Phục hồi điều tra vụ án hình sự là thủ tục được đặt ra khi nguyên nhân dẫn đến việc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra không còn và cơ quan tiến hành tố tụng có đủ căn cứ để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định. Đây không phải quá trình xóa bỏ toàn bộ kết quả điều tra trước đó để thực hiện lại từ đầu, mà là sự tiếp nối của hoạt động điều tra sau một khoảng thời gian bị gián đoạn.

Việc xác định đúng điều kiện phục hồi, cơ quan có thẩm quyền, thời hạn điều tra, thủ tục thông báo và quyền của những người tham gia tố tụng có ý nghĩa trực tiếp đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị hại, người tố giác và các đương sự.
Trong trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ kéo dài dù nguyên nhân tạm đình chỉ đã được khắc phục, người có quyền lợi liên quan có thể cung cấp thêm chứng cứ, gửi kiến nghị hoặc thực hiện quyền khiếu nại theo trình tự pháp luật quy định.
Long Phan PMT phân tích cụ thể các vấn đề pháp lý cần lưu ý để cá nhân, tổ chức có cơ sở theo dõi và chủ động bảo vệ quyền lợi trong quá trình phục hồi điều tra

phuc-hoi-dieu-tra-duoc-thuc-hien-khi-can-cu-dinh-chi-hoac-tam-dinh-chi-khong-con-va-co-quan-co-tham-quyen-ra-quyet-dinh-tiep-tuc-dieu-tra-
Phục hồi điều tra được thực hiện khi căn cứ đình chỉ hoặc tạm đình chỉ không còn và cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tiếp tục điều tra.

Bản chất pháp lý và điều kiện để vụ án được phục hồi điều tra

Phục hồi điều tra có thể được hiểu là việc cơ quan tiến hành tố tụng đưa vụ án hoặc hoạt động điều tra đối với một bị can trở lại quá trình giải quyết sau khi trước đó đã có quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ. Việc phục hồi không đồng nghĩa với việc toàn bộ quá trình tố tụng trước đó bị hủy bỏ.

Theo đó, các tài liệu, chứng cứ, biên bản tố tụng, kết luận chuyên môn và những kết quả điều tra được thu thập hợp pháp trước thời điểm đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vẫn tiếp tục là thành phần của hồ sơ vụ án. Cơ quan điều tra chỉ tiếp tục thực hiện những hoạt động cần thiết nhằm làm rõ các vấn đề còn chưa được chứng minh, những tình tiết mới xuất hiện hoặc những nội dung trước đó chưa thể giải quyết do tồn tại trở ngại khách quan.

Về nguyên tắc, việc phục hồi điều tra chỉ được đặt ra khi xuất hiện căn cứ làm mất đi lý do đình chỉ hoặc tạm đình chỉ trước đó. Đồng thời, vụ án phải đáp ứng điều kiện về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ những trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định khác.

Khoản 1 Điều 235 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025 là căn cứ trực tiếp điều chỉnh việc phục hồi điều tra. Theo tinh thần của quy định này, khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ hoặc quyết định tạm đình chỉ và vụ án vẫn chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành quyết định phục hồi điều tra.

Như vậy, việc xuất hiện tình tiết mới chưa mặc nhiên làm cho vụ án được tiếp tục điều tra. Chỉ sau khi cơ quan có thẩm quyền đánh giá tình tiết đó, xác định đủ căn cứ pháp luật và ban hành quyết định phục hồi theo đúng thủ tục thì hoạt động điều tra mới chính thức được tiếp tục.

sau-khi-phuc-hoi-dieu-tra-co-quan-dieu-tra-tiep-tuc-thu-thap-kiem-tra-chung-cu-va-lam-ro-nhung-van-de-con-chua-duoc-giai-quyet-trong-vu-an-

Sau khi phục hồi điều tra, cơ quan điều tra tiếp tục thu thập, kiểm tra chứng cứ  

Những trường hợp có thể làm phát sinh căn cứ phục hồi điều tra

Trên thực tế, nguyên nhân khiến một vụ án phải tạm đình chỉ có thể rất đa dạng. Khi nguyên nhân đó được khắc phục hoặc không còn tồn tại, cơ quan tiến hành tố tụng cần rà soát lại tình trạng của vụ án để xác định có phải phục hồi điều tra hay không.

Một số trường hợp thường gặp có thể làm phát sinh việc xem xét phục hồi gồm:

  • Bị can trước đó bỏ trốn, mất tích hoặc chưa xác định được tung tích nhưng sau đó đã bị bắt, ra đầu thú hoặc cơ quan có thẩm quyền xác định được nơi cư trú, nơi lẩn trốn.

  • Kết luận giám định mà cơ quan điều tra đang chờ đã được ban hành và kết quả đó có ý nghĩa đối với việc xác định hành vi phạm tội, hậu quả hoặc trách nhiệm hình sự.

  • Đã có kết luận định giá tài sản hoặc kết quả định giá bổ sung phục vụ việc xác định giá trị thiệt hại, giá trị tài sản liên quan đến vụ án.

  • Cơ quan tiến hành tố tụng đã nhận được kết quả tương trợ tư pháp mà trước đó chưa thể thu thập.

  • Cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác cung cấp được tài liệu làm chấm dứt trở ngại khiến vụ án phải tạm đình chỉ.

  • Xuất hiện chứng cứ, tài liệu hoặc dữ liệu mới làm thay đổi cơ sở của quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ trước đây.

  • Có căn cứ pháp luật để hủy bỏ quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ và vụ án vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điểm cần lưu ý là chứng cứ mới phải được xem xét trong mối liên hệ với nguyên nhân khiến vụ án bị đình chỉ hoặc tạm đình chỉ. Không phải bất kỳ tài liệu mới nào được giao nộp cũng ngay lập tức dẫn đến việc phục hồi.

Cơ quan điều tra cần xác minh tính hợp pháp, tính liên quan và giá trị chứng minh của tài liệu trước khi xác định liệu căn cứ tạm đình chỉ đã thực sự chấm dứt hay chưa.

Trường hợp bị can yêu cầu tiếp tục điều tra để bảo vệ quyền minh oan

Pháp luật tố tụng hình sự còn thiết lập một cơ chế đặc biệt nhằm bảo đảm quyền của bị can trong trường hợp họ không đồng ý với việc vụ án bị đình chỉ do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc do tội phạm được đại xá.

Theo Khoản 5, Khoản 6 Điều 157 và Khoản 1 Điều 235 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025, nếu vụ án bị đình chỉ vì hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc do tội phạm đã được đại xá nhưng bị can không đồng ý với quyết định đình chỉ và yêu cầu tiếp tục điều tra thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền vẫn có thể ra quyết định phục hồi điều tra.

Quy định này có ý nghĩa quan trọng bởi một người có thể mong muốn quá trình tố tụng được tiếp tục nhằm làm rõ sự thật khách quan và chứng minh rằng mình không thực hiện hành vi phạm tội, thay vì kết thúc vụ án chỉ trên cơ sở thời hiệu hoặc chính sách đại xá.

Do đó, điều kiện về thời hiệu trong việc phục hồi điều tra cần được xem xét cùng với các trường hợp ngoại lệ mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Chủ thể có thẩm quyền quyết định và yêu cầu phục hồi điều tra

Việc phục hồi điều tra không thuộc quyền tự quyết của bị hại, người tố giác, nguyên đơn dân sự hay những người có quyền lợi liên quan. Các chủ thể này có thể cung cấp căn cứ, tài liệu, kiến nghị hoặc khiếu nại, nhưng quyết định tố tụng phải do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành.

