Định giá tài sản trong tố tụng hình sự được hiểu như thế nào?
Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, giá trị của tài sản có thể trở thành dữ liệu cần thiết để cơ quan tiến hành tố tụng xác định tính chất, mức độ của hành vi, thiệt hại phát sinh hoặc các vấn đề dân sự liên quan. Chẳng hạn, trong vụ việc tài sản của doanh nghiệp bị chiếm đoạt, cơ quan điều tra có thể cần xác định giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra hành vi nhằm phục vụ việc đánh giá trách nhiệm hình sự.
Theo khoản 1 Điều 215 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra văn bản yêu cầu định giá tài sản. Văn bản này phải thể hiện các thông tin cần thiết như cơ quan yêu cầu, người có thẩm quyền yêu cầu, Hội đồng định giá được đề nghị thực hiện, thông tin và đặc điểm của tài sản, nội dung cần định giá, thời điểm lập yêu cầu và thời hạn trả kết luận.
Cần phân biệt rõ giữa “yêu cầu định giá” và “căn cứ định giá”. Yêu cầu định giá là thủ tục làm phát sinh hoạt động định giá trong vụ án. Trong khi đó, căn cứ định giá là hệ thống dữ liệu, tài liệu, thông tin về giá và các nguồn tham chiếu mà Hội đồng định giá sử dụng để xác định giá trị tài sản. Các căn cứ này hiện được quy định chủ yếu tại Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và có thể ra văn bản yêu cầu định giá tài sản trong phạm vi thẩm quyền. Hội đồng định giá tài sản được thành lập theo từng cấp tùy tính chất của vụ việc, bao gồm cấp xã, cấp tỉnh, cấp bộ hoặc theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo Điều 7 đến Điều 11 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.
Đáng lưu ý, Nghị định 250/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 22/9/2025 và thay thế Nghị định 30/2018/NĐ-CP cùng Nghị định 97/2019/NĐ-CP. Do đó, khi kiểm tra hồ sơ định giá ở thời điểm hiện nay, các chủ thể liên quan cần căn cứ vào quy định mới để tránh áp dụng văn bản đã hết hiệu lực.
Thời điểm và địa điểm lấy giá là yếu tố quan trọng khi kiểm tra kết luận định giá; trường hợp không có dữ liệu phù hợp tại thời điểm yêu cầu
Những căn cứ được sử dụng để định giá tài sản hiện nay
Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP xây dựng hai nhóm căn cứ riêng biệt tương ứng với tính chất của tài sản. Một nhóm áp dụng cho tài sản không phải hàng cấm và nhóm còn lại dành cho tài sản thuộc loại hàng cấm.
Sự phân chia này có ý nghĩa thực tế rõ rệt. Đối với tài sản được phép giao dịch, Hội đồng định giá có thể tìm kiếm giá chuyển nhượng, chào mua, chào bán hoặc các dữ liệu hợp pháp trên thị trường. Ngược lại, hàng cấm không được lưu thông hợp pháp nên việc thu thập thông tin giá phải dựa trên phạm vi và nguồn dữ liệu rộng hơn.
Căn cứ áp dụng đối với tài sản không thuộc hàng cấm
Khoản 1 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định việc định giá tài sản không phải hàng cấm phải dựa trên ít nhất một căn cứ mà pháp luật cho phép.
Nguồn tham chiếu trước hết có thể là giá của tài sản đang có hoạt động chuyển nhượng, chào mua hoặc chào bán công khai trên thị trường. Đây là nhóm thông tin có khả năng phản ánh tương đối trực tiếp quan hệ cung cầu và giá trị giao dịch của tài sản tại thời điểm cần xác định giá.
Hội đồng định giá cũng có thể sử dụng giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc quyết định và đang có hiệu lực tại thời điểm được yêu cầu định giá. Trường hợp pháp luật chỉ xác định mức tối đa, mức tối thiểu hoặc khung giá thì mức giá cụ thể do cơ quan hoặc đơn vị sản xuất, kinh doanh quy định tại thời điểm được yêu cầu định giá có thể được sử dụng.
