Làm di chúc giả để hưởng tài sản là hành vi có thể xâm phạm trực tiếp đến quyền thừa kế hợp pháp của những người có liên quan. Tùy tính chất, mức độ và mục đích của hành vi, người thực hiện không chỉ đối mặt với hậu quả dân sự mà còn có khả năng chịu trách nhiệm hình sự.

Việc xác định một bản di chúc có bị làm giả hay không cần dựa trên các dấu hiệu cụ thể về nội dung, hình thức và kết quả giám định theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp di chúc giả được sử dụng nhằm chiếm đoạt di sản, người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm đối với hành vi làm giả tài liệu và hành vi chiếm đoạt tài sản.
Bài viết dưới đây phân tích căn cứ xác định di chúc giả, hiệu lực của loại di chúc này và các trách nhiệm pháp lý có thể phát sinh theo quy định hiện hành.

-di-chuc-co-the-duoc-xu-ly-neu-duoc-su-dung-de-chiem-doat-tai-san-thua-ke-
 Di chúc có thể được xử lý nếu được sử dụng để chiếm đoạt tài sản thừa kế.

Căn cứ để xác định một bản di chúc là giả

Một bản di chúc có thể bị nghi ngờ là giả khi nội dung hoặc hình thức của văn bản không phản ánh đúng ý chí thực tế của người để lại di sản. Tuy nhiên, việc một bên cho rằng di chúc không phải do người chết lập hoặc bị sửa chữa, giả mạo không đồng nghĩa với việc bản di chúc đó ngay lập tức được xác định là giả về mặt pháp lý.

Để có cơ sở chính thức kết luận, cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và trưng cầu giám định đối với chữ ký, chữ viết, tài liệu, con dấu hoặc những yếu tố khác có liên quan. Kết luận giám định cùng với kết quả giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng là cơ sở quan trọng để xác định bản di chúc có dấu hiệu giả mạo hay không.

Giả mạo về nội dung di chúc

Giả về nội dung được hiểu là việc tạo lập hoặc thay đổi thông tin trong di chúc theo hướng không phản ánh đúng ý chí của người để lại di sản. Người thực hiện có thể tự mình xây dựng nội dung di chúc, tự xác định người được hưởng tài sản hoặc tự phân chia tỷ lệ di sản trong khi người có tài sản chưa từng thể hiện ý chí tương ứng.

Một trường hợp khác có thể xảy ra là một bản di chúc thật đã tồn tại nhưng bị người khác sửa chữa, bổ sung hoặc cắt bỏ một phần nội dung. Chẳng hạn, người thực hiện có thể thêm tên mình vào danh sách người thừa kế, loại bỏ người thừa kế khác hoặc thay đổi tỷ lệ phân chia tài sản so với nội dung ban đầu.

Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Do đó, nếu nội dung văn bản không xuất phát từ ý chí thực sự của người để lại di sản thì bản chất của việc định đoạt tài sản đã bị thay đổi.

Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một trong các điều kiện để di chúc hợp pháp là người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc và không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Vì vậy, trường hợp nội dung di chúc bị tạo dựng trái với ý chí thực tế của người để lại tài sản có thể dẫn đến việc di chúc không đáp ứng điều kiện về hiệu lực pháp lý.

Giả mạo về hình thức của di chúc

Không chỉ nội dung, hình thức của di chúc cũng có thể bị làm giả. Các dấu hiệu thường được xem xét gồm chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc, con dấu, chữ ký của công chứng viên hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

Một thủ đoạn có thể phát sinh trong thực tế là người có ý định hưởng di sản tự lập văn bản rồi giả chữ ký của người đã chết. Một số trường hợp còn có thể giả mạo chữ ký, con dấu công chứng hoặc xác nhận của UBND cấp xã nhằm tạo cho văn bản một hình thức bên ngoài giống với di chúc đã được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê hành vi giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc hoặc che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản là một trong những hành vi khiến người thực hiện không được quyền hưởng di sản.

Như vậy, việc giả mạo di chúc không chỉ ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản mà trong một số trường hợp còn trực tiếp ảnh hưởng đến quyền được hưởng di sản của chính người có hành vi vi phạm.

Kết luận giám định và kết quả của cơ quan tiến hành tố tụng

Một bên tự nhận định rằng chữ ký hoặc nội dung di chúc là giả chỉ mới được xem là thông tin, căn cứ ban đầu để xem xét. Việc xác định chính thức cần dựa trên chứng cứ được thu thập và đánh giá theo trình tự tố tụng.

Trong quá trình giải quyết tố giác hoặc điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có thể trưng cầu giám định chữ ký, tài liệu khi thấy cần thiết theo Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 hoặc theo yêu cầu giám định của bị hại theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Đối với vụ việc được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định trong trường hợp Tòa án từ chối yêu cầu trưng cầu giám định của mình.

Kết quả cuối cùng còn phụ thuộc vào thẩm quyền giải quyết của cơ quan tố tụng. Tòa án hình sự có thể xem xét vấn đề này khi giải quyết vụ án liên quan đến hành vi làm giả di chúc, trong khi Tòa án dân sự có thể xem xét khi giải quyết yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu hoặc tranh chấp về quyền thừa kế.