Theo Điểm g Khoản 2, Khoản 3 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hoặc phục hồi điều tra đối với bị can trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định và theo sự phân công.

Cơ quan điều tra là cơ quan trực tiếp quản lý hồ sơ điều tra, nắm được lý do tạm đình chỉ cũng như các tài liệu phát sinh trong thời gian vụ án tạm ngừng. Vì vậy, cơ quan này có trách nhiệm thường xuyên rà soát để kịp thời xác định khi nào căn cứ tạm đình chỉ không còn.

Bên cạnh Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Theo Điểm n Khoản 2, Khoản 3 Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Viện trưởng và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền yêu cầu phục hồi điều tra hoặc trực tiếp quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra đối với bị can trong những trường hợp pháp luật quy định.

Cơ chế này thể hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát, qua đó hạn chế tình trạng hồ sơ bị tạm đình chỉ kéo dài mặc dù điều kiện để tiếp tục điều tra đã xuất hiện.

Ngoài ra, Khoản 2 Điều 32 Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định khi lý do tạm đình chỉ không còn thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định phục hồi điều tra.

Như vậy, khi trở ngại dẫn đến việc tạm đình chỉ đã được khắc phục, việc tiếp tục giữ vụ án ở trạng thái tạm ngừng chỉ vì chưa kịp rà soát hồ sơ hoặc vì sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các cơ quan có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng.

Quy trình rà soát và phục hồi điều tra vụ án hình sự

Việc phục hồi điều tra được thực hiện thông qua một chuỗi hoạt động tố tụng có liên quan với nhau. Quá trình này thường bắt đầu từ việc rà soát nguyên nhân tạm đình chỉ, đánh giá tài liệu phát sinh và kết thúc bằng quyết định phục hồi cùng các hoạt động điều tra tiếp theo.

Kiểm tra lại căn cứ dẫn đến việc tạm đình chỉ

Trước hết, Cơ quan điều tra cần xem xét chính xác lý do đã được sử dụng để ra quyết định tạm đình chỉ trước đó.

Tùy từng vụ án, nội dung cần kiểm tra có thể bao gồm hồ sơ truy tìm bị can, tài liệu xác minh nơi cư trú, quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ tương trợ tư pháp hoặc những tài liệu khác có liên quan.

Mục đích của bước này là xác định trở ngại khiến hoạt động điều tra bị gián đoạn còn tồn tại hay đã được khắc phục.

Nếu lý do tạm đình chỉ vẫn còn thì chưa có căn cứ để phục hồi. Ngược lại, nếu điều kiện khách quan đã thay đổi thì cơ quan điều tra phải chuyển sang đánh giá việc tiếp tục giải quyết vụ án.

Đánh giá chứng cứ và thông tin mới

Trong thời gian tạm đình chỉ, vụ án vẫn có thể xuất hiện thêm nhiều nguồn thông tin.

Bị hại có thể xác định được địa chỉ của người bị buộc tội. Cơ quan giám định có thể hoàn tất kết luận. Một cơ quan khác có thể chuyển hồ sơ hoặc dữ liệu có giá trị chứng minh. Người liên quan cũng có thể thu thập được chứng từ, dữ liệu điện tử, tài liệu tài chính hoặc các nguồn chứng cứ khác.

Các tài liệu này phải được cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận, kiểm tra và đánh giá theo quy định.

Nếu nội dung mới chứng minh rằng trở ngại tạm đình chỉ đã không còn thì đây là cơ sở quan trọng để xem xét ban hành quyết định phục hồi.

Ban hành quyết định phục hồi điều tra

Khi đã xác định đầy đủ căn cứ pháp luật, cơ quan có thẩm quyền phải ban hành quyết định phục hồi điều tra.

Khoản 2 Điều 32 Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP xác định rõ rằng khi lý do tạm đình chỉ điều tra không còn, Cơ quan điều tra phải ra quyết định phục hồi điều tra.

Do đó, việc phục hồi không diễn ra bằng thông báo miệng giữa Điều tra viên và người tham gia tố tụng. Đây phải là một quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền và được quản lý trong hồ sơ vụ án.

Thời điểm ban hành quyết định phục hồi đặc biệt quan trọng vì đây còn là căn cứ để xác định thời hạn điều tra tiếp theo.

Thời hạn gửi và thông báo quyết định phục hồi điều tra

Sau khi quyết định phục hồi được ban hành, cơ quan điều tra không chỉ lưu quyết định trong hồ sơ mà còn phải gửi hoặc thông báo cho những chủ thể mà pháp luật quy định.

Theo Khoản 2 Điều 235 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025, trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can.

Trong cùng thời hạn, việc phục hồi điều tra phải được thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

Quy định về thời hạn 02 ngày giúp các chủ thể liên quan sớm biết tình trạng tố tụng của vụ án để thực hiện quyền của mình.

Đối với bị can, việc nhận được thông tin phục hồi giúp họ chuẩn bị thực hiện quyền bào chữa.

Đối với bị hại và đương sự, thông báo là cơ sở để tiếp tục cung cấp chứng cứ, đề nghị giải quyết yêu cầu bồi thường, mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc thực hiện những quyền tố tụng khác.

Do đó, nếu đã biết rằng căn cứ tạm đình chỉ không còn nhưng trong thời gian dài vẫn không nhận được bất kỳ thông tin nào về việc phục hồi, người liên quan có thể chủ động gửi văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra tình trạng giải quyết hồ sơ.

Hoạt động điều tra được thực hiện sau khi vụ án được phục hồi

Sau khi quyết định phục hồi có hiệu lực, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành những hoạt động cần thiết nhằm làm rõ bản chất của vụ án.

Phạm vi công việc không nhất thiết phải lặp lại toàn bộ những hoạt động đã được thực hiện hợp pháp trước đó. Trọng tâm thường tập trung vào các vấn đề còn thiếu chứng cứ, những mâu thuẫn chưa được giải quyết hoặc tình tiết mới phát sinh.

Cơ quan điều tra có thể tiếp tục lấy lời khai của người làm chứng, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đối với bị can, cơ quan có thẩm quyền có thể tiếp tục hỏi cung nhằm làm rõ các nội dung chưa được xác định hoặc những tình tiết mới xuất hiện sau thời gian tạm đình chỉ.

Tùy tính chất vụ án, cơ quan điều tra cũng có thể tổ chức đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra hoặc tiến hành những biện pháp điều tra khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nếu kết luận chuyên môn trước đó chưa đủ cơ sở giải quyết hoặc xuất hiện vấn đề chuyên môn mới, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét trưng cầu giám định bổ sung hoặc thực hiện định giá lại tài sản theo quy định.

Trong quá trình này, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại hoặc đương sự được tham gia tố tụng trong phạm vi quyền mà pháp luật ghi nhận.

Áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn sau phục hồi

Việc vụ án được phục hồi cũng có thể dẫn tới yêu cầu xem xét lại các biện pháp ngăn chặn hoặc biện pháp cưỡng chế đã áp dụng đối với bị can.

Theo Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trong quá trình phục hồi điều tra, Cơ quan điều tra có thể áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế theo điều kiện pháp luật quy định.

Việc lựa chọn biện pháp nào không thể được thực hiện tùy tiện mà phải căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi của bị can, nguy cơ bỏ trốn, nguy cơ cản trở hoạt động điều tra hoặc những điều kiện pháp luật khác.

Trong trường hợp áp dụng tạm giam, thời hạn tạm giam cũng phải được kiểm soát chặt chẽ và không được vượt quá thời hạn phục hồi điều tra tương ứng.

Đây là nội dung mà bị can và người bào chữa cần đặc biệt lưu ý bởi việc kéo dài biện pháp ngăn chặn quá giới hạn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của người bị buộc tội.

