Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự là cơ sở quan trọng để Hội đồng định giá xác định giá trị của tài sản có liên quan đến vụ án, qua đó tác động trực tiếp đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự, xác định khung hình phạt cũng như quyền yêu cầu bồi thường của các bên. Trong thực tế, việc lựa chọn sai nguồn giá, thời điểm hoặc địa điểm tham chiếu có thể khiến kết quả định giá không phản ánh đúng giá trị thực tế của tài sản. Vì vậy, người bị buộc tội, bị hại, đương sự và doanh nghiệp có liên quan cần hiểu rõ căn cứ pháp luật, phương pháp áp dụng cũng như cơ chế yêu cầu định giá lại để chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

can-cu-dinh-gia-tai-san-trong-to-tung-hinh-su-can-duoc-xac-dinh-dua-tren-nguon-gia-thoi-diem-dia-diem-va-dac-diem-thuc-te-cua-tai-san-theo-quy-dinh-phap-luat

Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự cần được xác định dựa trên nguồn giá, thời điểm, địa điểm và đặc điểm thực tế của tài sản theo quy định pháp luật 

Định giá tài sản trong tố tụng hình sự được hiểu như thế nào?

Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, giá trị của tài sản có thể trở thành dữ liệu cần thiết để cơ quan tiến hành tố tụng xác định tính chất, mức độ của hành vi, thiệt hại phát sinh hoặc các vấn đề dân sự liên quan. Chẳng hạn, trong vụ việc tài sản của doanh nghiệp bị chiếm đoạt, cơ quan điều tra có thể cần xác định giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra hành vi nhằm phục vụ việc đánh giá trách nhiệm hình sự.

Theo khoản 1 Điều 215 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra văn bản yêu cầu định giá tài sản. Văn bản này phải thể hiện các thông tin cần thiết như cơ quan yêu cầu, người có thẩm quyền yêu cầu, Hội đồng định giá được đề nghị thực hiện, thông tin và đặc điểm của tài sản, nội dung cần định giá, thời điểm lập yêu cầu và thời hạn trả kết luận.

Cần phân biệt rõ giữa “yêu cầu định giá” và “căn cứ định giá”. Yêu cầu định giá là thủ tục làm phát sinh hoạt động định giá trong vụ án. Trong khi đó, căn cứ định giá là hệ thống dữ liệu, tài liệu, thông tin về giá và các nguồn tham chiếu mà Hội đồng định giá sử dụng để xác định giá trị tài sản. Các căn cứ này hiện được quy định chủ yếu tại Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và có thể ra văn bản yêu cầu định giá tài sản trong phạm vi thẩm quyền. Hội đồng định giá tài sản được thành lập theo từng cấp tùy tính chất của vụ việc, bao gồm cấp xã, cấp tỉnh, cấp bộ hoặc theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo Điều 7 đến Điều 11 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

Đáng lưu ý, Nghị định 250/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 22/9/2025 và thay thế Nghị định 30/2018/NĐ-CP cùng Nghị định 97/2019/NĐ-CP. Do đó, khi kiểm tra hồ sơ định giá ở thời điểm hiện nay, các chủ thể liên quan cần căn cứ vào quy định mới để tránh áp dụng văn bản đã hết hiệu lực.

thoi-diem-va-dia-diem-lay-gia-la-yeu-to-quan-trong-khi-kiem-tra-ket-luan-dinh-gia;-truong-hop-khong-co-du-lieu-phu-hop-tai-thoi-diem-yeu-cau

Thời điểm và địa điểm lấy giá là yếu tố quan trọng khi kiểm tra kết luận định giá; trường hợp không có dữ liệu phù hợp tại thời điểm yêu cầu

Những căn cứ được sử dụng để định giá tài sản hiện nay

Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP xây dựng hai nhóm căn cứ riêng biệt tương ứng với tính chất của tài sản. Một nhóm áp dụng cho tài sản không phải hàng cấm và nhóm còn lại dành cho tài sản thuộc loại hàng cấm.

Sự phân chia này có ý nghĩa thực tế rõ rệt. Đối với tài sản được phép giao dịch, Hội đồng định giá có thể tìm kiếm giá chuyển nhượng, chào mua, chào bán hoặc các dữ liệu hợp pháp trên thị trường. Ngược lại, hàng cấm không được lưu thông hợp pháp nên việc thu thập thông tin giá phải dựa trên phạm vi và nguồn dữ liệu rộng hơn.

Căn cứ áp dụng đối với tài sản không thuộc hàng cấm

Khoản 1 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định việc định giá tài sản không phải hàng cấm phải dựa trên ít nhất một căn cứ mà pháp luật cho phép.

Nguồn tham chiếu trước hết có thể là giá của tài sản đang có hoạt động chuyển nhượng, chào mua hoặc chào bán công khai trên thị trường. Đây là nhóm thông tin có khả năng phản ánh tương đối trực tiếp quan hệ cung cầu và giá trị giao dịch của tài sản tại thời điểm cần xác định giá.

Hội đồng định giá cũng có thể sử dụng giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc quyết định và đang có hiệu lực tại thời điểm được yêu cầu định giá. Trường hợp pháp luật chỉ xác định mức tối đa, mức tối thiểu hoặc khung giá thì mức giá cụ thể do cơ quan hoặc đơn vị sản xuất, kinh doanh quy định tại thời điểm được yêu cầu định giá có thể được sử dụng.

