xử lý hình sự không đơn thuần chỉ dựa trên giá trị của hàng hóa. Cơ quan có thẩm quyền còn phải xem xét những điều kiện khác, trong đó có tiền án, tiền sự và các dấu hiệu định tội được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Trường hợp hàng hóa bị xác định là hàng giả

Hàng hóa không rõ nguồn gốc và hàng giả là hai khái niệm khác nhau. Không thể chỉ vì hàng hóa thiếu tài liệu chứng minh nguồn gốc mà mặc nhiên kết luận đó là hàng giả.

Tuy nhiên, nếu quá trình điều tra, giám định hoặc xác minh cho thấy hàng hóa thực tế là hàng giả theo quy định pháp luật thì chủ thể liên quan có thể bị xem xét về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Đối với những nhóm hàng giả chuyên ngành như thuốc chữa bệnh, thực phẩm, phân bón hoặc thuốc bảo vệ thực vật, trách nhiệm còn phải được xác định theo các điều luật tương ứng với từng loại hàng.

Do đó, kết quả giám định hàng hóa có thể trở thành một trong những tài liệu đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc vụ việc tiếp tục được xử lý hành chính hay chuyển sang hướng xem xét trách nhiệm hình sự.

Không nên sử dụng hóa đơn hoặc chứng từ không hợp pháp để hợp thức hóa hàng hóa

Một trong những cách xử lý có mức độ rủi ro rất cao là tìm mua hóa đơn, lập chứng từ không đúng thực tế hoặc tạo giao dịch giả sau khi hàng hóa đã bị kiểm tra nhằm chứng minh nguồn gốc.

Thay vì giúp giảm trách nhiệm, cách thức này có thể làm vụ việc trở nên nghiêm trọng hơn và phát sinh thêm dấu hiệu vi phạm khác.

Nếu chứng từ không hợp pháp được sử dụng nhằm che giấu doanh thu, giá trị giao dịch hoặc nghĩa vụ thuế, người có liên quan có thể bị xem xét về Tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, hoặc những hành vi liên quan đến hóa đơn và chứng từ nếu đủ yếu tố cấu thành.

Giải pháp phù hợp hơn là rà soát những tài liệu đã thực sự phát sinh trong giao dịch, chẳng hạn hợp đồng mua bán, hóa đơn đầu vào, sao kê hoặc chứng từ thanh toán, phiếu xuất kho, chứng từ vận chuyển và hồ sơ hải quan.

Nếu chưa thể thu thập đủ chứng từ, người kinh doanh nên giải trình đúng sự thật và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền. Việc cố tình sử dụng tài liệu không phản ánh giao dịch thực tế có thể làm mất cơ hội được xem xét giảm nhẹ và gia tăng đáng kể rủi ro pháp lý.

Quyền giải trình trước khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt

Biên bản kiểm tra hoặc biên bản vi phạm hành chính chưa phải lúc nào cũng là kết quả cuối cùng của vụ việc. Trong những trường hợp pháp luật quy định, cá nhân và tổ chức vẫn có quyền cung cấp bổ sung chứng cứ, thực hiện giải trình và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trước khi quyết định xử phạt được ban hành.

Theo khoản 1 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020, cá nhân, tổ chức có quyền giải trình đối với hành vi vi phạm thuộc trường hợp có khung tiền phạt tối đa từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân hoặc từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức và những trường hợp khác do luật quy định.

Theo khoản 2 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính, người vi phạm có thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản để gửi văn bản giải trình. Nếu lựa chọn yêu cầu giải trình trực tiếp thì thời hạn gửi văn bản yêu cầu là 02 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.

Đây là thời điểm người kinh doanh cần sử dụng hiệu quả để chứng minh nguồn hàng, xác định lại phạm vi vi phạm và đề nghị cơ quan chức năng xem xét những tình tiết có lợi.

Văn bản giải trình nên tập trung vào những vấn đề có thể kiểm chứng như nguồn gốc lô hàng, nhà cung cấp, chủ thể sở hữu, thời điểm mua bán, phương thức thanh toán, quá trình vận chuyển và các tài liệu chứng minh giao dịch.

Việc chỉ trình bày khó khăn về tài chính hoặc hoàn cảnh kinh doanh thường không đủ để chứng minh rằng kết luận ban đầu về hàng hóa là chưa chính xác. Một hồ sơ giải trình hiệu quả cần tạo được mối liên hệ rõ ràng giữa lời trình bày và chứng cứ thực tế.

