Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, quy chuẩn kỹ thuật môi trường gắn với một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với việc xác định hậu quả của hành vi phạm tội, căn cứ khởi tố, định tội, định khung hình phạt và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Kết quả giám định pháp y về thương tích không đơn thuần phản ánh tình trạng sức khỏe mà còn là nguồn chứng cứ được sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, người bị hại, người bị tố giác, bị can và những người tham gia tố tụng cần hiểu rõ quyền đề nghị trưng cầu, quyền tự yêu cầu giám định, thành phần hồ sơ, phương pháp tính tỷ lệ tổn thương cơ thể cũng như thủ tục giám định bổ sung hoặc giám định lại. Long Phan PMT phân tích chi tiết các giám định phần trăm thương tich nhằm giúp Quý khách hàng chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong từng giai đoạn tố tụng hình sự.
Giám định thương tích làm căn cứ xử lý hình sự và bồi thường
Giá trị của kết quả giám định tỷ lệ thương tích đối với vụ án hình sự
Trong một vụ án có hành vi xâm phạm sức khỏe, kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể có thể tác động trực tiếp đến hướng xử lý của cơ quan tiến hành tố tụng. Đây là tài liệu chuyên môn được lập bởi người có chuyên môn giám định, nhằm đưa ra kết luận đối với những vấn đề mà cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người có quyền yêu cầu giám định đặt ra.
Thông qua kết luận giám định, cơ quan có thẩm quyền có thể xác định rõ hơn mức độ thiệt hại về sức khỏe, đặc điểm của thương tích và hậu quả thực tế mà hành vi gây ra. Những thông tin này đặc biệt có giá trị trong các vụ việc liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Trước hết, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể có thể được sử dụng để xem xét dấu hiệu cấu thành tội phạm. Trong nhiều trường hợp, mức độ tổn thương của người bị hại là một trong những dữ kiện có ảnh hưởng đến việc cơ quan tiến hành tố tụng xác định có hay không căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, việc đánh giá trách nhiệm hình sự không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ thương tích mà còn phải được xem xét đồng thời với công cụ, phương tiện, tính chất hành vi và những tình tiết khác của vụ việc.
Bên cạnh đó, kết luận giám định còn có ý nghĩa đối với việc xác định khung hình phạt. Cùng một hành vi gây thương tích nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể khác nhau hoặc đi kèm các tình tiết khác nhau có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý không giống nhau. Vì vậy, tính chính xác của kết quả giám định có thể ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Ở góc độ dân sự trong vụ án hình sự, kết luận giám định là một trong những tài liệu hỗ trợ xác định mức độ thiệt hại về sức khỏe. Căn cứ vào tình trạng thương tích, quá trình điều trị và hậu quả sức khỏe, người bị hại có thể yêu cầu xem xét các khoản chi phí điều trị, phục hồi sức khỏe, chi phí chăm sóc, khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, tổn thất tinh thần và những thiệt hại khác nếu có căn cứ.
Kết quả giám định đồng thời giúp bảo đảm quyền của cả người bị hại và người bị buộc tội. Người bị hại có cơ sở chuyên môn để chứng minh hậu quả mà mình phải chịu. Ngược lại, người bị tố giác, bị can hoặc người bào chữa có thể sử dụng hồ sơ chuyên môn để kiểm tra tính phù hợp giữa thương tích, tài liệu y tế và nội dung buộc tội.
Theo Điểm d Khoản 1 Điều 87 và Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, kết luận giám định là nguồn chứng cứ được sử dụng trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án.
Ngoài ra, theo Khoản 3 và Khoản 4 Điều 35 Luật Giám định tư pháp 2025, kết luận giám định tư pháp được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và sử dụng trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án.
Điều này cho thấy giấy chứng nhận thương tích, bệnh án, giấy ra viện hay kết quả chụp chiếu tại cơ sở y tế có giá trị cung cấp thông tin về tình trạng điều trị nhưng không thể mặc nhiên thay thế kết luận giám định pháp y trong trường hợp pháp luật yêu cầu phải thực hiện giám định.
Do đó, việc chỉ thu thập hồ sơ điều trị mà không thực hiện đúng thủ tục giám định có thể khiến cơ quan tiến hành tố tụng thiếu căn cứ chuyên môn để đánh giá đầy đủ hậu quả của hành vi, từ đó ảnh hưởng đến quá trình khởi tố, định tội, định khung hình phạt và giải quyết yêu cầu bồi thường.