Một nguồn dữ liệu khác là báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá do doanh nghiệp thẩm định giá lập hoặc báo cáo tư vấn giá của đơn vị có chức năng tư vấn giá theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, mức giá được thể hiện trong tài liệu, hồ sơ hợp pháp liên quan đến loại tài sản do cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan yêu cầu định giá cung cấp cũng có thể được sử dụng làm căn cứ.

Khi các nguồn nêu trên không thể thu thập được, Hội đồng định giá có thể tiếp tục khai thác những căn cứ khác, chẳng hạn ý kiến của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn, kinh nghiệm về tài sản; lời khai và hồ sơ của các bên liên quan; mức giá của tài sản tương tự từng được định giá trong vụ án khác; hoặc giá được thu thập từ các trang thông tin điện tử chính thức ở Việt Nam và nước ngoài.

Cách thiết kế quy định này cho thấy dữ liệu có mức độ công khai, khả năng kiểm chứng và tính khách quan cao được ưu tiên trước. Những nguồn mang nhiều yếu tố nhận định hoặc phụ thuộc vào thông tin bổ trợ chỉ được sử dụng khi nguồn dữ liệu trực tiếp không thể thu thập đầy đủ.

Căn cứ áp dụng khi tài sản cần định giá là hàng cấm

Với tài sản thuộc hàng cấm, khoản 2 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP thiết lập hệ thống căn cứ riêng phù hợp với đặc điểm không được mua bán, lưu hành hợp pháp trên thị trường Việt Nam.

Hội đồng định giá có thể tham khảo giá của tài sản tại thị trường vào đúng thời điểm và tại địa điểm nơi tài sản được yêu cầu định giá hoặc sử dụng dữ liệu tại địa phương khác khi đáp ứng điều kiện phù hợp.

Nếu tồn tại hợp đồng, hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu liên quan đến hàng cấm thì thông tin giá thể hiện trong những tài liệu này cũng có thể được xem xét.

Báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá và báo cáo tư vấn giá của đơn vị tư vấn giá tiếp tục là nguồn thông tin pháp luật cho phép sử dụng.

Đối với những trường hợp không thể hình thành giá hợp pháp trong nước, Hội đồng có thể khai thác giá thị trường khu vực hoặc thế giới được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tại nước sở tại thông báo hoặc cung cấp.

Giá niêm yết, giá ghi trên hợp đồng, hóa đơn mua bán, tờ khai nhập khẩu đối với tài sản tương tự được phép kinh doanh và lưu hành tại Việt Nam cũng có thể trở thành căn cứ so sánh.

Tương tự, giá thị trường khu vực hoặc thế giới của tài sản tương tự được phép mua bán, lưu hành hợp pháp tại các thị trường tương ứng được phép dùng để tham chiếu.

Cuối cùng, pháp luật cho phép sử dụng những căn cứ khác có khả năng hỗ trợ xác định giá tài sản do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cung cấp. Trong trường hợp này, cơ quan cung cấp phải chịu trách nhiệm về tính chính xác và độ tin cậy của thông tin.

Như vậy, điểm khác biệt nổi bật nằm ở phạm vi tìm kiếm nguồn giá. Với tài sản thông thường, giá giao dịch công khai và giá do Nhà nước quy định đóng vai trò quan trọng. Với hàng cấm, Hội đồng phải mở rộng nguồn tham chiếu sang hợp đồng, hóa đơn, tờ khai, thị trường nước ngoài hoặc tài sản tương tự được phép kinh doanh.

Thời điểm và địa điểm lấy giá phải đáp ứng điều kiện nào?

Một mức giá có thể tồn tại trên thị trường nhưng chưa chắc đã trở thành căn cứ hợp lệ nếu không phù hợp về thời điểm hoặc địa điểm. Chính vì vậy, khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP yêu cầu các mức giá làm căn cứ về nguyên tắc phải được xác định tại thời điểm và tại nơi tài sản được yêu cầu định giá.

Khi không thể thu thập giá của chính tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự tại đúng thời điểm được yêu cầu, Hội đồng định giá được phép sử dụng mức giá tại thời điểm gần nhất. Tuy nhiên, thời điểm tham chiếu không được lùi quá 24 tháng tính ngược trở lại từ thời điểm được yêu cầu định giá.

Về không gian thị trường, nếu tại địa điểm tài sản được yêu cầu định giá không có dữ liệu giá phù hợp thì việc thu thập thông tin được mở rộng theo nguyên tắc từ gần đến xa. Những khu vực có điều kiện và đặc điểm thị trường tương đồng phải được ưu tiên trước. Khi trong phạm vi Việt Nam không tìm được dữ liệu thích hợp, nguồn giá tại khu vực hoặc trên thế giới có thể được xem xét theo quy định.

Quy định về giới hạn 24 tháng có ý nghĩa đáng kể khi kiểm tra tính hợp pháp của kết luận định giá. Nếu mức giá được Hội đồng sử dụng thuộc một thời điểm quá xa so với thời điểm yêu cầu, hoặc dữ liệu được lấy từ thị trường có đặc điểm không tương đồng mà không được lý giải hợp lý, người tham gia tố tụng có thể xem xét sử dụng vấn đề đó để đề nghị cơ quan có thẩm quyền đánh giá lại kết luận.

co-the-de-nghi-dinh-gia-lai-tai-san-khi-co-can-cu-nghi-ngo-ket-luan-dinh-gia-lan-dau-chua-chinh-xac

Có thể đề nghị định giá lại tài sản khi có căn cứ nghi ngờ kết luận định giá lần đầu chưa chính xác

Căn cứ và phương pháp định giá phải được áp dụng đồng thời

Việc tập hợp được thông tin về giá mới chỉ là bước tạo lập dữ liệu đầu vào. Để hình thành một kết luận định giá cụ thể, Hội đồng còn phải lựa chọn phương pháp phù hợp nhằm xử lý các dữ liệu đã thu thập.

Khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định ngoài các căn cứ tại khoản 1 và khoản 2, hoạt động định giá còn phải căn cứ vào thông tin, tài liệu được quy định trong các phương pháp định giá tại Điều 23 Nghị định này.

Theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, Hội đồng định giá phải dựa trên loại tài sản, thông tin, đặc điểm cụ thể của tài sản cũng như kết quả khảo sát và thu thập dữ liệu để quyết định phương pháp định giá.

Thứ tự ưu tiên được xác định khá rõ. Trước tiên phải sử dụng phương pháp định giá được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đối với tài sản cần định giá. Chỉ khi pháp luật chuyên ngành không có quy định thì mới chuyển sang phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ hoặc phương pháp thẩm định giá theo pháp luật về giá.

Cách tiếp cận này giúp hạn chế việc áp dụng một công thức chung cho mọi loại tài sản. Đất đai, hàng hóa nhập khẩu, kim khí quý, cổ vật hoặc tài sản đã qua sử dụng đều có đặc tính kinh tế và pháp lý khác nhau nên phương pháp xác định giá cũng phải tương ứng.

Cách xác định giá với một số loại tài sản có đặc điểm riêng

Khoản 2 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định thêm cách xử lý đối với một số loại tài sản đặc thù.

Đối với tài sản chưa qua sử dụng, mức giá được xác định trên cơ sở giá của tài sản cùng loại còn mới.

Nếu tài sản đã qua sử dụng, Hội đồng phải xem xét giá trị còn lại. Khi tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng một phần hay toàn bộ nhưng vẫn có thể phục hồi, việc xác định giá phải dựa trên hồ sơ về tài sản kết hợp với chi phí cần thiết để khôi phục.

Đối với tài sản đã mất, thất lạc hoặc bị hư hỏng hoàn toàn và không còn khả năng phục hồi, giá trị được xác định thông qua hồ sơ và những thông tin thu thập được.

Trường hợp cần định giá hàng giả, Hội đồng có thể dựa vào hồ sơ về tài sản. Nếu có căn cứ xác định hàng giả đã được mua bán như hàng thật thì giá của hàng thật có thể trở thành cơ sở tham chiếu.

Riêng đối với kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật và những tài sản ít được giao dịch phổ biến trên thị trường, việc xác định giá phải dựa trên kết quả giám định và ý kiến của người có chuyên môn.

Việc xác định đúng tình trạng của tài sản có ý nghĩa đặc biệt trong nhóm này. Một tài sản cũ không thể được mặc nhiên đối chiếu với giá của tài sản hoàn toàn mới mà bỏ qua hao mòn hoặc giá trị còn lại. Tương tự, tài sản đã bị hư hỏng nhưng có khả năng khôi phục cần được đánh giá khác với tài sản đã mất hoàn toàn.

Quy trình sử dụng căn cứ để hình thành kết luận định giá

Căn cứ định giá không được lựa chọn tùy ý tại thời điểm Hội đồng họp. Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định nhiều bước nhằm bảo đảm quá trình thu thập và sử dụng thông tin có cơ sở và được lưu lại trong hồ sơ.

Theo Điều 21 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, trước khi tiến hành định giá, Hội đồng định giá phải xây dựng kế hoạch. Nội dung kế hoạch bao gồm việc xác định yêu cầu cần giải quyết, chính sách và văn bản pháp luật có liên quan, phương pháp định giá dự kiến áp dụng, dữ liệu và hồ sơ cần thiết, những tài liệu đã có và phần còn thiếu cần đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp bổ sung, thời hạn thực hiện cũng như nhiệm vụ của từng thành viên.

Kế hoạch do Chủ tịch Hội đồng định giá phê duyệt và có thể được điều chỉnh nếu trong quá trình thực hiện xuất hiện thông tin, tình tiết mới. Điều này cho thấy việc lựa chọn căn cứ phải được định hướng ngay từ giai đoạn chuẩn bị.

Bước tiếp theo là thu thập hồ sơ và dữ liệu. Khoản 1 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến yêu cầu định giá theo khoản 1 Điều 18 Nghị định này.

Nếu Hội đồng cần thêm tài liệu, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm cung cấp trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, theo khoản 3 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

Khoản 4 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP còn yêu cầu hồ sơ, tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp phải là bản chính hoặc bản sao có đóng dấu bút lục hoặc giáp lai. Đây là yêu cầu giúp kiểm soát nguồn gốc và tính xác thực của tài liệu được đưa vào quá trình định giá.

Sau khi hoàn tất việc xác định giá, Điều 221 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 yêu cầu Hội đồng định giá lập kết luận định giá tài sản.

Theo Điều 28 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, hồ sơ định giá gồm văn bản yêu cầu định giá, quyết định thành lập Hội đồng, các biên bản phiên họp, kết luận định giá cùng tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp.

Mẫu Bản kết luận định giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định 250/2025/NĐ-CP yêu cầu thể hiện cụ thể nội dung về “nguyên tắc và căn cứ định giá tài sản”. Đây là thông tin đặc biệt hữu ích để bị hại, người bị buộc tội và những người có quyền lợi liên quan kiểm tra nguồn dữ liệu mà Hội đồng đã sử dụng.

Có thể yêu cầu định giá lại khi không đồng ý kết luận hay không?