Di chúc giả có giá trị pháp lý hay không?

Khi một bản di chúc được xác định là giả, nội dung giả mạo không thể trở thành căn cứ hợp pháp để xác lập quyền hưởng di sản cho người thực hiện hành vi giả mạo. Nói cách khác, việc một văn bản đã được lập thành giấy tờ hoặc đã từng được sử dụng trên thực tế không đồng nghĩa với việc văn bản đó đương nhiên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự hợp pháp.

Di chúc giả không phản ánh ý chí thật của người để lại di sản nên không đáp ứng các điều kiện để được công nhận là di chúc hợp pháp theo Điều 630, Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015.

Trong trường hợp di chúc giả đã được sử dụng để thực hiện việc phân chia, chuyển giao hoặc sang tên tài sản, những giao dịch phát sinh từ việc sử dụng văn bản giả có thể tiếp tục bị xem xét theo quy định pháp luật. Tùy từng trường hợp, người có quyền lợi bị xâm phạm có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Theo điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi di chúc không hợp pháp. Vì vậy, nếu không tồn tại một di chúc hợp pháp khác thì phần di sản liên quan đến di chúc giả có thể được giải quyết theo quy định về thừa kế theo pháp luật.

Đối với các đồng thừa kế, việc di chúc giả không có giá trị pháp lý đồng nghĩa với việc nội dung phân chia trong văn bản giả không phải là căn cứ ràng buộc quyền hưởng di sản của họ. Kể cả khi các bên đã từng ký nhận tài sản hoặc thực hiện việc phân chia theo nội dung di chúc giả, quyền và lợi ích của các bên vẫn có thể được xem xét lại theo trình tự pháp luật.

Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch cho người khác, chẳng hạn đã thực hiện thủ tục sang tên hoặc chuyển nhượng cho bên thứ ba, việc xử lý sẽ phụ thuộc vào tính chất giao dịch, tình trạng tài sản và quyền lợi của các bên có liên quan.

Làm di chúc giả để hưởng tài sản có thể bị xử lý hình sự như thế nào?

Hành vi làm di chúc giả để hưởng tài sản có thể phát sinh nhiều dạng trách nhiệm pháp lý khác nhau. Đặc biệt, nếu người thực hiện vừa tạo ra tài liệu giả vừa sử dụng tài liệu đó để chiếm đoạt tài sản thì từng hành vi cần được xem xét dựa trên các dấu hiệu cấu thành tội phạm tương ứng.

Việc có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không không chỉ phụ thuộc vào việc di chúc có bị giả mạo mà còn phụ thuộc vào phương thức thực hiện, mục đích, hậu quả, giá trị tài sản và những tình tiết khác của vụ việc.

Trách nhiệm đối với hành vi làm giả con dấu, tài liệu

Nếu người thực hiện giả chữ ký, con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức nhằm tạo ra một bản di chúc có hình thức như tài liệu hợp pháp, hành vi này có thể cấu thành tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, tội danh này được quy định với các khung hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi.

Theo khoản 1 Điều 341, người làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

Khoản 2 Điều 341 quy định mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm đối với các trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên, làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu, giấy tờ hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

Theo khoản 3 Điều 341, trường hợp làm 06 con dấu, tài liệu, giấy tờ trở lên; sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên thì có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Ngoài hình phạt chính, khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Trách nhiệm đối với hành vi chiếm đoạt tài sản

Nếu người làm giả di chúc sử dụng văn bản giả để khiến người khác tin rằng mình có quyền hưởng di sản và từ đó giao tài sản hoặc công nhận quyền sở hữu tài sản cho mình, hành vi có thể có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; nội dung Điều 174 không thay đổi bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được phân chia thành các khung hình phạt dựa trên giá trị tài sản bị chiếm đoạt.

Đối với trường hợp chiếm đoạt tài sản từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp đặc biệt theo quy định, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo khoản 1 Điều 174.

Nếu giá trị tài sản chiếm đoạt từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, mức phạt tù được quy định từ 02 năm đến 07 năm theo khoản 2 Điều 174.

Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo khoản 3 Điều 174.

Đối với tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên, khoản 4 Điều 174 quy định mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Có thể bị xử lý đồng thời nhiều tội danh hay không?

Trong một vụ việc, nếu người thực hiện vừa làm giả tài liệu, chữ ký, con dấu vừa sử dụng những tài liệu này như một công cụ để chiếm đoạt tài sản thì không mặc nhiên chỉ xem xét một hành vi.

Trường hợp hành vi làm giả tài liệu và hành vi chiếm đoạt tài sản độc lập với nhau về mặt cấu thành tội phạm, mỗi hành vi đều đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của một tội danh thì người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về cả hai tội.

Theo Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội danh, sau đó tổng hợp thành hình phạt chung theo nguyên tắc được Bộ luật Hình sự quy định.