Kết quả có thể xảy ra sau quá trình phục hồi điều tra

Phục hồi điều tra không đồng nghĩa với việc vụ án chắc chắn sẽ được chuyển sang truy tố.

Sau khi thực hiện các hoạt động cần thiết, cơ quan điều tra phải đánh giá tổng thể chứng cứ để xác định hướng xử lý phù hợp.

Nếu chứng cứ đủ căn cứ xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, cơ quan điều tra có thể hoàn tất kết luận điều tra và đề nghị truy tố theo quy định.

Nếu xuất hiện căn cứ đình chỉ điều tra, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành quyết định đình chỉ.

Trường hợp một trở ngại mới thuộc căn cứ tạm đình chỉ phát sinh, vụ án có thể tiếp tục được tạm đình chỉ theo đúng điều kiện luật định.

Mỗi hướng giải quyết đều phải được thể hiện thông qua quyết định tố tụng tương ứng chứ không thể chỉ dựa trên thông báo hoặc trao đổi không chính thức.

Thời hạn điều tra sau khi vụ án được phục hồi

Một vấn đề thường gây nhầm lẫn là liệu sau khi phục hồi, thời hạn điều tra có được tính lại toàn bộ như một vụ án mới hay không.

Cách hiểu này không phù hợp với bản chất của phục hồi điều tra.

Pháp luật quy định một khoảng thời gian riêng để cơ quan điều tra tiếp tục hoàn thiện hồ sơ kể từ ngày ra quyết định phục hồi.

Theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn điều tra sau khi phục hồi được xác định theo loại tội phạm.

Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, thời hạn điều tra sau phục hồi không quá 02 tháng.

Đối với tội phạm nghiêm trọng, thời hạn điều tra sau phục hồi không quá 02 tháng.

Đối với tội phạm rất nghiêm trọng, thời hạn điều tra sau phục hồi không quá 03 tháng.

Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn điều tra sau phục hồi không quá 03 tháng.

Khoảng thời gian này được tính từ ngày có quyết định phục hồi điều tra cho đến khi kết thúc điều tra.

Như vậy, quyết định phục hồi không làm phát sinh trở lại toàn bộ thời hạn điều tra ban đầu mà chỉ mở ra giai đoạn điều tra tiếp theo trong giới hạn riêng được pháp luật ấn định.

Thời hạn và điều kiện gia hạn điều tra sau phục hồi

Trong một số vụ án phức tạp, cơ quan điều tra có thể chưa hoàn thành toàn bộ công việc trong thời hạn phục hồi nêu trên. Khi đó, việc gia hạn chỉ được thực hiện nếu đáp ứng đúng trình tự và giới hạn pháp luật.

Theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, văn bản đề nghị gia hạn phải được gửi đến Viện kiểm sát có thẩm quyền chậm nhất 10 ngày trước thời điểm hết hạn điều tra.

Gia hạn trong giai đoạn điều tra sau phục hồi không phải cơ chế được áp dụng tự động.

Cơ quan điều tra phải nêu rõ lý do cần kéo dài thời gian và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét.

Mỗi vụ án chỉ được gia hạn 01 lần trong giai đoạn điều tra sau phục hồi.

Thời gian được gia hạn tối đa được xác định như sau:

  • Tội phạm ít nghiêm trọng: gia hạn 01 lần, thời gian không quá 01 tháng.

  • Tội phạm nghiêm trọng: gia hạn 01 lần, thời gian không quá 02 tháng.

  • Tội phạm rất nghiêm trọng: gia hạn 01 lần, thời gian không quá 02 tháng.

  • Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: gia hạn 01 lần, thời gian không quá 03 tháng.

Việc kiểm tra ngày ban hành quyết định phục hồi, ngày hết hạn điều tra, thời điểm gửi đề nghị gia hạn và nội dung quyết định phê chuẩn gia hạn là rất cần thiết để xác định quá trình tố tụng có được thực hiện đúng thời hạn hay không.

Đối với trường hợp bị can đang bị tạm giam, Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng là căn cứ cần được xem xét khi đánh giá thời hạn tạm giam trong giai đoạn này.

Quyền chủ động cung cấp chứng cứ khi vụ án bị tạm đình chỉ kéo dài

Bị hại, người tố giác hoặc đương sự không có thẩm quyền trực tiếp yêu cầu hệ thống tố tụng lập tức mở lại vụ án theo ý chí của mình. Tuy nhiên, họ có thể chủ động tạo cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét căn cứ phục hồi bằng cách cung cấp tài liệu và chứng cứ mới.

Đối với vụ án đang tạm đình chỉ do chưa tìm được bị can, người bị hại có thể cung cấp địa chỉ, dữ liệu liên lạc, hình ảnh hoặc thông tin khác liên quan đến nơi bị can xuất hiện.

Nếu nguyên nhân tạm đình chỉ liên quan đến kết quả chuyên môn, đương sự có thể cung cấp kết luận giám định, kết quả định giá hoặc tài liệu chứng minh cơ quan chuyên môn đã hoàn thành công việc.

Đối với tranh chấp về thiệt hại, người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự có thể tiếp tục bổ sung hóa đơn, chứng từ, hồ sơ tài sản hoặc tài liệu chứng minh hậu quả của hành vi.

Chứng cứ điện tử, nội dung giao dịch, dữ liệu tài khoản, tài liệu trao đổi, hình ảnh, video hoặc vật chứng khác có liên quan cũng có thể được giao nộp theo trình tự luật định.

Theo Khoản 2 Điều 62, Khoản 2 Điều 63, Khoản 2 Điều 64 và Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu.

Đối với người tố giác, Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ghi nhận quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Khi giao nộp chứng cứ, người cung cấp nên yêu cầu lập biên bản giao nhận hoặc lưu giữ tài liệu xác nhận cơ quan có thẩm quyền đã tiếp nhận hồ sơ. Việc này giúp chứng minh rõ thời điểm tài liệu đã được cung cấp nếu sau đó phát sinh yêu cầu kiến nghị hoặc khiếu nại.

nguoi-tham-gia-to-tung-co-the-cung-cap-chung-cu-gui-kien-nghi-hoac-khieu-nai-khi-co-can-cu-phuc-hoi-nhung-vu-an-van-cham-duoc-tiep-tuc-dieu-tra

Người tham gia tố tụng có thể cung cấp chứng cứ, gửi kiến nghị hoặc khiếu nại khi có căn cứ phục hồi nhưng vụ án vẫn chậm được tiếp tục điều tra.

Cách kiến nghị khi có căn cứ phục hồi nhưng vụ án vẫn chưa được tiếp tục

Trong trường hợp người liên quan nhận thấy nguyên nhân tạm đình chỉ đã chấm dứt nhưng vụ án vẫn chưa được phục hồi, một trong những biện pháp có thể thực hiện là gửi văn bản kiến nghị.

Nội dung kiến nghị nên xác định đầy đủ thông tin về vụ án, cơ quan đang thụ lý, số và ngày của quyết định tạm đình chỉ nếu có.

Người kiến nghị cần trình bày cụ thể nguyên nhân vụ án từng bị tạm đình chỉ và sự kiện nào cho thấy nguyên nhân đó hiện đã không còn.

Các tài liệu chứng minh phải được liệt kê và gửi kèm để cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở kiểm tra.

Đồng thời, văn bản nên đề nghị Cơ quan điều tra xác minh, rà soát hồ sơ và thông báo kết quả giải quyết theo thẩm quyền.

Trong trường hợp đã từng gửi kiến nghị trước đó, người liên quan nên lưu giữ giấy tiếp nhận, phiếu chuyển đơn hoặc tài liệu chứng minh quá trình liên hệ. Đây có thể trở thành căn cứ quan trọng nếu phải chuyển sang thủ tục khiếu nại.