Kết luận định giá không đồng nghĩa với việc người tham gia tố tụng mất quyền phản ánh hoặc đề nghị xem xét lại. Khi có cơ sở nghi ngờ kết quả lần đầu thiếu chính xác, không đầy đủ hoặc sử dụng căn cứ chưa phù hợp, pháp luật cho phép tiến hành thủ tục định giá lại.

Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định khi có nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể tự mình hoặc theo đề nghị của người bị buộc tội hay người tham gia tố tụng khác có liên quan yêu cầu định giá lại. Việc định giá lại được thực hiện bởi Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp.

Theo Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc định giá lại được tiến hành khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có đầy đủ căn cứ nghi ngờ về kết luận trước đó. Nếu kết luận lần đầu và kết luận định giá lại tiếp tục tồn tại mâu thuẫn, cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu định giá lại lần thứ hai theo cơ chế được Nghị định quy định.

Khi lập văn bản đề nghị, người yêu cầu nên chỉ ra cụ thể điểm khiến kết luận bị nghi ngờ thay vì chỉ nêu rằng mức giá “không hợp lý”. Ví dụ, có thể kiểm tra liệu giá tham chiếu có vượt quá giới hạn 24 tháng hay không; thị trường nơi lấy giá có tương đồng với địa điểm cần định giá hay không; đặc điểm thực tế của tài sản đã được phản ánh đầy đủ chưa; hoặc Hội đồng đã sử dụng nguồn dữ liệu nào để đi đến kết quả cuối cùng.

Hệ quả pháp lý khi căn cứ định giá được xác định không chính xác

Giá trị tài sản là yếu tố định lượng có vai trò đáng kể trong nhiều tội phạm xâm phạm sở hữu hoặc tội phạm có yếu tố tài sản. Do đó, một sai lệch trong việc lựa chọn căn cứ có thể tạo ra hệ quả vượt xa phạm vi nghiệp vụ định giá.

Đối với những tội danh mà giá trị tài sản được pháp luật sử dụng để phân hóa trách nhiệm hình sự hoặc khung hình phạt, kết luận định giá có thể trở thành một trong những dữ liệu trực tiếp phục vụ việc áp dụng pháp luật. Nếu Hội đồng sử dụng mức giá không đúng thời điểm, chọn tài sản so sánh không tương đồng hoặc bỏ qua tình trạng thực tế của tài sản, kết quả định giá có nguy cơ ảnh hưởng đến việc xác định khung trách nhiệm.

Vì vậy, người bị buộc tội cần kiểm tra không chỉ con số cuối cùng mà còn cả cách thức hình thành con số đó, đặc biệt là nguồn giá, thời điểm tham chiếu, địa điểm khảo sát, phương pháp tính và hồ sơ làm cơ sở.

Đối với bị hại hoặc đương sự, giá trị tài sản cũng có liên hệ trực tiếp đến việc xác định thiệt hại và yêu cầu bồi thường trong vụ án. Nếu giá trị được kết luận thấp hơn đáng kể so với thực trạng tài sản, quyền lợi về bồi thường có thể bị ảnh hưởng.

Bị hại vì vậy nên đối chiếu kết luận với tình trạng sử dụng, chất lượng, thời điểm mua, hồ sơ tài sản và các dữ liệu thị trường có thể kiểm chứng. Khi phát hiện chênh lệch có cơ sở, việc đề nghị định giá lại cần được thực hiện theo đúng quy định thay vì chỉ phản đối kết quả bằng nhận định chủ quan.

Long Phan PMT hỗ trợ rà soát căn cứ định giá tài sản

Trong vụ án hình sự có yếu tố tài sản, việc đọc và đánh giá một kết luận định giá đòi hỏi phải đối chiếu đồng thời giữa Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị định 250/2025/NĐ-CP, hồ sơ vụ án, tình trạng thực tế của tài sản và nguồn dữ liệu Hội đồng đã sử dụng.

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng kiểm tra văn bản yêu cầu định giá và đối chiếu căn cứ được áp dụng với quy định pháp luật hiện hành; đánh giá tính phù hợp của thời điểm, địa điểm và nguồn giá; phân tích khả năng phát sinh căn cứ nghi ngờ kết luận định giá lần đầu; tư vấn phương án yêu cầu định giá lại; chuẩn bị văn bản đề nghị gửi cơ quan tiến hành tố tụng và hỗ trợ khách hàng trong quá trình làm việc với cơ quan có thẩm quyền.

Việc rà soát càng có ý nghĩa khi giá trị tài sản nằm gần ngưỡng định lượng có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự hoặc khi kết quả định giá được dùng để xác định mức thiệt hại. Trong những trường hợp này, cần kiểm tra cả căn cứ pháp luật, hồ sơ nguồn, phương pháp áp dụng và logic hình thành kết luận thay vì chỉ tập trung vào mức giá cuối cùng.