Các tình tiết giảm nhẹ có thể được đề nghị xem xét

Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về những tình tiết giảm nhẹ, trong đó có các yếu tố như tự nguyện khắc phục hậu quả, tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi và tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng.

Để tăng cơ sở đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ, chủ thể kinh doanh có thể chủ động thực hiện nhiều biện pháp.

Trước hết, cần phân loại toàn bộ số hàng hóa đang bị kiểm tra thành từng nhóm: hàng đã có đầy đủ chứng từ, hàng đang thiếu một phần chứng từ và hàng chưa xác định được nguồn tài liệu.

Tiếp theo, cần nhanh chóng liên hệ nhà cung cấp để yêu cầu cung cấp hợp đồng, hóa đơn đầu vào, phiếu xuất kho, chứng từ vận chuyển, tờ khai hải quan hoặc những giấy tờ liên quan khác.

Trường hợp thuộc đối tượng được thực hiện quyền giải trình bằng văn bản, cần bảo đảm văn bản được gửi trong thời hạn 05 ngày theo Khoản 2 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.

Người kinh doanh cũng nên chủ động phối hợp với đoàn kiểm tra, cung cấp thông tin trung thực và hỗ trợ việc xác định chính xác giá trị hàng hóa, chủ thể vi phạm cũng như những vấn đề còn chưa rõ trong hồ sơ.

Nếu đã phát sinh hậu quả, việc tự nguyện thực hiện các biện pháp khắc phục như thu hồi sản phẩm, giao nộp tang vật hoặc bồi hoàn thiệt hại trong trường hợp có căn cứ cũng có thể được ghi nhận trong quá trình xem xét.

Đồng thời, chủ thể vi phạm cần đề nghị áp dụng cụ thể các tình tiết giảm nhẹ theo Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt.

Các biện pháp trên không đồng nghĩa với việc người vi phạm chắc chắn được miễn trách nhiệm hoặc được giảm toàn bộ mức phạt. Tuy nhiên, đây là những căn cứ giúp cơ quan xử lý có điều kiện đánh giá đầy đủ hơn tính chất, mức độ vi phạm và thái độ của người vi phạm.

Khiếu nại hoặc khởi kiện nếu quyết định xử phạt có dấu hiệu không phù hợp

Sau khi quyết định xử phạt đã được ban hành, người kinh doanh vẫn có quyền sử dụng các cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nếu nhận thấy quyết định có sai sót.

Những vấn đề cần kiểm tra có thể bao gồm thẩm quyền của người ban hành quyết định, việc xác định chủ thể vi phạm, phương pháp xác định giá trị hàng hóa, phạm vi hàng hóa bị coi là vi phạm hoặc việc cơ quan chức năng không xem xét những chứng cứ đã được cung cấp đúng thời hạn.

Theo Điều 7 Luật Khiếu nại 2011, người khiếu nại có quyền thực hiện khiếu nại lần đầu đến người đã ban hành quyết định hành chính hoặc cơ quan có người thực hiện hành vi hành chính.

Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu, người khiếu nại có thể tiếp tục thực hiện khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định.

Theo Điều 9 Luật Khiếu nại 2011, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày người có quyền khiếu nại nhận được quyết định hành chính hoặc biết được hành vi hành chính.

Theo Điều 28 Luật Khiếu nại 2011, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày.

Do đó, hồ sơ khiếu nại không nên chỉ thể hiện mong muốn được giảm số tiền xử phạt. Nội dung cần chỉ ra cụ thể quyết định đang sai ở điểm nào, chứng cứ nào đã bị bỏ sót, việc xác định chủ thể hoặc giá trị hàng hóa có phù hợp hay không và quyền lợi của người kinh doanh bị ảnh hưởng như thế nào.

Long Phan PMT hỗ trợ xử lý vụ việc kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc

Các vụ việc liên quan đến hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có thể đồng thời phát sinh rủi ro về tiền phạt, hàng hóa, hoạt động kinh doanh và trách nhiệm hình sự. Vì vậy, việc rà soát hồ sơ ngay từ giai đoạn cơ quan chức năng kiểm tra có thể giúp hạn chế những bất lợi không cần thiết.

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng đánh giá biên bản kiểm tra, căn cứ xác định nguồn gốc hàng hóa, thẩm quyền xử phạt và các vấn đề liên quan đến việc tạm giữ hoặc xác định giá trị tang vật.