Một nguồn dữ liệu khác là báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá do doanh nghiệp thẩm định giá lập hoặc báo cáo tư vấn giá của đơn vị có chức năng tư vấn giá theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, mức giá được thể hiện trong tài liệu, hồ sơ hợp pháp liên quan đến loại tài sản do cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan yêu cầu định giá cung cấp cũng có thể được sử dụng làm căn cứ.
Khi các nguồn nêu trên không thể thu thập được, Hội đồng định giá có thể tiếp tục khai thác những căn cứ khác, chẳng hạn ý kiến của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn, kinh nghiệm về tài sản; lời khai và hồ sơ của các bên liên quan; mức giá của tài sản tương tự từng được định giá trong vụ án khác; hoặc giá được thu thập từ các trang thông tin điện tử chính thức ở Việt Nam và nước ngoài.
Cách thiết kế quy định này cho thấy dữ liệu có mức độ công khai, khả năng kiểm chứng và tính khách quan cao được ưu tiên trước. Những nguồn mang nhiều yếu tố nhận định hoặc phụ thuộc vào thông tin bổ trợ chỉ được sử dụng khi nguồn dữ liệu trực tiếp không thể thu thập đầy đủ.
Căn cứ áp dụng khi tài sản cần định giá là hàng cấm
Với tài sản thuộc hàng cấm, khoản 2 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP thiết lập hệ thống căn cứ riêng phù hợp với đặc điểm không được mua bán, lưu hành hợp pháp trên thị trường Việt Nam.
Hội đồng định giá có thể tham khảo giá của tài sản tại thị trường vào đúng thời điểm và tại địa điểm nơi tài sản được yêu cầu định giá hoặc sử dụng dữ liệu tại địa phương khác khi đáp ứng điều kiện phù hợp.
Nếu tồn tại hợp đồng, hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu liên quan đến hàng cấm thì thông tin giá thể hiện trong những tài liệu này cũng có thể được xem xét.
Báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá và báo cáo tư vấn giá của đơn vị tư vấn giá tiếp tục là nguồn thông tin pháp luật cho phép sử dụng.
Đối với những trường hợp không thể hình thành giá hợp pháp trong nước, Hội đồng có thể khai thác giá thị trường khu vực hoặc thế giới được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tại nước sở tại thông báo hoặc cung cấp.
Giá niêm yết, giá ghi trên hợp đồng, hóa đơn mua bán, tờ khai nhập khẩu đối với tài sản tương tự được phép kinh doanh và lưu hành tại Việt Nam cũng có thể trở thành căn cứ so sánh.
Tương tự, giá thị trường khu vực hoặc thế giới của tài sản tương tự được phép mua bán, lưu hành hợp pháp tại các thị trường tương ứng được phép dùng để tham chiếu.
Cuối cùng, pháp luật cho phép sử dụng những căn cứ khác có khả năng hỗ trợ xác định giá tài sản do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cung cấp. Trong trường hợp này, cơ quan cung cấp phải chịu trách nhiệm về tính chính xác và độ tin cậy của thông tin.
Như vậy, điểm khác biệt nổi bật nằm ở phạm vi tìm kiếm nguồn giá. Với tài sản thông thường, giá giao dịch công khai và giá do Nhà nước quy định đóng vai trò quan trọng. Với hàng cấm, Hội đồng phải mở rộng nguồn tham chiếu sang hợp đồng, hóa đơn, tờ khai, thị trường nước ngoài hoặc tài sản tương tự được phép kinh doanh.
Thời điểm và địa điểm lấy giá phải đáp ứng điều kiện nào?
Một mức giá có thể tồn tại trên thị trường nhưng chưa chắc đã trở thành căn cứ hợp lệ nếu không phù hợp về thời điểm hoặc địa điểm. Chính vì vậy, khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP yêu cầu các mức giá làm căn cứ về nguyên tắc phải được xác định tại thời điểm và tại nơi tài sản được yêu cầu định giá.
Khi không thể thu thập giá của chính tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự tại đúng thời điểm được yêu cầu, Hội đồng định giá được phép sử dụng mức giá tại thời điểm gần nhất. Tuy nhiên, thời điểm tham chiếu không được lùi quá 24 tháng tính ngược trở lại từ thời điểm được yêu cầu định giá.