Tóm lại, định giá tài sản trong tố tụng hình sự phải dựa đúng nhóm căn cứ theo Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, bảo đảm yêu cầu về thời điểm, địa điểm, phương pháp và hồ sơ; khi có căn cứ nghi ngờ kết luận, người tham gia tố tụng có thể đề nghị định giá lại theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Hướng Dẫn Chi Tiết Xác Định Các Căn Cứ Định Giá Tài Sản Trong Tố Tụng Hình Sự

Xem thêm: Hướng dẫn chi tiết quy trình xử lý lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

GIẢI PHÁP ĐÒI LƯƠNG KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ CHẬM TRẢ ĐÚNG LUẬT

Read More

Người lao động bị chậm trả lương không nên chỉ tiếp tục chờ đợi các cam kết thanh toán bằng lời nói của doanh nghiệp mà cần sớm xác định chính xác khoản tiền còn thiếu, thời điểm phát sinh nghĩa vụ và thu thập đầy đủ chứng cứ liên quan. Khi thời gian chậm thanh toán kéo dài, ngoài tiền lương chưa được nhận, người lao động còn có thể yêu cầu các khoản thu nhập hợp pháp khác và khoản đền bù do trả lương chậm nếu đáp ứng điều kiện luật định. Đồng thời, việc chủ động thương lượng, hòa giải và khởi kiện đúng trình tự giúp hạn chế nguy cơ hết thời hiệu yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi.

cham-tra-luong-nguoi-lao-dong-can-chu-dong-xac-dinh-cong-no-va-yeu-cau-doanh-nghiep-thanh-toan-dung-quy-dinh-
Chậm trả lương: Người lao động cần chủ động xác định công nợ và yêu cầu doanh nghiệp thanh toán đúng quy định.

Xác định hành vi chậm trả lương và quyền lợi người lao động được yêu cầu

Để lựa chọn phương án đòi lương phù hợp, trước hết người lao động cần làm rõ doanh nghiệp có thực sự vi phạm nghĩa vụ trả lương hay không. Việc xác định không nên chỉ dựa trên cảm nhận rằng “công ty đang nợ lương”, mà phải đối chiếu ngày trả lương đã thỏa thuận, số tiền đáng lẽ được thanh toán, số tiền đã thực tế nhận và lý do doanh nghiệp đưa ra cho việc chậm trả.

Theo Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng hạn cho người lao động. Bên cạnh đó, Khoản 2 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 là căn cứ để xác định kỳ hạn trả lương theo chu kỳ trả lương mà các bên đã thỏa thuận.

Như vậy, khi ngày trả lương đã đến nhưng doanh nghiệp không thanh toán đầy đủ thì về nguyên tắc đã phát sinh vấn đề cần được xem xét theo quy định pháp luật lao động.

Tuy nhiên, pháp luật vẫn ghi nhận một ngoại lệ trong trường hợp người sử dụng lao động không thể thanh toán đúng thời hạn vì sự kiện bất khả kháng. Để việc chậm trả được xem xét trong trường hợp này, doanh nghiệp phải thực sự gặp nguyên nhân bất khả kháng, đồng thời đã áp dụng mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn không thể trả lương đúng hạn.

Đặc biệt, theo Khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019, thời gian chậm trả trong trường hợp này cũng không được kéo dài quá 30 ngày. Vì vậy, các lý do như doanh nghiệp thiếu dòng tiền, khách hàng chưa thanh toán, hoạt động kinh doanh gặp khó khăn hoặc công ty hứa sẽ trả vào kỳ sau không đương nhiên trở thành căn cứ cho phép kéo dài nghĩa vụ trả lương.

Người lao động cần yêu cầu doanh nghiệp giải thích cụ thể nguyên nhân, thời gian dự kiến thanh toán và căn cứ của việc chậm trả thay vì chỉ tiếp nhận lời hứa chung chung.

Xác định đầy đủ những khoản tiền doanh nghiệp đang còn nợ

Khi đòi quyền lợi, người lao động không nên chỉ đưa ra một con số tổng mà cần chia công nợ thành từng nhóm cụ thể. Việc này vừa giúp tính toán chính xác, vừa thuận lợi khi thương lượng, hòa giải hoặc chứng minh yêu cầu trước Tòa án.

Theo Khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH, các nội dung liên quan đến mức lương, hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, phụ cấp và những khoản bổ sung khác là những nội dung cần được đối chiếu khi xác định quyền lợi của người lao động.

Trước hết là tiền lương còn thiếu. Người lao động cần căn cứ mức lương theo công việc hoặc chức danh đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng hoặc tài liệu hợp pháp khác để xác định số tiền phải được thanh toán trong từng kỳ.

Tiếp theo là tiền làm thêm giờ. Nếu thực tế người lao động có làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường và có chứng cứ chứng minh thì khoản này cần được tính riêng. Căn cứ pháp lý được áp dụng gồm Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 và Khoản 1 Điều 55 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Trường hợp người lao động thực tế làm việc vào ban đêm thì khoản tiền tương ứng cũng cần được bóc tách để xác định nghĩa vụ thanh toán. Nội dung này được xem xét theo Khoản 1 Điều 56 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Ngoài ra, phụ cấp, hoa hồng, khoản bổ sung hoặc các khoản thu nhập khác chỉ nên đưa vào yêu cầu khi có tài liệu chứng minh doanh nghiệp có nghĩa vụ chi trả. Căn cứ có thể là hợp đồng lao động, quy chế tiền lương, quy chế hoa hồng, quyết định của doanh nghiệp, bảng lương, thư điện tử hoặc thỏa thuận hợp pháp khác.

Đối với tiền nghỉ phép năm hoặc những khoản quyền lợi khác, người lao động cũng không nên tự động cộng vào khoản nợ nếu chưa xác định đầy đủ điều kiện và căn cứ pháp lý của từng trường hợp.

lap-bang-cong-no-va-timeline-giup-nguoi-lao-dong-kiem-soat-khoan-luong-bi-no-chung-cu-va-thoi-hieu-khoi-kien-

Lập bảng công nợ và timeline giúp người lao động kiểm soát khoản lương bị nợ, chứng cứ và thời hiệu khởi kiện.