Trong giai đoạn kiểm tra, luật sư có thể tư vấn về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, doanh nghiệp khi làm việc với lực lượng Quản lý thị trường; rà soát trình tự kiểm tra và lập biên bản; xem xét việc xác định người vi phạm; kiểm tra tài liệu về giá trị lô hàng và hướng dẫn khách hàng tập hợp chứng cứ chứng minh nguồn hàng.

Đối với quá trình giải trình, Long Phan PMT có thể hỗ trợ soạn thảo văn bản theo hướng tập trung vào chứng cứ thực tế, rà soát chuỗi hợp đồng, hóa đơn, phiếu xuất kho, chứng từ vận chuyển và hồ sơ nhập khẩu.

Trường hợp có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ, nội dung giải trình có thể đề nghị cơ quan chức năng xem xét việc chủ thể tự nguyện khai báo, tích cực hợp tác, giao nộp hàng hóa hoặc chủ động thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Long Phan PMT cũng có thể đại diện theo ủy quyền làm việc với cơ quan xử phạt, đoàn kiểm tra và cơ quan tiếp nhận hồ sơ nhằm bảo đảm các tài liệu, ý kiến và yêu cầu của khách hàng được trình bày đầy đủ..

Một số vấn đề thường gặp khi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc

Doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có thể chịu mức phạt tối đa đến 100.000.000 đồng. Theo Khoản 11 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, mức phạt tối đa đối với cá nhân trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên là 50.000.000 đồng. Đối với tổ chức, mức tiền phạt được xác định bằng 02 lần mức của cá nhân theo Điểm b Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.

Đối với mỹ phẩm và thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, mức phạt có thể được áp dụng gấp 02 lần mức tiền phạt cơ bản theo Điểm a Khoản 12 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Quy định tương tự còn áp dụng đối với thuốc và trang thiết bị y tế thuộc nhóm hàng hóa đặc thù.

Về quyền giải trình, cá nhân hoặc tổ chức thuộc trường hợp được giải trình có thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản để gửi văn bản giải trình. Trường hợp yêu cầu giải trình trực tiếp, thời hạn gửi văn bản yêu cầu là 02 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.

Không phải toàn bộ hàng hóa không rõ nguồn gốc đều bắt buộc phải tiêu hủy. Việc tiêu hủy chỉ được áp dụng đối với hàng hóa thuộc trường hợp gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng hoặc môi trường theo Khoản 13 và Điểm a Khoản 14 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.

Việc kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc cũng không mặc nhiên dẫn đến trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu quá trình xác minh phát hiện dấu hiệu buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung; vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo Điều 189; sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192 hoặc những điều luật chuyên ngành tương ứng; trốn thuế theo Điều 200 hoặc hành vi phạm tội khác thì hồ sơ có thể được chuyển cho cơ quan điều tra.

Đặc biệt, hành vi sử dụng chứng từ không hợp pháp để hợp thức hóa nguồn hàng hoặc che giấu doanh thu có thể làm phát sinh nguy cơ chịu trách nhiệm về Tội trốn thuế. Căn cứ Khoản 3 và Khoản 5 Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, cá nhân có thể đối mặt với mức phạt tù cao nhất lên đến 07 năm; pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền đến 10.000.000.000 đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện truy cứu theo quy định.

Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu thông thường không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý. Nếu vụ việc có tính chất phức tạp, thời hạn giải quyết có thể được kéo dài nhưng không quá 45 ngày theo Điều 28 Luật Khiếu nại 2011.

Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có thể dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý, từ phạt tiền, tịch thu tang vật, buộc tiêu hủy, nộp lại khoản lợi bất hợp pháp đến nguy cơ phát sinh trách nhiệm hình sự nếu vụ việc liên quan đến buôn lậu, hàng giả, trốn thuế hoặc chứng từ không hợp pháp. Người kinh doanh cần sớm rà soát hóa đơn, hợp đồng, chứng từ vận chuyển, hồ sơ nhập khẩu, thực hiện quyền giải trình đúng thời hạn và chủ động khiếu nại hoặc khởi kiện khi quyết định xử phạt có căn cứ chưa phù hợp. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Mức phạt và cách giảm nhẹ xử phạt kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc

Xem thêm: Bán hàng online không rõ nguồn gốc xuất xứ bị phạt bao nhiêu tiền?