Về không gian thị trường, nếu tại địa điểm tài sản được yêu cầu định giá không có dữ liệu giá phù hợp thì việc thu thập thông tin được mở rộng theo nguyên tắc từ gần đến xa. Những khu vực có điều kiện và đặc điểm thị trường tương đồng phải được ưu tiên trước. Khi trong phạm vi Việt Nam không tìm được dữ liệu thích hợp, nguồn giá tại khu vực hoặc trên thế giới có thể được xem xét theo quy định.
Quy định về giới hạn 24 tháng có ý nghĩa đáng kể khi kiểm tra tính hợp pháp của kết luận định giá. Nếu mức giá được Hội đồng sử dụng thuộc một thời điểm quá xa so với thời điểm yêu cầu, hoặc dữ liệu được lấy từ thị trường có đặc điểm không tương đồng mà không được lý giải hợp lý, người tham gia tố tụng có thể xem xét sử dụng vấn đề đó để đề nghị cơ quan có thẩm quyền đánh giá lại kết luận.
Có thể đề nghị định giá lại tài sản khi có căn cứ nghi ngờ kết luận định giá lần đầu chưa chính xác
Căn cứ và phương pháp định giá phải được áp dụng đồng thời
Việc tập hợp được thông tin về giá mới chỉ là bước tạo lập dữ liệu đầu vào. Để hình thành một kết luận định giá cụ thể, Hội đồng còn phải lựa chọn phương pháp phù hợp nhằm xử lý các dữ liệu đã thu thập.
Khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định ngoài các căn cứ tại khoản 1 và khoản 2, hoạt động định giá còn phải căn cứ vào thông tin, tài liệu được quy định trong các phương pháp định giá tại Điều 23 Nghị định này.
Theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, Hội đồng định giá phải dựa trên loại tài sản, thông tin, đặc điểm cụ thể của tài sản cũng như kết quả khảo sát và thu thập dữ liệu để quyết định phương pháp định giá.
Thứ tự ưu tiên được xác định khá rõ. Trước tiên phải sử dụng phương pháp định giá được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đối với tài sản cần định giá. Chỉ khi pháp luật chuyên ngành không có quy định thì mới chuyển sang phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ hoặc phương pháp thẩm định giá theo pháp luật về giá.
Cách tiếp cận này giúp hạn chế việc áp dụng một công thức chung cho mọi loại tài sản. Đất đai, hàng hóa nhập khẩu, kim khí quý, cổ vật hoặc tài sản đã qua sử dụng đều có đặc tính kinh tế và pháp lý khác nhau nên phương pháp xác định giá cũng phải tương ứng.
Cách xác định giá với một số loại tài sản có đặc điểm riêng
Khoản 2 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định thêm cách xử lý đối với một số loại tài sản đặc thù.
Đối với tài sản chưa qua sử dụng, mức giá được xác định trên cơ sở giá của tài sản cùng loại còn mới.
Nếu tài sản đã qua sử dụng, Hội đồng phải xem xét giá trị còn lại. Khi tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng một phần hay toàn bộ nhưng vẫn có thể phục hồi, việc xác định giá phải dựa trên hồ sơ về tài sản kết hợp với chi phí cần thiết để khôi phục.
Đối với tài sản đã mất, thất lạc hoặc bị hư hỏng hoàn toàn và không còn khả năng phục hồi, giá trị được xác định thông qua hồ sơ và những thông tin thu thập được.
Trường hợp cần định giá hàng giả, Hội đồng có thể dựa vào hồ sơ về tài sản. Nếu có căn cứ xác định hàng giả đã được mua bán như hàng thật thì giá của hàng thật có thể trở thành cơ sở tham chiếu.
Riêng đối với kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật và những tài sản ít được giao dịch phổ biến trên thị trường, việc xác định giá phải dựa trên kết quả giám định và ý kiến của người có chuyên môn.
Việc xác định đúng tình trạng của tài sản có ý nghĩa đặc biệt trong nhóm này. Một tài sản cũ không thể được mặc nhiên đối chiếu với giá của tài sản hoàn toàn mới mà bỏ qua hao mòn hoặc giá trị còn lại. Tương tự, tài sản đã bị hư hỏng nhưng có khả năng khôi phục cần được đánh giá khác với tài sản đã mất hoàn toàn.