Khiếu nại hành vi chậm phục hồi điều tra

Nếu đã có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng không đúng quy định, người có quyền lợi liên quan có thể sử dụng cơ chế khiếu nại.

Trong trường hợp này, cách gọi chính xác về mặt pháp lý không đơn thuần là “khiếu nại công an không điều tra”, mà cần xác định cụ thể quyết định hoặc hành vi tố tụng đang bị khiếu nại.

Người khiếu nại cần nêu rõ việc Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên chậm rà soát, không ban hành quyết định phục hồi hoặc tiếp tục để vụ án trong trạng thái tạm đình chỉ mặc dù căn cứ dẫn đến tạm đình chỉ đã chấm dứt.

Khiếu nại đối với hành vi của Điều tra viên hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được gửi đến Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Theo Khoản 1 Điều 475 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025, Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải xem xét, giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

Nếu người khiếu nại không đồng ý với kết quả giải quyết lần đầu, họ có thể tiếp tục gửi đơn đến Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền để được xem xét theo trình tự luật định.

Hồ sơ khiếu nại nên có quyết định tạm đình chỉ, tài liệu thể hiện nguyên nhân tạm đình chỉ đã chấm dứt, chứng cứ từng giao nộp và các văn bản kiến nghị đã gửi trước đó.

Việc xác định rõ hành vi bị khiếu nại cùng hệ thống tài liệu chứng minh giúp cơ quan tiếp nhận có cơ sở đánh giá nhanh hơn và hạn chế tình trạng đơn phải chuyển qua nhiều cơ quan vì không xác định được nội dung thuộc thẩm quyền.

Những vấn đề bị can và người bào chữa cần kiểm tra sau phục hồi

Đối với bị can, việc phục hồi đồng nghĩa trạng thái tố tụng của vụ án được tiếp tục và cơ quan điều tra có thể thực hiện thêm các hoạt động điều tra.

Do đó, người bào chữa cần kiểm tra kỹ quyết định phục hồi được ban hành ngày nào, căn cứ phục hồi là gì và người ký quyết định có đúng thẩm quyền hay không.

Thời hạn điều tra cần được tính lại chính xác từ ngày phục hồi theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Nếu có gia hạn, cần kiểm tra văn bản đề nghị gia hạn có được thực hiện trước ít nhất 10 ngày so với thời điểm hết hạn hay không, việc gia hạn thuộc thẩm quyền của cơ quan nào và có vượt quá số lần, thời gian luật cho phép hay không.

Nếu bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, đặc biệt là tạm giam, thời gian áp dụng cũng cần được đối chiếu với Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Ngoài yếu tố thời hạn, người bào chữa cũng cần xem xét tính hợp pháp của chứng cứ được thu thập sau phục hồi, việc hỏi cung, đối chất, nhận dạng hoặc thực nghiệm điều tra và các hoạt động tố tụng khác có bảo đảm quyền của bị can hay không.

Vai trò của Viện kiểm sát khi vụ án chậm được phục hồi

Viện kiểm sát không chỉ nhận quyết định phục hồi để lưu hồ sơ mà còn có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra.

Điểm n Khoản 2, Khoản 3 Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 trao cho Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quyền yêu cầu phục hồi điều tra hoặc trực tiếp ra quyết định phục hồi trong trường hợp luật định.

Do đó, nếu người tham gia tố tụng nhận thấy có căn cứ phục hồi nhưng Cơ quan điều tra không xử lý, việc kiến nghị Viện kiểm sát kiểm tra tình trạng hồ sơ có thể là phương án cần cân nhắc.

Viện kiểm sát có thể xem xét tính hợp pháp của quyết định tạm đình chỉ, xác định căn cứ tạm đình chỉ còn tồn tại hay không và thực hiện thẩm quyền kiểm sát đối với những vi phạm phát sinh.

Cơ chế này góp phần bảo đảm một vụ án không bị kéo dài vô thời hạn chỉ vì thiếu hoạt động rà soát từ cơ quan trực tiếp điều tra.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ giải quyết vụ án bị tạm đình chỉ tại Long Phan PMT

Quá trình xử lý vụ án bị tạm đình chỉ thường không chỉ liên quan đến một quy định riêng lẻ. Người có quyền lợi liên quan phải đồng thời xác định nguyên nhân tạm đình chỉ, điều kiện phục hồi, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hạn điều tra sau phục hồi, chứng cứ mới và cơ chế khiếu nại.

Long Phan PMT hỗ trợ rà soát hồ sơ và xác định phương án xử lý phù hợp với từng tình huống cụ thể.

Các công việc có thể bao gồm:

  • Kiểm tra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ và xác định căn cứ được cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng.

  • Đối chiếu nguyên nhân tạm đình chỉ với các tài liệu, chứng cứ và sự kiện mới phát sinh.

  • Rà soát thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự để xác định điều kiện phục hồi.

  • Phân tích căn cứ tại Khoản 1 Điều 235 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025.

  • Soạn thảo đơn kiến nghị đề nghị Cơ quan điều tra xem xét phục hồi.

  • Xác định đúng cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết kiến nghị.

  • Phân loại và chuẩn hóa các tài liệu như kết luận giám định, kết luận định giá, chứng cứ điện tử, tài liệu giao dịch và thông tin truy tìm bị can.

  • Hỗ trợ giao nộp tài liệu, chứng cứ và đề nghị cơ quan tiếp nhận xác nhận việc giao nhận.

  • Kiểm tra quyết định tiếp tục tạm đình chỉ nếu vụ án chưa được phục hồi.

  • Đánh giá dấu hiệu kéo dài tố tụng không có căn cứ chính đáng.

  • Soạn đơn khiếu nại đối với hành vi chậm giải quyết của người tiến hành tố tụng.

  • Hỗ trợ thực hiện khiếu nại đến Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát theo từng trường hợp.

  • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong quá trình lấy lời khai, đối chất, thực nghiệm điều tra và các hoạt động tố tụng liên quan.

  • Hỗ trợ bị hại xác lập, bổ sung và bảo vệ yêu cầu bồi thường thiệt hại.

  • Tham gia bào chữa cho bị can khi vụ án được phục hồi điều tra.

  • Kiểm tra thời hạn điều tra, thời hạn gia hạn và tính hợp pháp của biện pháp ngăn chặn.

  • Tham gia hỏi cung và thực hiện các quyền của người bào chữa theo quy định.

  • Làm việc, gửi kiến nghị đến Viện kiểm sát để đề nghị thực hiện chức năng kiểm sát đối với quá trình giải quyết vụ án.

  • Theo dõi tình trạng hồ sơ và đề xuất phương án xử lý khi xuất hiện căn cứ tố tụng mới.

Việc có luật sư rà soát hồ sơ ngay từ thời điểm xác định nguyên nhân tạm đình chỉ đã không còn giúp người tham gia tố tụng xác định rõ quyền của mình, chuẩn bị đúng tài liệu và lựa chọn đúng thủ tục pháp lý, thay vì chỉ liên hệ hoặc trao đổi không chính thức với cơ quan tiến hành tố tụng.