GIẢI PHÁP ĐÒI LƯƠNG KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ CHẬM TRẢ ĐÚNG LUẬT



Read More
Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự là cơ sở quan trọng để Hội đồng định giá xác định giá trị của tài sản có liên quan đến vụ án, qua đó tác động trực tiếp đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự, xác định khung hình phạt cũng như quyền yêu cầu bồi thường của các bên. Trong thực tế, việc lựa chọn sai nguồn giá, thời điểm hoặc địa điểm tham chiếu có thể khiến kết quả định giá không phản ánh đúng giá trị thực tế của tài sản. Vì vậy, người bị buộc tội, bị hại, đương sự và doanh nghiệp có liên quan cần hiểu rõ căn cứ pháp luật, phương pháp áp dụng cũng như cơ chế yêu cầu định giá lại để chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

can-cu-dinh-gia-tai-san-trong-to-tung-hinh-su-can-duoc-xac-dinh-dua-tren-nguon-gia-thoi-diem-dia-diem-va-dac-diem-thuc-te-cua-tai-san-theo-quy-dinh-phap-luat

Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự cần được xác định dựa trên nguồn giá, thời điểm, địa điểm và đặc điểm thực tế của tài sản theo quy định pháp luật 

Định giá tài sản trong tố tụng hình sự được hiểu như thế nào?

Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, giá trị của tài sản có thể trở thành dữ liệu cần thiết để cơ quan tiến hành tố tụng xác định tính chất, mức độ của hành vi, thiệt hại phát sinh hoặc các vấn đề dân sự liên quan. Chẳng hạn, trong vụ việc tài sản của doanh nghiệp bị chiếm đoạt, cơ quan điều tra có thể cần xác định giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra hành vi nhằm phục vụ việc đánh giá trách nhiệm hình sự.

Theo khoản 1 Điều 215 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra văn bản yêu cầu định giá tài sản. Văn bản này phải thể hiện các thông tin cần thiết như cơ quan yêu cầu, người có thẩm quyền yêu cầu, Hội đồng định giá được đề nghị thực hiện, thông tin và đặc điểm của tài sản, nội dung cần định giá, thời điểm lập yêu cầu và thời hạn trả kết luận.

Cần phân biệt rõ giữa “yêu cầu định giá” và “căn cứ định giá”. Yêu cầu định giá là thủ tục làm phát sinh hoạt động định giá trong vụ án. Trong khi đó, căn cứ định giá là hệ thống dữ liệu, tài liệu, thông tin về giá và các nguồn tham chiếu mà Hội đồng định giá sử dụng để xác định giá trị tài sản. Các căn cứ này hiện được quy định chủ yếu tại Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và có thể ra văn bản yêu cầu định giá tài sản trong phạm vi thẩm quyền. Hội đồng định giá tài sản được thành lập theo từng cấp tùy tính chất của vụ việc, bao gồm cấp xã, cấp tỉnh, cấp bộ hoặc theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo Điều 7 đến Điều 11 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

Đáng lưu ý, Nghị định 250/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 22/9/2025 và thay thế Nghị định 30/2018/NĐ-CP cùng Nghị định 97/2019/NĐ-CP. Do đó, khi kiểm tra hồ sơ định giá ở thời điểm hiện nay, các chủ thể liên quan cần căn cứ vào quy định mới để tránh áp dụng văn bản đã hết hiệu lực.

thoi-diem-va-dia-diem-lay-gia-la-yeu-to-quan-trong-khi-kiem-tra-ket-luan-dinh-gia;-truong-hop-khong-co-du-lieu-phu-hop-tai-thoi-diem-yeu-cau

Thời điểm và địa điểm lấy giá là yếu tố quan trọng khi kiểm tra kết luận định giá; trường hợp không có dữ liệu phù hợp tại thời điểm yêu cầu

Những căn cứ được sử dụng để định giá tài sản hiện nay

Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP xây dựng hai nhóm căn cứ riêng biệt tương ứng với tính chất của tài sản. Một nhóm áp dụng cho tài sản không phải hàng cấm và nhóm còn lại dành cho tài sản thuộc loại hàng cấm.

Sự phân chia này có ý nghĩa thực tế rõ rệt. Đối với tài sản được phép giao dịch, Hội đồng định giá có thể tìm kiếm giá chuyển nhượng, chào mua, chào bán hoặc các dữ liệu hợp pháp trên thị trường. Ngược lại, hàng cấm không được lưu thông hợp pháp nên việc thu thập thông tin giá phải dựa trên phạm vi và nguồn dữ liệu rộng hơn.