Quy trình sử dụng căn cứ để hình thành kết luận định giá
Căn cứ định giá không được lựa chọn tùy ý tại thời điểm Hội đồng họp. Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định nhiều bước nhằm bảo đảm quá trình thu thập và sử dụng thông tin có cơ sở và được lưu lại trong hồ sơ.
Theo Điều 21 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, trước khi tiến hành định giá, Hội đồng định giá phải xây dựng kế hoạch. Nội dung kế hoạch bao gồm việc xác định yêu cầu cần giải quyết, chính sách và văn bản pháp luật có liên quan, phương pháp định giá dự kiến áp dụng, dữ liệu và hồ sơ cần thiết, những tài liệu đã có và phần còn thiếu cần đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp bổ sung, thời hạn thực hiện cũng như nhiệm vụ của từng thành viên.
Kế hoạch do Chủ tịch Hội đồng định giá phê duyệt và có thể được điều chỉnh nếu trong quá trình thực hiện xuất hiện thông tin, tình tiết mới. Điều này cho thấy việc lựa chọn căn cứ phải được định hướng ngay từ giai đoạn chuẩn bị.
Bước tiếp theo là thu thập hồ sơ và dữ liệu. Khoản 1 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến yêu cầu định giá theo khoản 1 Điều 18 Nghị định này.
Nếu Hội đồng cần thêm tài liệu, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm cung cấp trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, theo khoản 3 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.
Khoản 4 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP còn yêu cầu hồ sơ, tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp phải là bản chính hoặc bản sao có đóng dấu bút lục hoặc giáp lai. Đây là yêu cầu giúp kiểm soát nguồn gốc và tính xác thực của tài liệu được đưa vào quá trình định giá.
Sau khi hoàn tất việc xác định giá, Điều 221 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 yêu cầu Hội đồng định giá lập kết luận định giá tài sản.
Theo Điều 28 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, hồ sơ định giá gồm văn bản yêu cầu định giá, quyết định thành lập Hội đồng, các biên bản phiên họp, kết luận định giá cùng tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp.
Mẫu Bản kết luận định giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định 250/2025/NĐ-CP yêu cầu thể hiện cụ thể nội dung về “nguyên tắc và căn cứ định giá tài sản”. Đây là thông tin đặc biệt hữu ích để bị hại, người bị buộc tội và những người có quyền lợi liên quan kiểm tra nguồn dữ liệu mà Hội đồng đã sử dụng.
Có thể yêu cầu định giá lại khi không đồng ý kết luận hay không?
Kết luận định giá không đồng nghĩa với việc người tham gia tố tụng mất quyền phản ánh hoặc đề nghị xem xét lại. Khi có cơ sở nghi ngờ kết quả lần đầu thiếu chính xác, không đầy đủ hoặc sử dụng căn cứ chưa phù hợp, pháp luật cho phép tiến hành thủ tục định giá lại.
Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định khi có nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể tự mình hoặc theo đề nghị của người bị buộc tội hay người tham gia tố tụng khác có liên quan yêu cầu định giá lại. Việc định giá lại được thực hiện bởi Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp.
Theo Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc định giá lại được tiến hành khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có đầy đủ căn cứ nghi ngờ về kết luận trước đó. Nếu kết luận lần đầu và kết luận định giá lại tiếp tục tồn tại mâu thuẫn, cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu định giá lại lần thứ hai theo cơ chế được Nghị định quy định.
Khi lập văn bản đề nghị, người yêu cầu nên chỉ ra cụ thể điểm khiến kết luận bị nghi ngờ thay vì chỉ nêu rằng mức giá “không hợp lý”. Ví dụ, có thể kiểm tra liệu giá tham chiếu có vượt quá giới hạn 24 tháng hay không; thị trường nơi lấy giá có tương đồng với địa điểm cần định giá hay không; đặc điểm thực tế của tài sản đã được phản ánh đầy đủ chưa; hoặc Hội đồng đã sử dụng nguồn dữ liệu nào để đi đến kết quả cuối cùng.