Cách tính công nợ và khoản đền bù khi doanh nghiệp trả lương chậm

Một trong những sai sót thường gặp khi yêu cầu thanh toán tiền lương là chỉ ghi tổng số tiền doanh nghiệp còn nợ mà không chỉ ra số tiền đó được hình thành như thế nào. Cách làm phù hợp hơn là lập bảng chi tiết cho từng kỳ trả lương.

Có thể xác định theo nguyên tắc:

Công nợ của từng kỳ = Số tiền doanh nghiệp phải trả theo căn cứ hợp lệ − Số tiền người lao động thực tế đã nhận.

Mỗi kỳ lương nên thể hiện rõ ngày đến hạn, mức lương được hưởng, khoản phụ cấp, làm thêm giờ, hoa hồng hoặc khoản bổ sung có căn cứ, số tiền công ty đã thanh toán và số tiền còn thiếu.

Phương pháp này đặc biệt hữu ích khi doanh nghiệp thực hiện thanh toán nhiều lần, chỉ trả một phần lương hoặc trả không đúng số tiền theo thỏa thuận.

Ngoài khoản tiền gốc, người lao động cần kiểm tra thời gian doanh nghiệp chậm trả. Theo Khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019, nếu người sử dụng lao động trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng tiền lãi của số tiền trả chậm.

Lãi suất sử dụng để xác định khoản đền bù là lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Như vậy, tổng yêu cầu của người lao động có thể được xác định theo hướng:

Khoản yêu cầu thanh toán = Tiền lương và các khoản thu nhập hợp pháp còn thiếu + khoản đền bù do chậm trả nếu đáp ứng điều kiện.

Việc tính riêng từng kỳ còn giúp xác định chính xác kỳ nào đã chậm từ 15 ngày trở lên để áp dụng khoản đền bù, thay vì tính chung cho toàn bộ thời gian mà không có căn cứ.

Thu thập chứng cứ trước khi yêu cầu doanh nghiệp thanh toán

Khả năng thu hồi khoản lương bị nợ phụ thuộc rất lớn vào tài liệu mà người lao động có thể sử dụng để chứng minh ba vấn đề chính: có tồn tại quan hệ lao động, mức thu nhập được thỏa thuận là bao nhiêu và doanh nghiệp còn thiếu bao nhiêu tiền.

Do đó, người lao động nên chủ động lưu giữ tài liệu càng sớm càng tốt. Việc để thời gian kéo dài có thể khiến dữ liệu trên hệ thống nội bộ bị thay đổi, tài khoản làm việc bị khóa hoặc việc tiếp cận chứng cứ trở nên khó khăn sau khi nghỉ việc.

Đối với hợp đồng lao động, bảng lương, quyết định nghỉ việc hoặc các tài liệu có nội dung có thể đọc được, Khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là căn cứ pháp lý cần được xem xét khi xác định nguồn chứng cứ.

Bảng chấm công, lịch làm việc và dữ liệu quản lý công việc cũng có giá trị thực tế quan trọng vì giúp đối chiếu thời gian người lao động đã làm việc với số tiền doanh nghiệp phải trả.

Email và tin nhắn giao việc cũng nên được lưu giữ đầy đủ. Theo Khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thông điệp dữ liệu điện tử có thể được xác định là nguồn chứng cứ theo quy định.

Sao kê tài khoản ngân hàng là một tài liệu khác cần được chuẩn bị. Khi đối chiếu sao kê với ngày trả lương và bảng lương, người lao động có thể chứng minh doanh nghiệp đã chuyển bao nhiêu tiền, thời điểm chuyển và phần nghĩa vụ còn thiếu.

Đáng lưu ý, theo Khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có trách nhiệm chủ động thu thập, cung cấp và giao nộp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình khi giải quyết vụ việc tại Tòa án.

Vì vậy, việc chuẩn bị chứng cứ không nên chờ đến lúc khởi kiện mới thực hiện.

Lập timeline nợ lương và chính thức yêu cầu doanh nghiệp trả tiền

Sau khi tập hợp tài liệu, người lao động nên xây dựng một timeline thể hiện toàn bộ quá trình doanh nghiệp phát sinh và kéo dài khoản nợ.

Trong timeline, mỗi kỳ cần ghi ngày đến hạn trả lương, tổng số tiền đáng lẽ được nhận, số tiền đã thanh toán, khoản còn thiếu và thời điểm doanh nghiệp từng cam kết trả.

Tiếp đó, từng khoản công nợ phải được gắn với chứng cứ tương ứng. Chẳng hạn, mức lương có thể được chứng minh bằng hợp đồng lao động; số ngày làm việc thông qua bảng chấm công; khoản hoa hồng thông qua chính sách của công ty; số tiền đã nhận căn cứ sao kê ngân hàng.

Sau khi hoàn thiện bảng tính, người lao động nên gửi văn bản yêu cầu thanh toán cho doanh nghiệp. Nội dung nên xác định rõ kỳ lương bị nợ, khoản tiền yêu cầu, căn cứ chứng minh và thời hạn đề nghị công ty phản hồi hoặc hoàn tất việc thanh toán.

Việc sử dụng văn bản thay cho trao đổi miệng tạo ra chứng cứ về việc người lao động đã chính thức yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ.

Đối với người lao động đã chấm dứt hợp đồng, cần đặc biệt lưu ý quy định tại Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của hai bên thông thường phải được thanh toán trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động; một số trường hợp có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

Phản ánh hoặc khiếu nại hành vi doanh nghiệp nợ tiền lương

Nếu văn bản yêu cầu thanh toán không mang lại kết quả, người lao động có thể cân nhắc thực hiện thủ tục phản ánh hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm thúc đẩy việc kiểm tra và xử lý hành vi vi phạm.