Căn cứ áp dụng đối với tài sản không thuộc hàng cấm

Khoản 1 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định việc định giá tài sản không phải hàng cấm phải dựa trên ít nhất một căn cứ mà pháp luật cho phép.

Nguồn tham chiếu trước hết có thể là giá của tài sản đang có hoạt động chuyển nhượng, chào mua hoặc chào bán công khai trên thị trường. Đây là nhóm thông tin có khả năng phản ánh tương đối trực tiếp quan hệ cung cầu và giá trị giao dịch của tài sản tại thời điểm cần xác định giá.

Hội đồng định giá cũng có thể sử dụng giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc quyết định và đang có hiệu lực tại thời điểm được yêu cầu định giá. Trường hợp pháp luật chỉ xác định mức tối đa, mức tối thiểu hoặc khung giá thì mức giá cụ thể do cơ quan hoặc đơn vị sản xuất, kinh doanh quy định tại thời điểm được yêu cầu định giá có thể được sử dụng.

Một nguồn dữ liệu khác là báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá do doanh nghiệp thẩm định giá lập hoặc báo cáo tư vấn giá của đơn vị có chức năng tư vấn giá theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, mức giá được thể hiện trong tài liệu, hồ sơ hợp pháp liên quan đến loại tài sản do cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan yêu cầu định giá cung cấp cũng có thể được sử dụng làm căn cứ.

Khi các nguồn nêu trên không thể thu thập được, Hội đồng định giá có thể tiếp tục khai thác những căn cứ khác, chẳng hạn ý kiến của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn, kinh nghiệm về tài sản; lời khai và hồ sơ của các bên liên quan; mức giá của tài sản tương tự từng được định giá trong vụ án khác; hoặc giá được thu thập từ các trang thông tin điện tử chính thức ở Việt Nam và nước ngoài.

Cách thiết kế quy định này cho thấy dữ liệu có mức độ công khai, khả năng kiểm chứng và tính khách quan cao được ưu tiên trước. Những nguồn mang nhiều yếu tố nhận định hoặc phụ thuộc vào thông tin bổ trợ chỉ được sử dụng khi nguồn dữ liệu trực tiếp không thể thu thập đầy đủ.

Căn cứ áp dụng khi tài sản cần định giá là hàng cấm

Với tài sản thuộc hàng cấm, khoản 2 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP thiết lập hệ thống căn cứ riêng phù hợp với đặc điểm không được mua bán, lưu hành hợp pháp trên thị trường Việt Nam.

Hội đồng định giá có thể tham khảo giá của tài sản tại thị trường vào đúng thời điểm và tại địa điểm nơi tài sản được yêu cầu định giá hoặc sử dụng dữ liệu tại địa phương khác khi đáp ứng điều kiện phù hợp.

Nếu tồn tại hợp đồng, hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu liên quan đến hàng cấm thì thông tin giá thể hiện trong những tài liệu này cũng có thể được xem xét.

Báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá và báo cáo tư vấn giá của đơn vị tư vấn giá tiếp tục là nguồn thông tin pháp luật cho phép sử dụng.

Đối với những trường hợp không thể hình thành giá hợp pháp trong nước, Hội đồng có thể khai thác giá thị trường khu vực hoặc thế giới được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tại nước sở tại thông báo hoặc cung cấp.

Giá niêm yết, giá ghi trên hợp đồng, hóa đơn mua bán, tờ khai nhập khẩu đối với tài sản tương tự được phép kinh doanh và lưu hành tại Việt Nam cũng có thể trở thành căn cứ so sánh.

Tương tự, giá thị trường khu vực hoặc thế giới của tài sản tương tự được phép mua bán, lưu hành hợp pháp tại các thị trường tương ứng được phép dùng để tham chiếu.

Cuối cùng, pháp luật cho phép sử dụng những căn cứ khác có khả năng hỗ trợ xác định giá tài sản do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cung cấp. Trong trường hợp này, cơ quan cung cấp phải chịu trách nhiệm về tính chính xác và độ tin cậy của thông tin.

Như vậy, điểm khác biệt nổi bật nằm ở phạm vi tìm kiếm nguồn giá. Với tài sản thông thường, giá giao dịch công khai và giá do Nhà nước quy định đóng vai trò quan trọng. Với hàng cấm, Hội đồng phải mở rộng nguồn tham chiếu sang hợp đồng, hóa đơn, tờ khai, thị trường nước ngoài hoặc tài sản tương tự được phép kinh doanh.