Do đó, trong những vụ việc vừa có hành vi làm giả tài liệu vừa có hành vi sử dụng tài liệu giả nhằm chiếm đoạt tài sản, việc xác định chính xác từng hành vi, thời điểm thực hiện, mục đích và hậu quả có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết.

gia-mao-chu-ky-con-dau-hoac-noi-dung-chuc-co-the-lam-phat-sinh-nhieu-trach-nhiem-phap-ly-

Giả mạo chữ ký, con dấu hoặc nội dung chúc có thể làm phát sinh nhiều trách nhiệm pháp lý.

Trường hợp làm di chúc giả nhưng chưa đủ yếu tố truy cứu hình sự

Không phải mọi hành vi làm giả hoặc sử dụng di chúc giả đều đương nhiên bị xử lý hình sự. Để truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi phải đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm tương ứng.

Trong trường hợp chưa đủ căn cứ xử lý hình sự, người vi phạm vẫn có thể phải chịu các hậu quả pháp lý khác, trong đó có trách nhiệm dân sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi thuộc trường hợp được pháp luật quy định.

Theo điểm c khoản 1 Điều 18 Nghị định 252/2025/NĐ-CP, hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác trong trường hợp này bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Mức xử phạt hành chính này được áp dụng đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nếu hành vi giả mạo con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức đã đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của tội phạm theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 thì người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này.

Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào giá trị tài sản để kết luận rằng người làm di chúc giả sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cần xem xét độc lập từng hành vi và các điều kiện pháp lý liên quan.

Di sản được phân chia thế nào khi di chúc bị xác định là giả?

Khi di chúc đã được xác định là giả, phần di sản được định đoạt trong văn bản này không được chia theo nội dung giả mạo. Việc xác định phương thức phân chia tiếp theo phụ thuộc vào việc người để lại di sản có lập một di chúc hợp pháp khác hay không.

Nếu còn một bản di chúc thật và bản di chúc này đáp ứng đầy đủ điều kiện có hiệu lực theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 thì di sản có thể được phân chia theo nội dung của di chúc thật. Việc tồn tại một bản di chúc giả không làm phát sinh quyền hưởng di sản theo nội dung của bản giả.

Ngược lại, nếu không còn di chúc hợp pháp nào khác hoặc người để lại di sản chưa từng lập di chúc hợp pháp thì phần di sản được giải quyết theo quy định về thừa kế theo pháp luật.

Theo điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp di chúc không hợp pháp. Vì di chúc giả không đáp ứng điều kiện để được công nhận là di chúc hợp pháp nên di sản thuộc trường hợp này có thể được phân chia theo quy định pháp luật.

Khi thừa kế theo pháp luật được áp dụng, những người thuộc cùng một hàng thừa kế về nguyên tắc được hưởng phần di sản bằng nhau theo quy định của pháp luật, đồng thời phải xem xét đầy đủ các điều kiện, trường hợp loại trừ quyền hưởng di sản và các vấn đề liên quan khác của từng vụ việc.

di-san-duoc-phan-chia-theo-uoc-hop-phap-hoac-quy-dinh-thua-ke-theo-luat-khi-uoc-gia-bi-loai-bo-

Di sản được phân chia theo ước hợp pháp hoặc quy định thừa kế theo luật khi ước giả bị loại bỏ.

Dịch vụ luật sư tư vấn, xử lý hành vi làm di chúc giả để hưởng tài sản

Đối với trường hợp nghi ngờ di chúc bị làm giả nhằm chiếm đoạt tài sản thừa kế, việc thu thập chứng cứ và lựa chọn phương án xử lý phù hợp có ý nghĩa quan trọng. Long Phan PMT có thể hỗ trợ khách hàng rà soát các tài liệu liên quan và đánh giá hướng giải quyết trên cơ sở quy định pháp luật.

Các nội dung hỗ trợ có thể bao gồm:

  • Rà soát bản di chúc, tài liệu thừa kế và những giấy tờ liên quan nhằm xác định dấu hiệu bất thường về nội dung hoặc hình thức của di chúc.

  • Hỗ trợ khách hàng liên hệ tổ chức giám định chữ ký, chữ viết, tài liệu và chuẩn bị hồ sơ yêu cầu trưng cầu giám định theo quy định.

  • Phân tích dấu hiệu pháp lý liên quan đến tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

  • Đánh giá khả năng một người phải chịu trách nhiệm về nhiều tội danh nếu hành vi làm giả tài liệu và hành vi chiếm đoạt tài sản độc lập, đồng thời đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

  • Hỗ trợ soạn thảo đơn tố giác tội phạm trong trường hợp có căn cứ cho rằng hành vi có dấu hiệu tội phạm.

  • Hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, yêu cầu Tòa án xem xét hiệu lực của di chúc và giải quyết tranh chấp thừa kế.

  • Tư vấn phương án xác định quyền hưởng di sản trong trường hợp di chúc bị tuyên không hợp pháp.

  • Đại diện hoặc hỗ trợ khách hàng làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong phạm vi pháp luật cho phép.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.

Một số câu hỏi thường gặp về làm di chúc giả để hưởng tài sản

Dựa vào đâu để xác định một di chúc là giả?