Phục hồi điều tra được thực hiện khi có căn cứ hủy bỏ quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ và đáp ứng điều kiện pháp luật về thời hiệu, đồng thời phải tuân thủ đúng thẩm quyền, thời hạn điều tra, thời hạn thông báo và trình tự tố tụng. Người bị hại, người tố giác, đương sự và bị can có thể chủ động bảo vệ quyền lợi thông qua việc cung cấp chứng cứ, kiến nghị, khiếu nại hoặc nhờ luật sư tham gia trong quá trình giải quyết. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn:  Toàn tập căn cứ pháp lý và quy trình phục hồi điều tra vụ án hình sự

Xem thêm: Hướng dẫn chi tiết các bước thủ tục khiếu nại quyết định khởi tố vụ án

Read More

Khi tìm hiểu giải quyết tranh chấp lối đi chung, vấn đề cần được xem xét trước tiên không đơn thuần là ai đã sử dụng lối đi lâu hơn, mà phải xác định chính xác nguồn gốc, tình trạng pháp lý và chủ thể có quyền đối với phần đất đang được sử dụng làm lối đi. Tranh chấp có thể liên quan đến đất thuộc quyền sử dụng chung, quyền đi qua bất động sản liền kề hoặc phần đất do Nhà nước quản lý phục vụ mục đích công cộng. Việc nhận diện đúng bản chất tranh chấp sẽ quyết định phương án thương lượng, hòa giải, khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan hành chính giải quyết. Long Phan PMT phân tích các hướng xử lý và căn cứ pháp lý cần lưu ý để người sử dụng đất lựa chọn giải pháp phù hợp, hạn chế kéo dài tranh chấp.

xac-dinh-nguon-goc-va-tinh-trang-phap-ly-cua-loi-di-la-buoc-dau-khi-giai-quyet-tranh-chap
Xác định nguồn gốc và tình trạng pháp lý của lối đi là bước đầu khi giải quyết tranh chấp giữa các thửa đất liền kề

Xác định đúng bản chất phần đất đang được sử dụng làm lối đi

Một trong những nguyên nhân khiến tranh chấp lối đi kéo dài là các bên thường xuất phát từ hiện trạng sử dụng thực tế mà chưa kiểm tra đầy đủ hồ sơ pháp lý của phần đất. Việc một con đường, ngõ hoặc lối nhỏ đã được nhiều hộ sử dụng trong thời gian dài không đồng nghĩa phần đất đó mặc nhiên trở thành tài sản hoặc quyền sử dụng chung.

Trước khi lựa chọn phương án giải quyết, cần đối chiếu đồng thời Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, bản đồ địa chính, hồ sơ kỹ thuật thửa đất, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, giấy tờ chuyển nhượng và quá trình quản lý, sử dụng thực tế.

Về cơ bản, phần diện tích đang được sử dụng làm lối đi có thể được phân thành ba nhóm pháp lý khác nhau.

Lối đi đã được xác lập là phần đất sử dụng chung

Trường hợp thứ nhất là phần diện tích dành cho lối đi đã được ghi nhận thuộc quyền sử dụng chung của nhiều chủ thể. Khi đó, trọng tâm của vụ việc không phải là yêu cầu một chủ đất khác mở đường qua đất của họ mà là bảo vệ quyền đồng sử dụng đã được xác lập.

Để xác định có tồn tại quyền sử dụng chung hay không, cần rà soát các tài liệu như:

  • Giấy chứng nhận của các thửa đất có thể hiện phần diện tích dùng làm lối đi chung;

  • Bản đồ địa chính, bản trích đo hoặc hồ sơ kỹ thuật thửa đất ghi nhận ngõ, đường hoặc phần đất sử dụng chung;

  • Hợp đồng chuyển nhượng, văn bản tặng cho, văn bản phân chia di sản hoặc thỏa thuận giữa các chủ sử dụng đất có nội dung dành một phần đất làm lối đi;

  • Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận hoặc tài liệu quản lý đất đai thể hiện quyền sử dụng chung của nhiều chủ thể;

  • Biên bản xác định ranh giới, tài liệu đo đạc hoặc hồ sơ hình thành khu đất có thể hiện phần diện tích dành cho việc đi lại.

Khi quyền sử dụng chung đã được chứng minh bằng tài liệu pháp lý, một cá nhân không thể tự ý biến phần đất đó thành khu vực sử dụng riêng bằng việc dựng hàng rào, xây tường, khóa cổng hoặc đặt chướng ngại vật gây cản trở việc đi lại của những người có quyền.

Trong tình huống này, yêu cầu pháp lý phù hợp thường hướng đến việc công nhận và bảo vệ quyền sử dụng chung, buộc chấm dứt hành vi cản trở, tháo dỡ vật cản hoặc khôi phục hiện trạng của lối đi.

Quyền đi qua bất động sản liền kề khi thửa đất bị vây bọc

Một trường hợp khác hoàn toàn với đất sử dụng chung là phần lối đi nằm trên đất thuộc quyền sử dụng riêng của chủ thể khác nhưng bất động sản phía trong bị vây bọc hoặc không có lối đi hợp lý ra đường công cộng.

Trong trường hợp này, chủ bất động sản phía trong không đương nhiên trở thành người đồng sử dụng phần đất của hộ liền kề. Quyền của họ về bản chất là quyền đối với bất động sản liền kề.

Các đặc điểm cần phân biệt gồm:

  • Phần đất dành cho việc đi qua vẫn thuộc quyền của chủ bất động sản chịu hưởng quyền;

  • Người phía trong chỉ được thực hiện quyền đi qua trong phạm vi hợp lý;

  • Việc xác lập lối đi không đồng nghĩa với chuyển quyền sử dụng đất;

  • Vị trí, kích thước và cách sử dụng phải vừa đáp ứng nhu cầu hợp lý của bất động sản bị vây bọc, vừa hạn chế tối đa thiệt hại đối với bất động sản có lối đi chạy qua.

Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề phải tuân thủ Điều 245, Điều 246, Điều 247, Điều 248 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do đó, khi mua một thửa đất phía trong, người nhận chuyển nhượng không nên chỉ dựa vào lời giới thiệu rằng đất “có đường đi chung”. Cần kiểm tra đường đi đó có được ghi nhận trong hồ sơ địa chính, có văn bản thỏa thuận hay chỉ hình thành từ việc chủ đất bên ngoài cho phép đi nhờ.

Lối đi nằm trên phần đất do Nhà nước quản lý

Trường hợp thứ ba là đường, ngõ, hẻm hoặc phần đất có chức năng giao thông thuộc phạm vi Nhà nước quản lý. Đối với loại đất này, việc một cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong thời gian dài không làm phát sinh quyền sử dụng riêng nếu không có căn cứ pháp luật.

Một số tài liệu cần kiểm tra gồm:

  • Bản đồ địa chính có thể hiện mục đích đường giao thông hoặc ngõ công cộng;

  • Hồ sơ quản lý đất đai xác nhận phần diện tích thuộc Nhà nước quản lý;

  • Giấy chứng nhận của các hộ tiếp giáp không bao gồm diện tích đang làm đường;

  • Tài liệu của chính quyền địa phương về quản lý, duy tu hoặc sử dụng công cộng đối với lối đi.

Nếu có hành vi xây dựng, dựng cổng, đặt vật cản hoặc lấn chiếm trên đất công, hướng xử lý cần tập trung vào việc đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và xử lý hành vi vi phạm.

Việc xác định chính xác lối đi thuộc đất chung, đất của hộ liền kề hay đất do Nhà nước quản lý có ý nghĩa quyết định. Mỗi trường hợp dẫn đến một quan hệ pháp luật, một yêu cầu và một cơ chế xử lý khác nhau.

chu-bat-dong-san-bi-vay-boc-co-the-yeu-cau-mo-loi-di-hop-ly-qua-dat-lien-ke-khi-dap-ung-dieu-kien-phap-luat

Chủ bất động sản bị vây bọc có thể yêu cầu mở lối đi hợp lý qua đất liền kề khi đáp ứng điều kiện pháp luật

Điều kiện yêu cầu dành lối đi qua bất động sản liền kề

Không phải mọi trường hợp muốn có một con đường thuận tiện hơn đều có thể yêu cầu chủ đất bên cạnh dành đất làm lối đi.