Trường hợp phải trưng cầu và quyền yêu cầu giám định thương tích
Trong tố tụng hình sự, người bị thương không phải trong mọi trường hợp đều có thể trực tiếp mang hồ sơ đến tổ chức pháp y để yêu cầu giám định ngay từ đầu. Pháp luật thiết lập cơ chế trưng cầu giám định thông qua cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đồng thời dành cho đương sự cơ chế tự mình yêu cầu giám định khi đáp ứng điều kiện nhất định.
Theo Khoản 4 Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định khi cần xác định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động.
Quy định này có ý nghĩa bảo đảm việc đánh giá thương tích được thực hiện bởi chủ thể có chuyên môn thay vì dựa trên nhận định chủ quan hoặc chỉ dựa vào lời khai của các bên. Khi hậu quả sức khỏe có khả năng ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện thủ tục trưng cầu theo quy định.
Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đương sự, người đại diện, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định.
Như vậy, quyền đề nghị giám định không chỉ thuộc về người bị hại. Trong trường hợp kết quả giám định có khả năng ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của mình, người bị tố giác, bị can hoặc người bào chữa cũng có quyền đưa ra đề nghị để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét.
Trong thực tiễn, nếu nhận thấy việc xác định tỷ lệ thương tích có ý nghĩa đối với quá trình giải quyết vụ án nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành quyết định trưng cầu, người có quyền lợi liên quan nên thực hiện đề nghị bằng văn bản. Văn bản cần trình bày rõ sự việc, nội dung cần giám định và kèm theo các tài liệu y tế hiện có để cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xem xét.
Đối với quyền tự mình yêu cầu giám định, đây không phải là cơ chế được sử dụng tùy ý ngay từ đầu.
Theo Khoản 3 Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đương sự hoặc người đại diện của họ chỉ được tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định nhưng đề nghị đó không được chấp nhận.
Đồng thời, Khoản 3 Điều 3 Luật Giám định tư pháp 2025 cũng xác định người yêu cầu giám định tư pháp là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đề nghị trưng cầu giám định không được chấp nhận.
Do đó, trình tự xử lý phù hợp thông thường sẽ là người có quyền trước tiên đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định. Nếu đề nghị không được chấp nhận và người đó thuộc trường hợp pháp luật cho phép, họ mới có cơ sở thực hiện quyền tự yêu cầu tổ chức giám định tư pháp.
Cần lưu ý rằng việc có quyền yêu cầu không đồng nghĩa tổ chức giám định phải tiếp nhận tất cả hồ sơ trong mọi trường hợp.
Theo Khoản 1 Điều 38 Luật Giám định tư pháp 2025, tổ chức giám định có quyền từ chối thực hiện nếu nội dung yêu cầu không thuộc phạm vi chuyên môn, tài liệu không đủ cơ sở phục vụ việc kết luận, điều kiện thiết bị không đáp ứng hoặc việc tiếp nhận không bảo đảm tính độc lập, khách quan theo quy định.
Vì vậy, trước khi gửi hồ sơ, người yêu cầu nên kiểm tra kỹ tư cách của mình, nội dung cần giám định và toàn bộ tài liệu y tế liên quan. Hồ sơ càng rõ ràng, đầy đủ và được sắp xếp theo đúng mục đích giám định thì nguy cơ bị yêu cầu bổ sung hoặc từ chối tiếp nhận càng được hạn chế.
Hồ sơ đề nghị trưng cầu hoặc yêu cầu giám định thương tích
Hồ sơ giám định thương tích không nên chỉ bao gồm một giấy chứng nhận thương tích hoặc giấy ra viện. Để tổ chức giám định có thể đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe, hồ sơ cần thể hiện được quá trình phát sinh thương tích, quá trình khám chữa bệnh, kết quả cận lâm sàng và các tài liệu có liên quan đến diễn biến vụ việc.
Việc phân biệt giữa hồ sơ đề nghị trưng cầu và hồ sơ tự yêu cầu giám định cũng rất cần thiết.
Nếu gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang giải quyết vụ án, người tham gia tố tụng sử dụng đơn đề nghị trưng cầu giám định. Ngược lại, khi đã đáp ứng điều kiện tự mình yêu cầu giám định và gửi trực tiếp đến tổ chức giám định tư pháp, người yêu cầu cần lập văn bản yêu cầu giám định phù hợp.
Theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 26 và Khoản 1 Điều 29 Luật Giám định tư pháp 2025, hồ sơ trưng cầu bao gồm quyết định trưng cầu cùng các thông tin, tài liệu, đồ vật liên quan và đối tượng cần giám định nếu có.
Đối với trường hợp cá nhân tự yêu cầu giám định, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 27 Luật Giám định tư pháp 2025 quy định người yêu cầu phải gửi văn bản yêu cầu giám định, hồ sơ yêu cầu và giấy tờ chứng minh tư cách của mình.
Tùy diễn biến từng vụ việc, nhóm tài liệu nên được chuẩn bị có thể bao gồm:
Đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền trưng cầu giám định hoặc văn bản yêu cầu tổ chức giám định thực hiện giám định, trong đó nêu cụ thể vấn đề cần được kết luận.
Giấy chứng nhận thương tích do cơ sở khám chữa bệnh cấp.
Hồ sơ bệnh án liên quan đến quá trình cấp cứu, điều trị nội trú hoặc ngoại trú.
Giấy ra viện, đơn thuốc, toa thuốc và các chỉ định chuyên môn có liên quan.
Kết quả X-quang, CT, MRI, siêu âm hoặc tài liệu cận lâm sàng khác thể hiện đặc điểm của tổn thương.
Ảnh chụp thương tích được ghi nhận tại thời điểm xảy ra vụ việc hoặc trong quá trình điều trị.
Dữ liệu camera, hình ảnh, video hoặc các tài liệu phản ánh diễn biến hành vi gây thương tích.
Lời khai nhân chứng hoặc tài liệu liên quan đến nguồn gốc hình thành thương tích.
Biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tài liệu tố tụng có liên quan.
Chứng từ chứng minh chi phí khám bệnh, chữa bệnh, thuốc men và phục hồi sức khỏe.
Tài liệu chứng minh khoản thu nhập bị mất hoặc giảm sút trong thời gian điều trị.
Tài liệu liên quan đến người trực tiếp chăm sóc trong trường hợp người bị hại cần người chăm sóc.
Những chứng cứ thể hiện ảnh hưởng của thương tích đối với khả năng lao động hoặc sinh hoạt của người bị hại.
Việc chuẩn bị đầy đủ tài liệu không chỉ hỗ trợ tổ chức giám định mà còn góp phần hạn chế tình trạng phải bổ sung hồ sơ nhiều lần. Nếu hồ sơ thiếu phim chụp, bệnh án hoặc tài liệu thể hiện diễn biến điều trị, tổ chức giám định có thể gặp khó khăn trong việc đánh giá chính xác từng tổn thương.
Đặc biệt, người có yêu cầu cần kiểm tra sự thống nhất giữa các loại giấy tờ. Trường hợp bệnh án ghi nhận một vị trí tổn thương nhưng giấy chứng nhận thương tích hoặc phim chụp thể hiện thông tin khác, sự không thống nhất này cần được rà soát ngay trước khi đưa vào hồ sơ giám định.
Trình tự thực hiện giám định và thời hạn ban hành kết luận
Việc giám định tỷ lệ thương tích trong vụ án hình sự phải được tiến hành theo đúng trình tự tố tụng. Nếu thực hiện không đúng chủ thể, sai loại văn bản hoặc hồ sơ chưa đáp ứng yêu cầu, thời gian giải quyết có thể bị kéo dài.
Thông thường, quá trình thực hiện được triển khai qua các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị và nộp đề nghị trưng cầu giám định
Người bị hại, người bị tố giác, bị can, người bào chữa hoặc chủ thể có quyền theo quy định chuẩn bị văn bản đề nghị và gửi đến cơ quan đang có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Nội dung đề nghị nên xác định rõ vấn đề cần giám định, chẳng hạn tỷ lệ tổn thương cơ thể, tính chất của thương tích hoặc những vấn đề chuyên môn có liên quan.
Bước 2: Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét đề nghị
Sau khi tiếp nhận, cơ quan có thẩm quyền đánh giá sự cần thiết của việc giám định dựa trên tài liệu của vụ án và quy định pháp luật.
Nếu thuộc trường hợp cần phải trưng cầu giám định để xác định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành quyết định trưng cầu.