Di chúc có thể được xem xét là giả khi có dấu hiệu giả về nội dung hoặc giả về hình thức. Giả về nội dung là trường hợp nội dung văn bản không phản ánh ý chí thật của người để lại di sản; còn giả về hình thức có thể liên quan đến việc giả chữ ký, điểm chỉ, con dấu hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

Việc xác định chính thức không chỉ dựa vào lời trình bày của một bên mà cần dựa trên chứng cứ, kết quả giám định và kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Việc giám định có thể được thực hiện theo Điều 205, Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 hoặc Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tùy trường hợp.

Làm giả di chúc để hưởng tài sản có bị đi tù không?

Có thể. Nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 thì người thực hiện có thể bị xử lý hình sự với mức hình phạt tù tương ứng với giá trị tài sản chiếm đoạt.

Trong trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên, khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 quy định mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Nếu người thực hiện đồng thời giả mạo con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật thì còn có thể bị xem xét về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015.

Một người có thể cùng lúc bị xử lý về hai tội danh do làm giả di chúc không?

Có thể, nếu các hành vi được thực hiện độc lập và từng hành vi đều đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành của tội phạm tương ứng.

Chẳng hạn, việc giả mạo con dấu, tài liệu nhằm tạo ra một di chúc có hình thức hợp pháp và việc sử dụng di chúc đó để chiếm đoạt tài sản có thể được xem xét riêng về từng hành vi.

Theo Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, khi một người bị xét xử cùng một lần về nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội danh rồi tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định.

Giá trị tài sản trong di chúc giả nhỏ thì có bị xử lý hình sự không?

Không thể chỉ căn cứ vào giá trị tài sản để kết luận có hay không có trách nhiệm hình sự. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 quy định ngưỡng giá trị tài sản và các trường hợp đặc biệt để xác định trách nhiệm hình sự.

Nếu giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng và không thuộc các trường hợp luật định thì hành vi chiếm đoạt có thể không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi đó, nếu đủ điều kiện, hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm c khoản 1 Điều 18 Nghị định 252/2025/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Tuy nhiên, nếu cùng vụ việc có hành vi giả mạo con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 thì trách nhiệm hình sự đối với hành vi này vẫn cần được xem xét độc lập.

Khi di chúc bị xác định là giả thì di sản được chia như thế nào?

Nếu người để lại di sản còn một di chúc thật khác và di chúc này đáp ứng điều kiện hợp pháp theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 thì phần di sản có liên quan được xem xét phân chia theo di chúc thật.

Nếu không còn di chúc hợp pháp nào khác thì điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 được áp dụng để giải quyết thừa kế theo pháp luật do di chúc không hợp pháp.

Khi đó, di sản được phân chia cho những người thuộc hàng thừa kế theo quy định pháp luật và những người thừa kế cùng hàng về nguyên tắc được hưởng phần di sản bằng nhau, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Làm di chúc giả để hưởng tài sản không chỉ khiến bản di chúc giả không được công nhận mà trong những trường hợp đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người thực hiện còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Việc xử lý cụ thể phải dựa trên nội dung di chúc, phương thức làm giả, mục đích sử dụng, giá trị tài sản và chứng cứ được cơ quan có thẩm quyền xác minh, đánh giá. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Làm di chúc giả để hưởng tài sản có bị xử lý hình sự không?

Xem thêm: 


Read More

 Đưa ma túy cho người khác sử dụng là hành vi tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý và trong những trường hợp nhất định có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xác định người thực hiện phạm tội gì không chỉ dựa vào hành vi giao hoặc cung cấp ma túy mà còn phải xem xét mục đích, vai trò, nhận thức và toàn bộ diễn biến của vụ việc.

Theo quy định hiện hành, hành vi này có thể được xem xét về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) hoặc một tội danh khác tùy thuộc vào bản chất hành vi.
Đặc biệt, từ ngày 01/7/2025, một số quy định của pháp luật hình sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã có sự thay đổi, do đó cần phân biệt rõ trách nhiệm của người đưa ma túy và người trực tiếp sử dụng.
Việc hiểu đúng quy định pháp luật giúp xác định chính xác tội danh, khung hình phạt cũng như quyền của người bị điều tra, bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng.

hanh-vi-dua-ma-tuy-cho-nguoi-khac-su-dung-co-the-duoc-xem-xet-trach-nhiem-hinh-su-theo-dieu-255-bo-luat-hinh-su-
Hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng có thể được xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đưa ma túy cho người khác sử dụng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Hành vi đưa hoặc cung cấp ma túy cho người khác sử dụng không phải trong mọi trường hợp đều được đánh giá giống nhau. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào tính chất cụ thể của hành vi, mục đích thực hiện, nhận thức của người liên quan, vai trò của từng cá nhân và những chứng cứ được thu thập trong vụ án để xác định trách nhiệm pháp lý.

Theo Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Khoản 1 Điều 255 quy định khung hình phạt cơ bản từ 03 năm đến 07 năm tù.