Hệ quả pháp lý khi căn cứ định giá được xác định không chính xác
Giá trị tài sản là yếu tố định lượng có vai trò đáng kể trong nhiều tội phạm xâm phạm sở hữu hoặc tội phạm có yếu tố tài sản. Do đó, một sai lệch trong việc lựa chọn căn cứ có thể tạo ra hệ quả vượt xa phạm vi nghiệp vụ định giá.
Đối với những tội danh mà giá trị tài sản được pháp luật sử dụng để phân hóa trách nhiệm hình sự hoặc khung hình phạt, kết luận định giá có thể trở thành một trong những dữ liệu trực tiếp phục vụ việc áp dụng pháp luật. Nếu Hội đồng sử dụng mức giá không đúng thời điểm, chọn tài sản so sánh không tương đồng hoặc bỏ qua tình trạng thực tế của tài sản, kết quả định giá có nguy cơ ảnh hưởng đến việc xác định khung trách nhiệm.
Vì vậy, người bị buộc tội cần kiểm tra không chỉ con số cuối cùng mà còn cả cách thức hình thành con số đó, đặc biệt là nguồn giá, thời điểm tham chiếu, địa điểm khảo sát, phương pháp tính và hồ sơ làm cơ sở.
Đối với bị hại hoặc đương sự, giá trị tài sản cũng có liên hệ trực tiếp đến việc xác định thiệt hại và yêu cầu bồi thường trong vụ án. Nếu giá trị được kết luận thấp hơn đáng kể so với thực trạng tài sản, quyền lợi về bồi thường có thể bị ảnh hưởng.
Bị hại vì vậy nên đối chiếu kết luận với tình trạng sử dụng, chất lượng, thời điểm mua, hồ sơ tài sản và các dữ liệu thị trường có thể kiểm chứng. Khi phát hiện chênh lệch có cơ sở, việc đề nghị định giá lại cần được thực hiện theo đúng quy định thay vì chỉ phản đối kết quả bằng nhận định chủ quan.
Long Phan PMT hỗ trợ rà soát căn cứ định giá tài sản
Trong vụ án hình sự có yếu tố tài sản, việc đọc và đánh giá một kết luận định giá đòi hỏi phải đối chiếu đồng thời giữa Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị định 250/2025/NĐ-CP, hồ sơ vụ án, tình trạng thực tế của tài sản và nguồn dữ liệu Hội đồng đã sử dụng.
Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng kiểm tra văn bản yêu cầu định giá và đối chiếu căn cứ được áp dụng với quy định pháp luật hiện hành; đánh giá tính phù hợp của thời điểm, địa điểm và nguồn giá; phân tích khả năng phát sinh căn cứ nghi ngờ kết luận định giá lần đầu; tư vấn phương án yêu cầu định giá lại; chuẩn bị văn bản đề nghị gửi cơ quan tiến hành tố tụng và hỗ trợ khách hàng trong quá trình làm việc với cơ quan có thẩm quyền.
Việc rà soát càng có ý nghĩa khi giá trị tài sản nằm gần ngưỡng định lượng có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự hoặc khi kết quả định giá được dùng để xác định mức thiệt hại. Trong những trường hợp này, cần kiểm tra cả căn cứ pháp luật, hồ sơ nguồn, phương pháp áp dụng và logic hình thành kết luận thay vì chỉ tập trung vào mức giá cuối cùng.
Tóm lại, định giá tài sản trong tố tụng hình sự phải dựa đúng nhóm căn cứ theo Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, bảo đảm yêu cầu về thời điểm, địa điểm, phương pháp và hồ sơ; khi có căn cứ nghi ngờ kết luận, người tham gia tố tụng có thể đề nghị định giá lại theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Hướng Dẫn Chi Tiết Xác Định Các Căn Cứ Định Giá Tài Sản Trong Tố Tụng Hình Sự
Xem thêm: Hướng dẫn chi tiết quy trình xử lý lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
GIẢI PHÁP ĐÒI LƯƠNG KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ CHẬM TRẢ ĐÚNG LUẬT