Thời điểm và địa điểm lấy giá phải đáp ứng điều kiện nào?

Một mức giá có thể tồn tại trên thị trường nhưng chưa chắc đã trở thành căn cứ hợp lệ nếu không phù hợp về thời điểm hoặc địa điểm. Chính vì vậy, khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP yêu cầu các mức giá làm căn cứ về nguyên tắc phải được xác định tại thời điểm và tại nơi tài sản được yêu cầu định giá.

Khi không thể thu thập giá của chính tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự tại đúng thời điểm được yêu cầu, Hội đồng định giá được phép sử dụng mức giá tại thời điểm gần nhất. Tuy nhiên, thời điểm tham chiếu không được lùi quá 24 tháng tính ngược trở lại từ thời điểm được yêu cầu định giá.

Về không gian thị trường, nếu tại địa điểm tài sản được yêu cầu định giá không có dữ liệu giá phù hợp thì việc thu thập thông tin được mở rộng theo nguyên tắc từ gần đến xa. Những khu vực có điều kiện và đặc điểm thị trường tương đồng phải được ưu tiên trước. Khi trong phạm vi Việt Nam không tìm được dữ liệu thích hợp, nguồn giá tại khu vực hoặc trên thế giới có thể được xem xét theo quy định.

Quy định về giới hạn 24 tháng có ý nghĩa đáng kể khi kiểm tra tính hợp pháp của kết luận định giá. Nếu mức giá được Hội đồng sử dụng thuộc một thời điểm quá xa so với thời điểm yêu cầu, hoặc dữ liệu được lấy từ thị trường có đặc điểm không tương đồng mà không được lý giải hợp lý, người tham gia tố tụng có thể xem xét sử dụng vấn đề đó để đề nghị cơ quan có thẩm quyền đánh giá lại kết luận.

co-the-de-nghi-dinh-gia-lai-tai-san-khi-co-can-cu-nghi-ngo-ket-luan-dinh-gia-lan-dau-chua-chinh-xac

Có thể đề nghị định giá lại tài sản khi có căn cứ nghi ngờ kết luận định giá lần đầu chưa chính xác

Căn cứ và phương pháp định giá phải được áp dụng đồng thời

Việc tập hợp được thông tin về giá mới chỉ là bước tạo lập dữ liệu đầu vào. Để hình thành một kết luận định giá cụ thể, Hội đồng còn phải lựa chọn phương pháp phù hợp nhằm xử lý các dữ liệu đã thu thập.

Khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định ngoài các căn cứ tại khoản 1 và khoản 2, hoạt động định giá còn phải căn cứ vào thông tin, tài liệu được quy định trong các phương pháp định giá tại Điều 23 Nghị định này.

Theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, Hội đồng định giá phải dựa trên loại tài sản, thông tin, đặc điểm cụ thể của tài sản cũng như kết quả khảo sát và thu thập dữ liệu để quyết định phương pháp định giá.

Thứ tự ưu tiên được xác định khá rõ. Trước tiên phải sử dụng phương pháp định giá được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đối với tài sản cần định giá. Chỉ khi pháp luật chuyên ngành không có quy định thì mới chuyển sang phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ hoặc phương pháp thẩm định giá theo pháp luật về giá.

Cách tiếp cận này giúp hạn chế việc áp dụng một công thức chung cho mọi loại tài sản. Đất đai, hàng hóa nhập khẩu, kim khí quý, cổ vật hoặc tài sản đã qua sử dụng đều có đặc tính kinh tế và pháp lý khác nhau nên phương pháp xác định giá cũng phải tương ứng.

Cách xác định giá với một số loại tài sản có đặc điểm riêng

Khoản 2 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định thêm cách xử lý đối với một số loại tài sản đặc thù.

Đối với tài sản chưa qua sử dụng, mức giá được xác định trên cơ sở giá của tài sản cùng loại còn mới.

Nếu tài sản đã qua sử dụng, Hội đồng phải xem xét giá trị còn lại. Khi tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng một phần hay toàn bộ nhưng vẫn có thể phục hồi, việc xác định giá phải dựa trên hồ sơ về tài sản kết hợp với chi phí cần thiết để khôi phục.

Đối với tài sản đã mất, thất lạc hoặc bị hư hỏng hoàn toàn và không còn khả năng phục hồi, giá trị được xác định thông qua hồ sơ và những thông tin thu thập được.