Do đó, khi xem xét một người có hành vi đưa ma túy cho người khác, không thể chỉ dựa vào một hành động riêng lẻ để kết luận ngay người đó phạm Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cần làm rõ việc đưa ma túy có nằm trong tổng thể hành vi tổ chức, tạo điều kiện hoặc hỗ trợ cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy hay không.

Khi nào hành vi đưa ma túy có thể bị xử lý về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy?

Theo Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Người phạm tội có thể thực hiện việc chuẩn bị ma túy, địa điểm, dụng cụ, phương tiện hoặc tiến hành những công việc cần thiết nhằm tạo điều kiện để người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong trường hợp một người trực tiếp đưa hoặc cung cấp ma túy cho người khác, hành vi này cần được đặt trong mối liên hệ với các hành động khác trước, trong và sau thời điểm sử dụng ma túy. Mục đích của việc cung cấp, vai trò của người thực hiện và nhận thức về việc người khác sẽ sử dụng chất ma túy là những nội dung cần được làm rõ.

Vì vậy, không nên mặc nhiên cho rằng cứ có hành vi “đưa ma túy” là đương nhiên cấu thành Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự phải dựa trên đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 255 Bộ luật Hình sự.

muc-do-phat-doi-voi-hanh-vi-duoc-to-chuc-su-dung-trai-phep-chat-ma-tuy-duoc-xac-dinh-dua-tren-tinh-chat-va-tinh-hinh-kinh-doanh-cua-du-an-

Mức độ phạt đối với hành vi được tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được xác định dựa trên tính chất và tình hình kinh doanh của dự án.

Trường hợp hành vi đưa ma túy liên quan đến mua bán hoặc tàng trữ

Trong một số vụ việc, hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng có thể đồng thời gắn với việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển hoặc những hành vi phạm tội khác liên quan đến ma túy. Khi đó, người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm theo tội danh tương ứng nếu hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu pháp lý của tội phạm đó.

Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tội mua bán trái phép chất ma túy có khung hình phạt cơ bản từ 03 năm đến 07 năm tù. Các khung hình phạt nghiêm khắc hơn được xác định dựa trên loại, khối lượng, thể tích chất ma túy cũng như những tình tiết được pháp luật quy định.

Do đó, việc phân biệt giữa hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng và hành vi mua bán trái phép chất ma túy cần dựa trên bản chất thực tế của giao dịch. Cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét nguồn gốc của chất ma túy, mục đích chuyển giao, cách thức thực hiện, việc có hay không có thỏa thuận mua bán, lợi ích thu được và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Trường hợp hành vi chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự

Không phải mọi hành vi liên quan đến ma túy đều mặc nhiên bị xử lý hình sự. Nếu hành vi thực tế chưa đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì tùy tính chất, mức độ và trường hợp cụ thể, người vi phạm có thể bị áp dụng trách nhiệm hành chính hoặc các biện pháp quản lý theo quy định pháp luật.

Việc xem xét trách nhiệm trong trường hợp này có thể liên quan đến Nghị định 282/2025/NĐ-CP, Luật Phòng, chống ma túy 2025 và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Người sử dụng trái phép chất ma túy còn có thể thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Chương IV Luật Phòng, chống ma túy 2025.

Đối với người đưa ma túy cho người khác, trách nhiệm pháp lý phải được đánh giá độc lập. Việc người trực tiếp sử dụng ma túy có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không không đồng nghĩa với việc người đưa, cung cấp hoặc tổ chức cho người khác sử dụng đương nhiên được miễn trách nhiệm.

Đặc biệt, Điều 256a Bộ luật Hình sự là tội danh được bổ sung từ ngày 01/7/2025 và chỉ áp dụng khi người sử dụng trái phép chất ma túy thuộc những trường hợp, điều kiện cụ thể mà luật quy định. Vì vậy, cần phân biệt rõ hành vi của từng người thay vì đánh đồng trách nhiệm pháp lý giữa người sử dụng và người đưa hoặc tổ chức cho người khác sử dụng.

Các yếu tố cấu thành Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Để xác định một người có phạm Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh đầy đủ những yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).

Việc một người có liên quan đến ma túy hoặc từng đưa ma túy cho người khác chưa tự động đồng nghĩa với việc người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về Điều 255. Cơ quan có thẩm quyền phải làm rõ hành vi thực tế, lỗi, vai trò, mục đích và những tình tiết liên quan.

Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện thông qua hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào.

Hành vi tổ chức có thể được biểu hiện bằng việc chỉ huy, phân công, chuẩn bị hoặc thực hiện những công việc cần thiết nhằm tạo điều kiện cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Những hành động như chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, phương tiện, cung cấp chất ma túy hoặc hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác có thể được xem xét trong tổng thể vụ việc.

Do đó, trường hợp một người đưa hoặc cung cấp ma túy cho người khác phải được đánh giá cùng với mục đích và vai trò thực tế của người đó. Không thể tách riêng hành động “đưa ma túy” khỏi toàn bộ diễn biến để mặc nhiên kết luận đã đủ căn cứ cấu thành Điều 255.

Mặt chủ quan và lỗi cố ý

Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được thực hiện với lỗi cố ý. Người thực hiện phải có nhận thức về hành vi của mình và biết rằng việc làm của mình hướng tới việc tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn chủ động thực hiện.