Theo Khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng có quyền yêu cầu dành cho mình một lối đi hợp lý.

Để xem xét một yêu cầu mở lối đi, cần làm rõ các yếu tố sau:

  • Bất động sản thực tế bị các bất động sản khác bao quanh;

  • Không tồn tại lối đi ra đường công cộng hoặc lối đi hiện hữu không đáp ứng nhu cầu hợp lý;

  • Tuyến đường được đề nghị phải phù hợp với điều kiện thực tế;

  • Phương án lựa chọn cần hạn chế thiệt hại đối với bất động sản chịu hưởng quyền;

  • Chủ bất động sản được hưởng quyền về lối đi thực hiện nghĩa vụ bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Việc có một con đường khác nhưng phải đi xa hơn không phải trong mọi trường hợp đều đồng nghĩa với việc người sử dụng đất có quyền buộc hàng xóm phải mở thêm một con đường mới. Cần đánh giá tổng thể khả năng tiếp cận đường công cộng, đặc điểm thửa đất, mục đích khai thác và tình trạng thực tế.

Pháp luật cũng không quy định một kích thước chung áp dụng cho tất cả các lối đi.

Theo Khoản 2 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015, vị trí và giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên. Trường hợp có tranh chấp thì có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.

Do vậy, quan điểm cho rằng pháp luật bắt buộc lối đi phải rộng một con số cụ thể trong mọi trường hợp là không phù hợp. Kích thước phải được xác định theo điều kiện riêng của từng thửa đất.

Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù.

Quy định này đặc biệt cần được kiểm tra đối với các trường hợp đất có nguồn gốc từ một thửa lớn, sau đó được chia cho các thành viên gia đình, tách thửa hoặc chuyển nhượng thành nhiều phần.

Thương lượng phương án mở lối đi và xác định khoản bồi thường

Trong nhiều vụ việc, thương lượng là phương án giúp giảm thời gian, chi phí và hạn chế xung đột giữa các hộ sử dụng đất liền kề.

Tuy nhiên, thương lượng chỉ có giá trị thực tế lâu dài khi nội dung được xác định cụ thể. Việc chỉ lập giấy nhận tiền với nội dung chung chung như “tiền mua đường” hoặc “tiền lối đi” rất dễ phát sinh tranh chấp sau này.

Cần phân biệt giữa chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất và xác lập quyền đi qua bất động sản liền kề.

Khoản tiền mà người phía trong thanh toán cho chủ đất phía ngoài có thể chỉ là khoản bồi thường cho việc bất động sản phải chịu quyền đi qua. Việc trả khoản tiền này không tự động làm chuyển quyền sử dụng phần diện tích đất cho người thanh toán.

Quá trình thương lượng nên được tiến hành theo từng bước.

Kiểm tra hiện trạng và hồ sơ địa chính

Trước tiên, cần xác định:

  • Ranh giới chính xác của các thửa đất;

  • Phần đất đang được sử dụng làm đường;

  • Hướng tiếp cận gần nhất đến đường công cộng;

  • Hiện trạng công trình trên các thửa đất;

  • Khả năng hình thành nhiều phương án lối đi khác nhau.

Giấy chứng nhận phải được đối chiếu với bản đồ, trích đo và hiện trạng thực tế để tránh trường hợp thỏa thuận dựa trên ranh giới không chính xác.

Lựa chọn tuyến đường phù hợp

Nếu có nhiều tuyến đường có thể lựa chọn, nên ưu tiên phương án vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng của bất động sản phía trong vừa ít ảnh hưởng nhất đến chủ đất phía ngoài.

Ví dụ, cần xem xét tuyến đường có làm chia cắt thửa đất hay không, có ảnh hưởng đến nhà ở, công trình, hoạt động kinh doanh hoặc khả năng khai thác phần đất còn lại hay không.

Xác định rõ phạm vi quyền sử dụng lối đi

Thỏa thuận nên mô tả càng cụ thể càng tốt, gồm:

  • Vị trí;

  • Chiều dài;

  • Chiều rộng;

  • Mốc giới;

  • Phương tiện được sử dụng;

  • Quyền đi bộ hoặc đi xe;

  • Phương án thoát nước;

  • Trách nhiệm sửa chữa;

  • Trách nhiệm bảo trì;

  • Cách xử lý khi cần thay đổi hiện trạng.

Đối với những thỏa thuận có giá trị lớn hoặc sử dụng lâu dài, nên có bản trích đo hoặc sơ đồ kèm theo.

Thỏa thuận nghĩa vụ bồi thường

Khoản bồi thường nên được xác định rõ về số tiền, phương thức thanh toán, thời điểm thanh toán và các chi phí liên quan.

Các bên cũng cần xác định khoản tiền đó là bồi thường cho quyền đi qua hay tiền chuyển nhượng quyền sử dụng một phần diện tích đất. Đây là hai quan hệ pháp lý khác nhau và có hậu quả pháp lý khác nhau.

Lập văn bản và sơ đồ đi kèm

Văn bản thỏa thuận cần có chữ ký của đầy đủ người có quyền đối với các thửa đất liên quan.

Trường hợp đất thuộc quyền sử dụng của nhiều người hoặc là tài sản chung, việc chỉ ký kết với một người có thể không đủ bảo đảm hiệu lực của thỏa thuận.

Sơ đồ nên thể hiện rõ tuyến đường, chiều rộng, chiều dài và mốc giới để khi phát sinh thay đổi về chủ sử dụng đất vẫn có căn cứ xác định phạm vi quyền đã được thỏa thuận.

Đăng ký biến động sau khi các bên đạt được thỏa thuận

Sau khi tranh chấp được giải quyết bằng thương lượng hoặc hòa giải thành, cần tiếp tục kiểm tra xem kết quả đó có làm thay đổi ranh giới, diện tích hoặc thông tin người sử dụng đất hay không.

Nếu có thay đổi, việc đăng ký biến động giúp nội dung đã thống nhất được cập nhật vào hệ thống hồ sơ địa chính.

Các công việc thường cần thực hiện gồm:

  1. Hoàn thiện văn bản thỏa thuận hoặc văn bản công nhận kết quả hòa giải thành;

  2. Chuẩn bị sơ đồ hoặc bản trích đo phần đất liên quan;

  3. Thực hiện đo đạc nếu ranh giới hoặc diện tích thay đổi;

  4. Chuẩn bị giấy tờ về quyền sử dụng đất;

  5. Nộp hồ sơ đăng ký biến động tại cơ quan đăng ký đất đai có thẩm quyền;

  6. Kiểm tra kết quả sau khi hồ sơ địa chính được điều chỉnh.

Theo Khoản 4 Điều 235 Luật Đất đai năm 2024, trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, diện tích, người sử dụng đất thì các bên thực hiện thủ tục theo quy định để đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Việc hoàn tất thủ tục đăng ký có ý nghĩa quan trọng trong trường hợp sau này bất động sản được chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp hoặc phát sinh chủ sử dụng mới.

Hòa giải tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp xã

Nếu các bên không tự thương lượng được và tranh chấp thuộc trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất, việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất là bước pháp lý cần đặc biệt lưu ý.

Người có yêu cầu cần chuẩn bị đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai thay vì sử dụng một đơn trình bày chung chung.

Nội dung đơn nên thể hiện:

  • Thông tin các bên;

  • Vị trí phần đất tranh chấp;

  • Nguồn gốc hình thành lối đi;

  • Quá trình sử dụng;

  • Thời điểm phát sinh mâu thuẫn;

  • Hành vi lấn chiếm, bít đường hoặc cản trở;

  • Yêu cầu cụ thể của người đề nghị hòa giải.