Bước 3: Chuyển quyết định trưng cầu, hồ sơ và đối tượng giám định
Theo Khoản 3 Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan trưng cầu phải gửi quyết định trưng cầu, hồ sơ và đối tượng trưng cầu trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
Việc chuyển giao kịp thời giúp tổ chức giám định sớm tiếp nhận tài liệu và triển khai các hoạt động chuyên môn cần thiết.
Bước 4: Tổ chức giám định xem xét việc tiếp nhận
Theo Khoản 3 Điều 28 Luật Giám định tư pháp 2025, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được trưng cầu hoặc yêu cầu giám định, tổ chức giám định phải thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận hoặc từ chối thực hiện.
Nếu từ chối, việc từ chối phải được thực hiện theo căn cứ pháp luật. Do đó, người gửi hồ sơ cần kiểm tra kỹ nội dung thông báo để xác định liệu cần bổ sung tài liệu, điều chỉnh nội dung yêu cầu hay lựa chọn hướng xử lý khác.
Bước 5: Thực hiện hoạt động giám định
Sau khi hồ sơ được tiếp nhận, giám định viên nghiên cứu tài liệu y tế, kiểm tra kết quả cận lâm sàng, đối chiếu diễn biến điều trị và thực hiện việc khám trực tiếp đối với người cần giám định khi thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu.
Quá trình này nhằm nhận diện từng tổn thương, xác định mức độ ảnh hưởng và lựa chọn tỷ lệ phù hợp trong bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Bước 6: Ban hành kết luận giám định
Theo Điểm c Khoản 1 Điều 208 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn giám định tối đa đối với trường hợp bắt buộc trưng cầu nhằm xác định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động là 09 ngày.
Tuy nhiên, cần hiểu đúng thời điểm bắt đầu tính thời hạn.
Theo Khoản 3 Điều 30 Luật Giám định tư pháp 2025, thời hạn giám định được tính kể từ ngày người giám định hoặc tổ chức giám định nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Như vậy, việc một cá nhân nộp đơn đề nghị trưng cầu không đồng nghĩa thời hạn 09 ngày lập tức bắt đầu. Trước đó còn có quá trình cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, ban hành quyết định, chuyển hồ sơ và tổ chức giám định kiểm tra tính đầy đủ của tài liệu.
Trong trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp hoặc cần thực hiện hội chẩn, Khoản 5 Điều 30 Luật Giám định tư pháp 2025 cho phép thời gian thực hiện có thể được gia hạn nhưng không quá một phần hai thời hạn giám định tối đa.
Do đó, người tham gia tố tụng nên theo dõi không chỉ ngày nộp đơn mà còn cần xác định thời điểm cơ quan giám định thực tế nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đây mới là mốc có ý nghĩa khi đánh giá tiến độ thực hiện giám định theo quy định.
Cách xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể
Một điểm dễ gây nhầm lẫn là tỷ lệ tổn thương cơ thể không được xác định bằng cách cộng trực tiếp tất cả tỷ lệ của từng vết thương.
Trong hoạt động giám định pháp y, giám định viên phải xác định từng loại tổn thương, đối chiếu với bảng tỷ lệ được pháp luật quy định và áp dụng phương pháp cộng lùi để xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Việc giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể về nguyên tắc phải thực hiện trực tiếp trên người cần giám định.
Theo Điều 2 Thông tư số 22/2019/TT-BYT, chỉ thực hiện giám định trên hồ sơ trong trường hợp người cần giám định đã chết, mất tích hoặc thuộc trường hợp đặc biệt khác theo quy định.
Như vậy, hồ sơ bệnh án, phim chụp, giấy chứng nhận thương tích hay giấy ra viện mặc dù có giá trị chuyên môn nhưng thông thường chỉ đóng vai trò tài liệu để giám định viên đối chiếu. Các tài liệu này không mặc nhiên thay thế hoạt động khám giám định trực tiếp khi pháp luật yêu cầu.
Công thức xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể được thực hiện theo nguyên tắc:
Tổng tỷ lệ % TTCT = T1 + T2 + T3 + … + Tn
Trong công thức trên:
T1 là tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của tổn thương thứ nhất và được xác định theo khung tỷ lệ tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
T2 được xác định theo công thức: T2 = (100 – T1) x tỷ lệ % TTCT thứ 2/100.
T3 được xác định theo công thức: T3 = (100 – T1 – T2) x tỷ lệ % TTCT thứ 3/100.