Theo nội dung pháp lý của hồ sơ, người lao động có thể phản ánh đến Chánh Thanh tra Sở Nội vụ tại địa phương để được xem xét giải quyết.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc yêu cầu xử lý vi phạm hành chính với việc thu hồi tiền lương.

Việc cơ quan nhà nước xử phạt doanh nghiệp nhằm xử lý hành vi vi phạm pháp luật lao động. Trong khi đó, nếu doanh nghiệp vẫn không tự nguyện trả tiền thì người lao động phải tiếp tục sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp lao động để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Về căn cứ xử phạt, tại thời điểm 24/07/2026, Nghị định 12/2022/NĐ-CP vẫn là văn bản cần được đối chiếu.

Nghị định 283/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/09/2026 theo Khoản 1 Điều 66 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

Đối với hành vi đã xảy ra và kết thúc trước khi nghị định mới bắt đầu có hiệu lực, việc xác định quy định áp dụng cần đồng thời xem xét Khoản 1 Điều 67 và Khoản 4 Điều 66 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

Hòa giải tranh chấp tiền lương trước khi khởi kiện

Nếu quá trình làm việc trực tiếp với doanh nghiệp không giải quyết được khoản nợ, người lao động cần chuyển sang cơ chế giải quyết tranh chấp theo quy định.

Theo dữ liệu pháp lý của bài viết, tranh chấp yêu cầu thanh toán tiền lương thuộc trường hợp phải thực hiện hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ Khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp được đề cập không thuộc nhóm ngoại lệ miễn thủ tục hòa giải theo dữ liệu pháp lý đã được cung cấp.

Do đó, người lao động không nên bỏ qua Hòa giải viên lao động để trực tiếp thực hiện thủ tục khởi kiện.

Trước khi yêu cầu hòa giải, hồ sơ cần xác định cụ thể người sử dụng lao động có nghĩa vụ, các kỳ lương đang bị nợ, số tiền của từng khoản và chứng cứ đi kèm.

Khi tham gia buổi hòa giải, bảng công nợ, timeline nợ lương, hợp đồng lao động, bảng lương, bảng chấm công, email, tin nhắn và sao kê tài khoản là những tài liệu có thể giúp làm rõ yêu cầu.

Kết quả hòa giải cũng phải được lưu giữ cẩn thận. Đây là căn cứ quan trọng để chứng minh quá trình giải quyết tranh chấp trong trường hợp người lao động phải tiếp tục khởi kiện.

Nếu hòa giải thành và doanh nghiệp thanh toán đầy đủ theo nội dung đã thống nhất thì tranh chấp có thể kết thúc. Trường hợp hòa giải không thành hoặc thỏa thuận hòa giải không được thực hiện, người lao động có thể tiếp tục chuẩn bị thủ tục tại Tòa án.

thu-thap-day-du-hop-dong-bang-luong-cham-cong-sao-ke-va-tin-nhan-de-bao-ve-quyen-loi-khi-tranh-chap-tien-luong

Thu thập đầy đủ hợp đồng, bảng lương, chấm công, sao kê và tin nhắn để bảo vệ quyền lợi khi tranh chấp tiền lương.

Khởi kiện doanh nghiệp để yêu cầu thanh toán tiền lương

Khi đã đáp ứng điều kiện về hòa giải nhưng quyền lợi vẫn chưa được bảo đảm, người lao động có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.

Theo Khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quyền khởi kiện được xác định đối với tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định.

Từ ngày 01/07/2025, khi xác định cơ quan giải quyết cần sử dụng danh xưng pháp lý Tòa án nhân dân khu vực, thay cho cách gọi Tòa án nhân dân cấp huyện trước đây. Nội dung thay đổi về cơ cấu và thẩm quyền sơ thẩm được xác định tại Điều 6 và Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15.

Về thẩm quyền theo lãnh thổ, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là căn cứ cần được áp dụng để xác định Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc đặt trụ sở, đồng thời kết hợp với Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về cơ cấu Tòa án hiện hành.

Hồ sơ khởi kiện cần được chuẩn bị theo hướng chứng minh riêng từng khoản yêu cầu thay vì chỉ đưa ra tổng số tiền.

Đơn khởi kiện phải trình bày rõ quyền và lợi ích đang bị xâm phạm, số tiền yêu cầu doanh nghiệp thanh toán và căn cứ của từng yêu cầu.

Bên cạnh đơn khởi kiện, người lao động nên gửi kèm bảng công nợ theo từng kỳ; hợp đồng lao động; tài liệu về mức lương; bảng chấm công; sao kê; email, tin nhắn và các chứng cứ khác thể hiện quá trình làm việc cũng như khoản tiền chưa được trả.

Tài liệu liên quan đến hòa giải cũng cần được bổ sung nhằm chứng minh điều kiện khởi kiện đã được thực hiện.

Theo Khoản 4 và Khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện phải trình bày yêu cầu trong đơn và kèm theo danh mục tài liệu, chứng cứ theo quy định.

Một bộ hồ sơ được sắp xếp rõ ràng theo từng kỳ lương và từng khoản tiền sẽ giúp hạn chế tranh luận về số công nợ cũng như nguồn gốc nghĩa vụ thanh toán.

Kiểm soát thời hiệu khởi kiện tranh chấp tiền lương

Thời hiệu là vấn đề người lao động đặc biệt không nên bỏ qua trong quá trình thương lượng với doanh nghiệp.