Trong quá trình điều tra, các vấn đề cần được làm rõ có thể bao gồm việc người thực hiện có biết chất được giao là ma túy hay không, có biết người nhận sẽ sử dụng chất đó hay không và có chủ động tham gia vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không.

Nếu chưa chứng minh được nhận thức, ý chí và lỗi cố ý cần thiết thì chưa thể chỉ dựa vào việc có hành vi giao hoặc cung cấp chất để khẳng định đầy đủ trách nhiệm hình sự theo Điều 255.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

Theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm được liệt kê tại điều khoản này. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 không thuộc danh sách được quy định tại khoản 2 Điều 12.

Vì vậy, độ tuổi của người thực hiện là một trong những vấn đề cần được xác minh khi xem xét trách nhiệm hình sự.

Khách thể của tội phạm

Khách thể bị xâm phạm của Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.

Bên cạnh đó, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn có khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và trật tự, an toàn xã hội. Đây cũng là cơ sở để pháp luật hình sự đặt ra các chế tài nghiêm khắc đối với hành vi này.

nguoi-co-hanh-vi-lien-quan-den-cong-viec-duoc-dua-ra-cho-nguoi-khac-su-dung-can-duoc-danh-gia-cu-the-ve-vai-tro-tro-choi-va-tham-so-

Người có hành vi liên quan đến công việc được đưa ra cho người khác sử dụng cần được đánh giá cụ thể về vai trò trò chơi và tham số.

Khung hình phạt đối với hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng

Tùy vào tính chất, mức độ, hậu quả và các tình tiết định khung được chứng minh trong vụ án, người phạm tội có thể phải chịu những mức hình phạt khác nhau theo Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).

Cần đặc biệt lưu ý rằng từ ngày 01/7/2025, khoản 1 Điều 255 đã được sửa đổi về mức hình phạt. Vì vậy, khi đánh giá một vụ việc xảy ra ở thời điểm khác nhau cần xem xét quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm hành vi được thực hiện và nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự tương ứng.

Khung hình phạt cơ bản

Theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), được sửa đổi bởi khoản 19 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15, người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

So với quy định áp dụng trước ngày 01/7/2025, mức hình phạt tối thiểu tại khoản 1 Điều 255 đã được thay đổi. Trước thời điểm này, mức hình phạt được quy định từ 02 năm đến 07 năm tù.

Đối với những hành vi xảy ra trước ngày quy định mới có hiệu lực, việc xác định văn bản pháp luật áp dụng phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật hình sự về hiệu lực của luật theo thời gian.

Các khung hình phạt tăng nặng

Theo khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), mức hình phạt được nâng lên khi vụ án xuất hiện những tình tiết định khung nghiêm trọng hơn.

Khoản 2 Điều 255: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu thuộc các trường hợp như phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi; đối với phụ nữ mà biết là có thai; đối với người đang cai nghiện; gây tổn hại sức khỏe người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây bệnh nguy hiểm cho người khác hoặc tái phạm nguy hiểm.

Khoản 3 Điều 255: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm khi gây tổn hại sức khỏe người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người; gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ của mỗi người từ 31% đến 60%; gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên hoặc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với người dưới 13 tuổi.

Khoản 4 Điều 255: Người phạm tội có thể bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân nếu gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên hoặc làm chết 02 người trở lên.

Việc xác định khoản hình phạt áp dụng phải dựa trên chứng cứ cụ thể chứng minh tình tiết định khung. Những yếu tố như số lần phạm tội, số người được tổ chức sử dụng ma túy, độ tuổi của người sử dụng, tình trạng của người liên quan cũng như hậu quả đối với sức khỏe, tính mạng đều cần được xác minh.

Một tình tiết đã được sử dụng để xác định khung hình phạt thì không được tiếp tục sử dụng chính tình tiết đó để làm căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự một lần nữa.

Hình phạt bổ sung

Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).

Theo quy định này, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Việc áp dụng hình phạt bổ sung không được xác định một cách máy móc mà được Tòa án xem xét trên cơ sở tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân người phạm tội và những tình tiết cụ thể của vụ án.

Những tình tiết có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự

Sau khi xác định khung hình phạt tương ứng, Tòa án còn xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt cụ thể đối với từng bị cáo.

Quá trình lượng hình cần xem xét tổng thể tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân của người phạm tội, hậu quả xảy ra cũng như những tình tiết khác được pháp luật quy định.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Theo Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), một số tình tiết tăng nặng có thể xuất hiện trong các vụ án ma túy như phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, sử dụng thủ đoạn tinh vi hoặc xảo quyệt để phạm tội, xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội.

Tuy nhiên, cần phân biệt tình tiết tăng nặng với tình tiết định tội hoặc tình tiết định khung. Nếu một tình tiết đã được sử dụng để xác định khung hình phạt thì không được tiếp tục sử dụng chính tình tiết đó làm căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52.