Hồ sơ gửi kèm có thể bao gồm:

  • Giấy chứng nhận;

  • Trích lục bản đồ;

  • Hồ sơ kỹ thuật thửa đất;

  • Hợp đồng chuyển nhượng;

  • Giấy tờ về nguồn gốc đất;

  • Hình ảnh hiện trạng;

  • Video;

  • Biên bản làm việc;

  • Tài liệu thể hiện quá trình sử dụng lối đi.

Quy trình thông thường gồm các bước:

  1. Nộp đơn yêu cầu hòa giải;

  2. Cung cấp tài liệu ban đầu;

  3. Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và xác minh nguồn gốc đất;

  4. Thành lập Hội đồng hòa giải;

  5. Tổ chức cuộc họp với các bên;

  6. Lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải.

Theo Khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai năm 2024, việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai.

Người nộp đơn nên lưu giữ giấy tiếp nhận hoặc tài liệu chứng minh ngày cơ quan nhận đơn. Đây là căn cứ quan trọng khi cần xác định thời hạn giải quyết.

Thành phần hòa giải và ý nghĩa của biên bản hòa giải

Quá trình hòa giải không chỉ nhằm để các bên gặp nhau và trình bày quan điểm. Cơ quan thực hiện hòa giải còn cần xác minh nguyên nhân tranh chấp, thu thập thông tin liên quan đến nguồn gốc và quá trình sử dụng đất.

Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 1 Điều 105 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định việc xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu liên quan và thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai.

Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời người đại diện cộng đồng dân cư quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Đất đai; người có uy tín trong dòng họ ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ việc, công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã; đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã; cá nhân, tổ chức khác có liên quan tham gia Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai.

Kết quả hòa giải cần được ghi nhận đầy đủ bằng văn bản.

Biên bản nên thể hiện rõ:

  • Danh tính và thông tin của các bên;

  • Đặc điểm phần đất đang tranh chấp;

  • Nguồn gốc và quá trình hình thành lối đi;

  • Ý kiến của từng bên;

  • Chứng cứ đã cung cấp;

  • Nội dung đã thống nhất;

  • Vị trí và kích thước lối đi nếu có thỏa thuận;

  • Mức bồi thường nếu có;

  • Chữ ký của những người tham gia.

Trường hợp hòa giải không thành, biên bản là một trong những tài liệu quan trọng để tiếp tục thực hiện phương án giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền.

Thẩm quyền giải quyết khi tranh chấp không thể hòa giải

Sau khi xác định hòa giải không thành, việc lựa chọn đúng cơ quan có thẩm quyền rất quan trọng. Thẩm quyền được xác định trên cơ sở tình trạng pháp lý của đất và chủ thể đang tranh chấp.

Trường hợp đất đã có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ hợp lệ

Theo Khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai năm 2024, tranh chấp đất đai mà các bên hoặc một trong các bên có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ theo quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tòa án có thể xem xét các yêu cầu như:

  • Công nhận quyền sử dụng chung đối với lối đi;

  • Buộc chấm dứt việc cản trở quyền sử dụng hợp pháp;

  • Buộc tháo dỡ tường, hàng rào hoặc công trình;

  • Khôi phục tình trạng lối đi;

  • Xác định quyền đi qua bất động sản liền kề;

  • Xác định vị trí và giới hạn của quyền đi qua;

  • Xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại khi có căn cứ.

Cơ quan giải quyết sơ thẩm là Tòa án nhân dân khu vực theo Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Đối với tranh chấp liên quan đến bất động sản, việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ cũng cần căn cứ vị trí của bất động sản đang có tranh chấp.

Cần lưu ý rằng người đứng tên trên Giấy chứng nhận không mặc nhiên được xem là chắc chắn có lợi thế tuyệt đối trong mọi tranh chấp. Tòa án còn xem xét nguồn gốc đất, tài liệu địa chính, quá trình sử dụng, các giao dịch trước đây và quyền đối với bất động sản liền kề.

Trường hợp chưa có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ hợp lệ

Đối với đất chưa có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ hợp lệ, Điểm b Khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai năm 2024 cho phép người có tranh chấp lựa chọn phương thức giải quyết theo quy định.

Trong cơ chế hành chính:

  • Tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã theo Điểm g Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP;

  • Trường hợp có một bên là tổ chức hoặc người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Việc phân cấp này gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp áp dụng từ ngày 01/7/2025.

Theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP, việc phân định thẩm quyền được thực hiện theo thời hạn quy định đến trước ngày 01/3/2027.

Khi lựa chọn giữa con đường Tòa án và giải quyết hành chính, cần cân nhắc yêu cầu thực tế của vụ việc. Nếu ngoài quyền sử dụng đất còn phát sinh yêu cầu bồi thường, tháo dỡ công trình hoặc các quan hệ dân sự phức tạp, cần đánh giá khả năng xử lý đồng thời các yêu cầu trước khi quyết định.


thuong-luong-hoa-giai-va-khoi-kien-la-nhung-phuong-an-xu-ly-tranh-chap-loi-di-tuy-theo-ho-so-va-tinh-trang-thuc-te

Thương lượng, hòa giải và khởi kiện là những phương án xử lý tranh chấp lối đi tùy theo hồ sơ và tình trạng thực tế.

Những chứng cứ cần chuẩn bị để bảo vệ quyền đối với lối đi

Một hồ sơ tranh chấp lối đi không nên chỉ dựa vào lời trình bày của các bên.

Chứng cứ cần được xây dựng thành nhiều nhóm để chứng minh đồng thời nguồn gốc đất, quyền sử dụng và hành vi xâm phạm.

Việc thu thập, giao nộp và đánh giá chứng cứ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về chứng cứ và nguồn chứng cứ.

Nhóm tài liệu xác định nguồn gốc lối đi

Đây là nhóm chứng cứ quan trọng hàng đầu, bao gồm:

  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

  • Bản đồ địa chính;

  • Trích lục bản đồ;

  • Bản trích đo hiện trạng;

  • Hồ sơ kỹ thuật thửa đất;

  • Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận;

  • Sổ mục kê;

  • Tài liệu đăng ký đất đai;

  • Biên bản xác định ranh giới;

  • Hợp đồng chuyển nhượng;

  • Văn bản tặng cho;

  • Văn bản phân chia di sản;

  • Thỏa thuận dành đất làm lối đi.

Những tài liệu này giúp xác định phần đất đang tranh chấp là đất chung, đất riêng của hộ liền kề hay phần diện tích do Nhà nước quản lý.

Chứng cứ về quá trình sử dụng

Có thể thu thập:

  • Hình ảnh cũ;

  • Video;

  • Tài liệu xây dựng;

  • Xác nhận của người biết rõ sự việc;

  • Biên bản họp khu dân cư;

  • Các văn bản giao dịch có nhắc đến đường đi;

  • Tài liệu thể hiện việc lối đi được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định.

Tuy nhiên, thời gian sử dụng dài chỉ là một yếu tố thực tế cần được đánh giá cùng các tài liệu khác. Không nên mặc nhiên xem việc đi lại nhiều năm là căn cứ duy nhất chứng minh quyền sử dụng chung.

Chứng cứ về việc lấn chiếm hoặc cản trở

Nếu lối đi bị chặn, thu hẹp hoặc chiếm dụng, cần ghi nhận hiện trạng càng sớm càng tốt bằng:

  • Hình ảnh;

  • Video;

  • Vi bằng của Thừa phát lại;

  • Biên bản của chính quyền địa phương;

  • Đơn kiến nghị;

  • Đơn yêu cầu hòa giải;

  • Tin nhắn;

  • Thư điện tử;

  • Văn bản trao đổi giữa các bên.