Trường hợp cần định giá hàng giả, Hội đồng có thể dựa vào hồ sơ về tài sản. Nếu có căn cứ xác định hàng giả đã được mua bán như hàng thật thì giá của hàng thật có thể trở thành cơ sở tham chiếu.

Riêng đối với kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật và những tài sản ít được giao dịch phổ biến trên thị trường, việc xác định giá phải dựa trên kết quả giám định và ý kiến của người có chuyên môn.

Việc xác định đúng tình trạng của tài sản có ý nghĩa đặc biệt trong nhóm này. Một tài sản cũ không thể được mặc nhiên đối chiếu với giá của tài sản hoàn toàn mới mà bỏ qua hao mòn hoặc giá trị còn lại. Tương tự, tài sản đã bị hư hỏng nhưng có khả năng khôi phục cần được đánh giá khác với tài sản đã mất hoàn toàn.

Quy trình sử dụng căn cứ để hình thành kết luận định giá

Căn cứ định giá không được lựa chọn tùy ý tại thời điểm Hội đồng họp. Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định nhiều bước nhằm bảo đảm quá trình thu thập và sử dụng thông tin có cơ sở và được lưu lại trong hồ sơ.

Theo Điều 21 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, trước khi tiến hành định giá, Hội đồng định giá phải xây dựng kế hoạch. Nội dung kế hoạch bao gồm việc xác định yêu cầu cần giải quyết, chính sách và văn bản pháp luật có liên quan, phương pháp định giá dự kiến áp dụng, dữ liệu và hồ sơ cần thiết, những tài liệu đã có và phần còn thiếu cần đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp bổ sung, thời hạn thực hiện cũng như nhiệm vụ của từng thành viên.

Kế hoạch do Chủ tịch Hội đồng định giá phê duyệt và có thể được điều chỉnh nếu trong quá trình thực hiện xuất hiện thông tin, tình tiết mới. Điều này cho thấy việc lựa chọn căn cứ phải được định hướng ngay từ giai đoạn chuẩn bị.

Bước tiếp theo là thu thập hồ sơ và dữ liệu. Khoản 1 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến yêu cầu định giá theo khoản 1 Điều 18 Nghị định này.

Nếu Hội đồng cần thêm tài liệu, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm cung cấp trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, theo khoản 3 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

Khoản 4 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP còn yêu cầu hồ sơ, tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp phải là bản chính hoặc bản sao có đóng dấu bút lục hoặc giáp lai. Đây là yêu cầu giúp kiểm soát nguồn gốc và tính xác thực của tài liệu được đưa vào quá trình định giá.

Sau khi hoàn tất việc xác định giá, Điều 221 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 yêu cầu Hội đồng định giá lập kết luận định giá tài sản.

Theo Điều 28 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, hồ sơ định giá gồm văn bản yêu cầu định giá, quyết định thành lập Hội đồng, các biên bản phiên họp, kết luận định giá cùng tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp.

Mẫu Bản kết luận định giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định 250/2025/NĐ-CP yêu cầu thể hiện cụ thể nội dung về “nguyên tắc và căn cứ định giá tài sản”. Đây là thông tin đặc biệt hữu ích để bị hại, người bị buộc tội và những người có quyền lợi liên quan kiểm tra nguồn dữ liệu mà Hội đồng đã sử dụng.

Có thể yêu cầu định giá lại khi không đồng ý kết luận hay không?

Kết luận định giá không đồng nghĩa với việc người tham gia tố tụng mất quyền phản ánh hoặc đề nghị xem xét lại. Khi có cơ sở nghi ngờ kết quả lần đầu thiếu chính xác, không đầy đủ hoặc sử dụng căn cứ chưa phù hợp, pháp luật cho phép tiến hành thủ tục định giá lại.

Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định khi có nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể tự mình hoặc theo đề nghị của người bị buộc tội hay người tham gia tố tụng khác có liên quan yêu cầu định giá lại. Việc định giá lại được thực hiện bởi Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp.

Theo Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc định giá lại được tiến hành khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có đầy đủ căn cứ nghi ngờ về kết luận trước đó. Nếu kết luận lần đầu và kết luận định giá lại tiếp tục tồn tại mâu thuẫn, cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu định giá lại lần thứ hai theo cơ chế được Nghị định quy định.