Chẳng hạn, trường hợp “tái phạm nguy hiểm” đã được sử dụng làm tình tiết định khung để áp dụng khoản 2 Điều 255 thì không tiếp tục tính thêm tình tiết này theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tòa án có thể xem xét nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ; phạm tội do bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức.

Ngoài những trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 51, Tòa án còn có thể xem xét các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.

Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hiện còn được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP. Do đó, khi đánh giá một vụ án cụ thể cần đối chiếu đầy đủ tình tiết thực tế với quy định pháp luật và hướng dẫn áp dụng có liên quan.

Đồng phạm và trách nhiệm của những người cùng tham gia

Trong thực tế, một vụ việc liên quan đến hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng có thể có nhiều người tham gia với mức độ và vai trò khác nhau. Có người trực tiếp thực hiện hành vi, người chuẩn bị địa điểm hoặc phương tiện, người cung cấp dụng cụ, người hỗ trợ về vật chất hoặc người có vai trò tổ chức.

Do đó, việc xác định trách nhiệm của từng người cần dựa trên hành vi cụ thể và ý chí của từng cá nhân. Không phải bất kỳ người nào có mặt tại địa điểm xảy ra vụ việc hoặc có quan hệ với người thực hiện hành vi cũng đương nhiên trở thành đồng phạm.

Xác định vai trò đồng phạm và người giúp sức

Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Những người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức.

Trong vụ án về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, một người có hành vi chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, phương tiện hoặc thực hiện công việc khác tạo điều kiện cho hành vi phạm tội có thể bị xác định là người giúp sức nếu người đó biết rõ mục đích phạm tội và cố ý hỗ trợ về vật chất hoặc tinh thần.

Ngược lại, việc một người chỉ xuất hiện tại hiện trường hoặc có quan hệ quen biết với người phạm tội chưa đủ để xác định trách nhiệm đồng phạm. Cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được người đó có sự cố ý cùng thực hiện tội phạm và có vai trò cụ thể trong hành vi phạm tội.

Trách nhiệm của người che giấu hoặc không tố giác tội phạm

Trách nhiệm pháp lý cũng có thể phát sinh đối với một số người không trực tiếp thực hiện hành vi tổ chức sử dụng ma túy nhưng có hành vi che giấu hoặc không tố giác tội phạm trong những trường hợp luật định.

Theo Điều 389 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người không hứa hẹn trước nhưng sau khi tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật hoặc thực hiện hành vi khác nhằm cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý thì có thể bị truy cứu về Tội che giấu tội phạm. Điều 255 thuộc danh mục tội phạm mà hành vi che giấu có thể bị xử lý theo Điều 389.

Bên cạnh đó, theo Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người biết rõ một trong những tội phạm thuộc Điều 389 đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác có thể bị truy cứu về Tội không tố giác tội phạm, trừ các trường hợp được loại trừ theo khoản 2, khoản 3 Điều 19.

Trường hợp hành vi che giấu đã được hứa hẹn từ trước thì cần xem xét theo quy định về đồng phạm thay vì mặc nhiên xác định là Tội che giấu tội phạm.

Quy trình tố tụng khi bị điều tra về hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng

Người bị điều tra và gia đình cần nắm được các giai đoạn cơ bản của quá trình tố tụng hình sự để thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Đồng thời, việc chủ động tiếp cận người bào chữa từ giai đoạn sớm có thể giúp người bị buộc tội hiểu rõ hơn về quyền tố tụng và phương thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

Quá trình giải quyết một vụ án hình sự được tiến hành qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).

Giai đoạn bắt, tạm giữ, khởi tố và điều tra

Ở giai đoạn ban đầu, người bị bắt trong những trường hợp do pháp luật quy định có thể bị tạm giữ để cơ quan có thẩm quyền xác minh và tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết.

Khi có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm, cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định khởi tố bị can theo quy định.

Người bị bắt, người bị tạm giữ và bị can có quyền được biết lý do, các quyết định tố tụng liên quan; được trình bày lời khai, ý kiến và không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.

Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt hoặc tạm giữ người, người bào chữa có thể tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của cơ quan có thẩm quyền hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Giai đoạn truy tố và xét xử

Sau khi hoàn tất điều tra, nếu hồ sơ có đủ căn cứ theo quy định, vụ án được chuyển đến Viện kiểm sát để xem xét việc truy tố.

Sau giai đoạn truy tố, vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm tại Tòa án và có thể tiếp tục được xét xử phúc thẩm nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp lệ.

Trong quá trình này, người bị buộc tội có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa theo Điều 60, Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).

Đối với các trường hợp thuộc khoản 1 Điều 76, nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện thủ tục chỉ định người bào chữa theo quy định.