Vi bằng có thể giúp ghi nhận sự kiện, hành vi và hiện trạng tại một thời điểm cụ thể nhưng không thay thế giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất. Vì vậy, chứng cứ hiện trạng cần được sử dụng kết hợp với tài liệu địa chính.

Chứng cứ về thiệt hại

Trường hợp yêu cầu bồi thường, cần chuẩn bị tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế và mối liên hệ giữa thiệt hại với hành vi cản trở lối đi.

Có thể bao gồm:

  • Hóa đơn;

  • Chứng từ;

  • Chi phí phát sinh;

  • Tài liệu về việc không thể vận chuyển hàng hóa;

  • Tài liệu chứng minh việc thi công bị gián đoạn;

  • Chứng cứ về khả năng khai thác bất động sản bị ảnh hưởng.

Trình tự khởi kiện tranh chấp lối đi tại Tòa án

Khi vụ việc thuộc thẩm quyền Tòa án và không thể giải quyết bằng thương lượng, người có quyền lợi bị xâm phạm có thể xem xét khởi kiện.

Quá trình cơ bản có thể gồm:

  1. Chuẩn bị và nộp đơn khởi kiện;

  2. Gửi kèm biên bản hòa giải và tài liệu đất đai;

  3. Tòa án xem xét việc thụ lý;

  4. Thực hiện nghĩa vụ về tạm ứng án phí nếu thuộc trường hợp phải nộp;

  5. Các bên giao nộp và tiếp cận chứng cứ;

  6. Tòa án xác minh, xem xét hiện trạng hoặc đo đạc khi cần;

  7. Tiến hành hòa giải trong quá trình tố tụng;

  8. Xét xử sơ thẩm;

  9. Thực hiện quyền kháng cáo nếu có căn cứ;

  10. Yêu cầu thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực.

Đơn khởi kiện cần xác định cụ thể yêu cầu. Không nên chỉ ghi chung chung là “yêu cầu trả lại lối đi”.

Tùy trường hợp, yêu cầu có thể hướng đến việc:

  • Công nhận lối đi thuộc quyền sử dụng chung;

  • Công nhận quyền đi qua bất động sản liền kề;

  • Buộc chấm dứt hành vi cản trở;

  • Buộc tháo dỡ công trình;

  • Khôi phục hiện trạng;

  • Xác định vị trí và kích thước lối đi;

  • Bồi thường thiệt hại.

Đối với yêu cầu bảo vệ quyền khác đối với tài sản, pháp luật không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Dù vậy, việc để tranh chấp kéo dài vẫn có thể gây bất lợi do hiện trạng thay đổi, người làm chứng không còn hoặc tài liệu bị thất lạc.

Thi hành bản án sau khi Tòa án giải quyết

Một bản án công nhận quyền đi lại chỉ thực sự có ý nghĩa khi được thi hành trên thực tế.

Nếu người phải thi hành án tiếp tục dựng vật cản hoặc không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, người được thi hành án cần thực hiện thủ tục theo pháp luật thi hành án dân sự.

Luật Thi hành án dân sự năm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và được áp dụng đối với việc chưa thi hành xong theo Khoản 1 Điều 115, Khoản 3 Điều 116 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

Người được thi hành án nên lưu giữ bản án, quyết định, tài liệu xác định ranh giới lối đi và các chứng cứ về việc bên còn lại không tự nguyện thực hiện để kịp thời yêu cầu cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp phù hợp.

Định hướng xử lý để hạn chế tranh chấp kéo dài

Để nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi và hạn chế việc phải thực hiện nhiều thủ tục liên tiếp, người sử dụng đất nên triển khai đồng thời nhiều công việc ngay từ giai đoạn đầu.

Trước hết, cần kiểm tra toàn bộ hồ sơ thay vì chỉ nhìn vào hiện trạng đường đi.

Giấy chứng nhận, bản đồ địa chính, hồ sơ cấp đất, hợp đồng chuyển nhượng và bản trích đo cần được đặt cạnh nhau để xác định phần đường thực tế nằm ở đâu và thuộc quyền quản lý của ai.

Tiếp theo, cần xác định đúng quan hệ pháp luật.

Nếu là đất sử dụng chung, mục tiêu là bảo vệ quyền chung.

Nếu bất động sản bị vây bọc, cần xem xét quyền đi qua bất động sản liền kề theo Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nếu là đất công, hướng xử lý cần gắn với trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước.

Trong trường hợp các bên còn khả năng thương lượng, nên ưu tiên thỏa thuận bằng văn bản, đồng thời lập sơ đồ trích đo.

Mọi nội dung liên quan đến vị trí đường, kích thước, phương tiện, chi phí, bảo trì và thoát nước nên được ghi nhận rõ ràng.

Nếu xuất hiện hành vi xây tường, dựng cổng, đặt vật cản hoặc thu hẹp lối đi, cần ghi nhận chứng cứ ngay.

Khi thương lượng không thành, cần thực hiện đúng thủ tục hòa giải và lựa chọn cơ quan giải quyết phù hợp với tình trạng pháp lý của đất.

Sau khi có kết quả giải quyết, cần tiếp tục hoàn thành việc đăng ký biến động hoặc thi hành án, thi hành quyết định để quyền được ghi nhận trên giấy trở thành quyền có thể thực hiện trên thực tế.

Dịch vụ hỗ trợ giải quyết tranh chấp lối đi tại Long Phan PMT

Tranh chấp liên quan đến lối đi có thể đồng thời liên quan đến pháp luật đất đai, quyền đối với bất động sản liền kề, thủ tục hành chính và tố tụng dân sự. Việc đánh giá hồ sơ ngay từ đầu giúp hạn chế tình trạng xác định sai yêu cầu hoặc lựa chọn sai cơ quan.

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các công việc:

  • Kiểm tra Giấy chứng nhận và hồ sơ địa chính;

  • Phân tích nguồn gốc phần đất làm lối đi;

  • Xác định đây là đất chung, đất liền kề hoặc đất do Nhà nước quản lý;

  • Đánh giá điều kiện yêu cầu mở lối đi;

  • Tư vấn phương án thương lượng;

  • Xác định nguyên tắc bồi thường khi xác lập quyền đi qua;

  • Soạn thảo văn bản thỏa thuận;

  • Hỗ trợ xây dựng nội dung sơ đồ, trích đo;

  • Soạn đơn yêu cầu hòa giải;

  • Chuẩn bị hồ sơ và chứng cứ;

  • Hỗ trợ thu thập hồ sơ địa chính;

  • Tư vấn việc lập vi bằng;

  • Xác định cơ quan có thẩm quyền;

  • Soạn đơn khởi kiện;

  • Xây dựng yêu cầu khởi kiện;

  • Đại diện tham gia tố tụng;

  • Hỗ trợ thủ tục đăng ký biến động;

  • Tư vấn yêu cầu thi hành án hoặc thi hành quyết định giải quyết tranh chấp.

Giải quyết tranh chấp lối đi chung cần bắt đầu bằng việc xác định chính xác nguồn gốc và tình trạng pháp lý của phần đất, sau đó mới lựa chọn thương lượng, hòa giải, khởi kiện hoặc cơ chế hành chính phù hợp. Hồ sơ địa chính, bản trích đo, chứng cứ về quá trình sử dụng và hành vi cản trở là những tài liệu quan trọng để bảo vệ quyền lợi. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: https://luatlongphan.vn/giai-quyet-tranh-chap-loi-di-chung 

>>> Xem thêm: Cách yêu cầu xác lập quyền lối đi qua thửa đất liền kề mới nhất

Read More

My maps