Khi lập văn bản đề nghị, người yêu cầu nên chỉ ra cụ thể điểm khiến kết luận bị nghi ngờ thay vì chỉ nêu rằng mức giá “không hợp lý”. Ví dụ, có thể kiểm tra liệu giá tham chiếu có vượt quá giới hạn 24 tháng hay không; thị trường nơi lấy giá có tương đồng với địa điểm cần định giá hay không; đặc điểm thực tế của tài sản đã được phản ánh đầy đủ chưa; hoặc Hội đồng đã sử dụng nguồn dữ liệu nào để đi đến kết quả cuối cùng.

Hệ quả pháp lý khi căn cứ định giá được xác định không chính xác

Giá trị tài sản là yếu tố định lượng có vai trò đáng kể trong nhiều tội phạm xâm phạm sở hữu hoặc tội phạm có yếu tố tài sản. Do đó, một sai lệch trong việc lựa chọn căn cứ có thể tạo ra hệ quả vượt xa phạm vi nghiệp vụ định giá.

Đối với những tội danh mà giá trị tài sản được pháp luật sử dụng để phân hóa trách nhiệm hình sự hoặc khung hình phạt, kết luận định giá có thể trở thành một trong những dữ liệu trực tiếp phục vụ việc áp dụng pháp luật. Nếu Hội đồng sử dụng mức giá không đúng thời điểm, chọn tài sản so sánh không tương đồng hoặc bỏ qua tình trạng thực tế của tài sản, kết quả định giá có nguy cơ ảnh hưởng đến việc xác định khung trách nhiệm.

Vì vậy, người bị buộc tội cần kiểm tra không chỉ con số cuối cùng mà còn cả cách thức hình thành con số đó, đặc biệt là nguồn giá, thời điểm tham chiếu, địa điểm khảo sát, phương pháp tính và hồ sơ làm cơ sở.

Đối với bị hại hoặc đương sự, giá trị tài sản cũng có liên hệ trực tiếp đến việc xác định thiệt hại và yêu cầu bồi thường trong vụ án. Nếu giá trị được kết luận thấp hơn đáng kể so với thực trạng tài sản, quyền lợi về bồi thường có thể bị ảnh hưởng.

Bị hại vì vậy nên đối chiếu kết luận với tình trạng sử dụng, chất lượng, thời điểm mua, hồ sơ tài sản và các dữ liệu thị trường có thể kiểm chứng. Khi phát hiện chênh lệch có cơ sở, việc đề nghị định giá lại cần được thực hiện theo đúng quy định thay vì chỉ phản đối kết quả bằng nhận định chủ quan.

Long Phan PMT hỗ trợ rà soát căn cứ định giá tài sản

Trong vụ án hình sự có yếu tố tài sản, việc đọc và đánh giá một kết luận định giá đòi hỏi phải đối chiếu đồng thời giữa Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị định 250/2025/NĐ-CP, hồ sơ vụ án, tình trạng thực tế của tài sản và nguồn dữ liệu Hội đồng đã sử dụng.

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng kiểm tra văn bản yêu cầu định giá và đối chiếu căn cứ được áp dụng với quy định pháp luật hiện hành; đánh giá tính phù hợp của thời điểm, địa điểm và nguồn giá; phân tích khả năng phát sinh căn cứ nghi ngờ kết luận định giá lần đầu; tư vấn phương án yêu cầu định giá lại; chuẩn bị văn bản đề nghị gửi cơ quan tiến hành tố tụng và hỗ trợ khách hàng trong quá trình làm việc với cơ quan có thẩm quyền.

Việc rà soát càng có ý nghĩa khi giá trị tài sản nằm gần ngưỡng định lượng có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự hoặc khi kết quả định giá được dùng để xác định mức thiệt hại. Trong những trường hợp này, cần kiểm tra cả căn cứ pháp luật, hồ sơ nguồn, phương pháp áp dụng và logic hình thành kết luận thay vì chỉ tập trung vào mức giá cuối cùng.

Tóm lại, định giá tài sản trong tố tụng hình sự phải dựa đúng nhóm căn cứ theo Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, bảo đảm yêu cầu về thời điểm, địa điểm, phương pháp và hồ sơ; khi có căn cứ nghi ngờ kết luận, người tham gia tố tụng có thể đề nghị định giá lại theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Hướng Dẫn Chi Tiết Xác Định Các Căn Cứ Định Giá Tài Sản Trong Tố Tụng Hình Sự

Xem thêm: Hướng dẫn chi tiết quy trình xử lý lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

GIẢI PHÁP ĐÒI LƯƠNG KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ CHẬM TRẢ ĐÚNG LUẬT

Read More

My maps