Việc người bào chữa tham gia từ giai đoạn sớm có thể hỗ trợ việc kiểm tra chứng cứ, thực hiện các quyền tố tụng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Dịch vụ luật sư bảo vệ người bị buộc tội về hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng

Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, đánh giá căn cứ pháp lý và tư vấn phương án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

Các công việc có thể bao gồm:

  • Nghiên cứu hồ sơ vụ việc và đánh giá căn cứ khởi tố theo quy định pháp luật hiện hành;

  • Tư vấn quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tương ứng với từng giai đoạn tố tụng;

  • Phân tích những yếu tố cấu thành tội phạm để xác định hướng bào chữa phù hợp với tình tiết thực tế;

  • Tham gia bào chữa ngay từ giai đoạn điều tra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội;

  • Đề xuất và hỗ trợ thu thập chứng cứ chứng minh những tình tiết có lợi, bao gồm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;

  • Đại diện hoặc hỗ trợ gia đình làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Người có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được tư vấn chi tiết về phương án xử lý.

Một số câu hỏi thường gặp về hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng

Đưa ma túy cho bạn bè sử dụng một lần có bị phạt tù không?

Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi thực tế đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Việc hành vi chỉ xảy ra một lần không đồng nghĩa với việc người thực hiện đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Nếu đủ căn cứ xác định hành vi thuộc Điều 255 thì mức hình phạt tại khung cơ bản là từ 03 năm đến 07 năm tù.

Khi quyết định mức hình phạt cụ thể, Tòa án còn xem xét những tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và những tình tiết khác theo quy định của pháp luật.

Người tự sử dụng ma túy cùng với người đưa ma túy có bị xử lý hình sự không?

Người trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc một trong 04 trường hợp được quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, chẳng hạn đang trong thời hạn cai nghiện hoặc đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện.

Nếu không thuộc những trường hợp mà Điều 256a quy định thì người sử dụng trái phép chất ma túy được áp dụng biện pháp quản lý tại cấp xã theo Chương IV Luật Phòng, chống ma túy 2022, không phải là hình phạt hình sự.

Tuy nhiên, trách nhiệm của người đưa ma túy phải được xem xét độc lập. Việc người sử dụng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc người đưa hoặc tổ chức cho người khác sử dụng ma túy đương nhiên không phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 255.

Đưa ma túy cho người dưới 18 tuổi sử dụng bị phạt bao nhiêu năm tù?

Theo khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, trường hợp tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi là tình tiết định khung tăng nặng, với mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Nếu người được tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là người dưới 13 tuổi thì hành vi thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 255, với mức phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.

Việc pháp luật quy định khung hình phạt nghiêm khắc hơn đối với trường hợp liên quan đến người chưa thành niên thể hiện yêu cầu bảo vệ đặc biệt đối với trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật hình sự.

Không biết chất được đưa là ma túy nhưng vẫn đưa cho người khác thì có bị xử lý không?

Đây là vấn đề phải được xem xét dựa trên chứng cứ cụ thể của từng vụ việc, đặc biệt là nhận thức và lỗi của người thực hiện.

Để xác định trách nhiệm hình sự theo Điều 255, cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ người thực hiện có biết về tính chất của chất được giao hay không, có nhận thức được mục đích sử dụng của người nhận hay không và có cố ý tham gia vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không.

Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc người đó đã cầm, giao hoặc chuyển một chất cho người khác để kết luận ngay trách nhiệm hình sự mà phải đánh giá đầy đủ yếu tố lỗi và các tình tiết liên quan.

Người bị điều tra về hành vi đưa ma túy cho người khác có quyền mời luật sư từ khi nào?

Người bị tạm giữ, bị can có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Người bào chữa có thể tham gia từ những thời điểm luật định, trong đó người bị bắt, bị tạm giữ có thể được người bào chữa tham gia theo quy định tại Điều 74.

Việc chủ động mời luật sư ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng có ý nghĩa trong việc bảo đảm các quyền của người bị buộc tội, kiểm tra chứng cứ, hỗ trợ thực hiện quyền tố tụng và xây dựng phương án bảo vệ phù hợp.

Gia đình của bị can, bị cáo cũng có thể chủ động liên hệ luật sư để hỗ trợ người bị tạm giữ hoặc người bị buộc tội thực hiện các quyền theo quy định.

Người giúp sức trong vụ đưa ma túy cho người khác sử dụng chịu trách nhiệm như thế nào?

Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người giúp sức là một trong những loại người đồng phạm. Nếu một người biết rõ mục đích phạm tội nhưng vẫn cố ý chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, phương tiện hoặc thực hiện hành vi khác nhằm tạo điều kiện cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm.

Mức độ trách nhiệm của từng người được xem xét dựa trên vai trò, mức độ đóng góp, ý thức chủ quan và những tình tiết cụ thể của vụ án. Việc chỉ có mặt tại nơi xảy ra vụ việc hoặc có mối quan hệ với người phạm tội không tự động làm phát sinh trách nhiệm đồng phạm.

Đưa ma túy cho người khác sử dụng có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự theo Điều 255 Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt cơ bản từ 03 năm đến 07 năm tù và có thể tăng lên tùy thuộc tình tiết định khung, hậu quả và vai trò của người thực hiện. Để xác định đúng trách nhiệm pháp lý, cần phân biệt hành vi tổ chức sử dụng với mua bán, tàng trữ hoặc các hành vi phạm tội khác về ma túy; đồng thời đánh giá đầy đủ lỗi, vai trò, chứng cứ và tình tiết của từng người trong vụ án. Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Read More

My maps