Việc doanh nghiệp nhiều lần thông báo rằng sẽ trả lương vào tháng tiếp theo không có nghĩa người lao động có thể chờ vô thời hạn.

Theo Khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động 2019, thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện hành vi mà quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động bị vi phạm.

Do đó, ngay khi nhận thấy doanh nghiệp không thanh toán đúng nghĩa vụ, người lao động cần xác định ngày phát hiện hành vi vi phạm và theo dõi thời hiệu tương ứng.

Đặc biệt trong những trường hợp công ty nợ nhiều kỳ lương liên tiếp, việc lập timeline càng cần thiết. Timeline không chỉ giúp tính tiền mà còn giúp người lao động kiểm soát những mốc thời gian có thể ảnh hưởng đến quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tiếp tục chờ đợi lời hứa mà không tiến hành các thủ tục cần thiết có thể khiến việc bảo vệ quyền lợi trở nên khó khăn hơn khi thời hiệu đã hết.

Long Phan PMT tư vấn chiến lược thu hồi khoản tiền lương bị nợ

Tranh chấp tiền lương không chỉ dừng lại ở việc xác định doanh nghiệp nợ bao nhiêu. Người lao động còn phải chứng minh nguồn gốc của từng khoản tiền, hoàn thiện chứng cứ, thực hiện đúng thủ tục và kiểm soát thời hiệu.

Long Phan PMT hỗ trợ rà soát hợp đồng lao động, thỏa thuận tiền lương, quy chế của doanh nghiệp và chứng từ thanh toán nhằm xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính.

Trên cơ sở hồ sơ thực tế, luật sư có thể tính toán công nợ bao gồm tiền lương cơ bản, tiền làm thêm giờ, phụ cấp, hoa hồng và khoản đền bù do chậm thanh toán khi đáp ứng căn cứ pháp luật.

Đồng thời, việc lập timeline từng kỳ giúp xác định rõ ngày đến hạn, số tiền phải trả, số đã nhận và khoản còn thiếu.

Các dữ liệu điện tử như email, tin nhắn, sao kê ngân hàng và dữ liệu quản lý công việc cũng được rà soát, phân loại để phục vụ quá trình thương lượng hoặc tố tụng khi cần thiết.

Hỗ trợ thương lượng và xử lý tranh chấp trước khi khởi kiện

Không phải mọi tranh chấp tiền lương đều cần ngay lập tức đưa ra Tòa án. Trong nhiều trường hợp, việc gửi yêu cầu thanh toán rõ ràng và tổ chức thương lượng trên cơ sở chứng cứ có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp xác nhận nghĩa vụ.

Long Phan PMT hỗ trợ soạn văn bản yêu cầu trả lương, trong đó phân tích riêng từng khoản công nợ và tài liệu làm căn cứ.

Luật sư có thể đại diện hoặc đồng hành cùng khách hàng trong quá trình làm việc với doanh nghiệp nhằm xác nhận khoản nợ và xây dựng phương án thanh toán.

Khi có dấu hiệu vi phạm cần được cơ quan quản lý kiểm tra, luật sư hỗ trợ chuẩn bị đơn phản ánh hoặc khiếu nại theo tình trạng cụ thể.

Đối với tranh chấp phải thực hiện thủ tục hòa giải, Long Phan PMT hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ, trình bày yêu cầu tại Hòa giải viên lao động và rà soát nội dung biên bản nhằm bảo đảm kết quả làm việc phản ánh đúng quyền lợi tài chính mà người lao động đang yêu cầu.

Mục tiêu của giai đoạn tiền tố tụng là tạo cơ sở pháp lý đủ rõ để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ, đồng thời chuẩn bị sẵn hồ sơ cho bước tiếp theo nếu việc thương lượng không thành công.

Đại diện người lao động khởi kiện và yêu cầu thi hành khoản tiền được nhận

Trong trường hợp doanh nghiệp vẫn không thanh toán sau quá trình thương lượng và hòa giải, Long Phan PMT có thể tiếp tục hỗ trợ khách hàng thực hiện thủ tục tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền.

Công việc bao gồm chuẩn bị đơn khởi kiện, sắp xếp và hoàn thiện chứng cứ theo từng khoản tiền lương cụ thể, xác định đúng Tòa án có thẩm quyền và thực hiện việc nộp hoặc bổ sung hồ sơ theo yêu cầu.

Tùy phạm vi ủy quyền, luật sư có thể tham gia các buổi làm việc, hòa giải tại Tòa án, phiên họp công khai chứng cứ và quá trình xét xử để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động.

Sau khi có bản án hoặc quyết định có hiệu lực, việc thu hồi quyền lợi trên thực tế còn phụ thuộc vào quá trình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp. Khi cần thiết, Long Phan PMT tiếp tục hỗ trợ thủ tục thi hành án nhằm chuyển kết quả được Tòa án ghi nhận thành khoản tiền thực tế mà người lao động có thể nhận.

Kết luận

Người lao động bị doanh nghiệp nợ hoặc chậm thanh toán tiền lương nên sớm xác định từng khoản công nợ, thu thập chứng cứ, gửi yêu cầu thanh toán, thực hiện hòa giải và khởi kiện đúng trình tự, đồng thời kiểm soát thời hiệu 01 năm theo quy định. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Giải pháp đòi quyền lợi cho người lao động bị chậm trả lương

Xem thêm:  Hướng dẫn đòi lại tiền khi công ty phá sản nợ lương người lao động

PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN HƯỞNG ÁN TREO TRONG VỤ TRỘM CẮP TÀI SẢN


Read More

My maps