Tn được xác định theo công thức: Tn = {100 – T1 – T2 – T3 – … – T(n-1)} x tỷ lệ % TTCT thứ n/100.
Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 22/2019/TT-BYT, kết quả cuối cùng là tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sau khi được làm tròn số và tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của một người phải nhỏ hơn 100%.
Đây chính là điểm tạo nên sự khác biệt giữa phương pháp cộng lùi và việc cộng số học thông thường.
Ví dụ, khi một người có nhiều tổn thương ở các bộ phận khác nhau trên cơ thể, tỷ lệ của tổn thương thứ hai không được cộng nguyên vẹn vào tỷ lệ thứ nhất. Tổn thương tiếp theo sẽ được tính dựa trên phần tỷ lệ sức khỏe còn lại sau khi đã xác định tổn thương trước.
Vì vậy, việc tự lấy các tỷ lệ dự kiến của từng vết thương rồi cộng lại thường không phản ánh chính xác tỷ lệ tổn thương cơ thể theo phương pháp pháp y.
Đây cũng là lý do người bị hại không nên chỉ căn cứ vào mô tả thương tích trên giấy ra viện để tự xác định mức phần trăm thương tích của mình.
Kết luận giám định phải bảo đảm khách quan, phù hợp với chuyên môn và có sự tương thích với hồ sơ y tế.
Theo Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người giám định tư pháp kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định mà không có lý do hợp pháp có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đồng thời, Điểm i Khoản 1 Điều 24 Luật Giám định tư pháp 2025 cũng xác định nghĩa vụ không được từ chối kết luận giám định nếu không có căn cứ luật định.
Mặc dù tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là một chỉ số kỹ thuật chuyên môn, kết quả này có thể dẫn đến những hệ quả pháp lý lớn trong vụ án hình sự.
Một sự khác biệt trong việc ghi nhận tổn thương, lựa chọn mức tỷ lệ hoặc áp dụng phương pháp tính có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá dấu hiệu tội phạm, căn cứ xử lý, mức độ trách nhiệm hình sự, phạm vi yêu cầu bồi thường hoặc phương án bào chữa.
Vì vậy, khi phát hiện kết luận giám định có điểm chưa phù hợp, người tham gia tố tụng cần đối chiếu lại bệnh án, kết quả chụp chiếu, bảng tỷ lệ và toàn bộ quy trình thực hiện giám định trước khi đưa ra yêu cầu tiếp theo.
Khi nào được đề nghị giám định bổ sung thương tích?
Giám định bổ sung là cơ chế được áp dụng khi kết quả giám định lần đầu chưa giải quyết đầy đủ những vấn đề cần thiết hoặc trong quá trình giải quyết vụ án xuất hiện nội dung mới cần được làm rõ bằng kiến thức chuyên môn.
Theo Khoản 1 Điều 210 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Khoản 1 Điều 32 Luật Giám định tư pháp 2025, giám định bổ sung được thực hiện khi kết luận giám định trước đó chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án.
Như vậy, giám định bổ sung không có mục đích phủ nhận toàn bộ kết quả giám định trước. Cơ chế này chủ yếu được sử dụng để bổ sung những phần còn thiếu hoặc làm rõ những nội dung chưa được kết luận đầy đủ.
Chẳng hạn, kết luận ban đầu có thể mới đánh giá một số tổn thương nhưng chưa xem xét một tổn thương khác đã được thể hiện trong hồ sơ bệnh án hoặc phim chụp. Trong trường hợp này, việc đề nghị giám định bổ sung có thể là hướng xử lý phù hợp.
Giám định bổ sung cũng có thể phát sinh khi sau thời điểm giám định xuất hiện thêm tài liệu y tế có ý nghĩa đối với việc xác định hậu quả của thương tích.
Người đề nghị nên chỉ ra cụ thể vấn đề chưa được kết luận, thay vì trình bày chung chung rằng mình không đồng ý với tỷ lệ thương tích.
Việc xác định đúng nội dung cần bổ sung sẽ giúp cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở rõ ràng hơn khi xem xét đề nghị.
Khi nào có thể yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích?
Khác với giám định bổ sung, giám định lại được đặt ra khi có căn cứ nghi ngờ tính chính xác của kết luận giám định đã có.
Theo Khoản 1 Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Khoản 2 Điều 32 Luật Giám định tư pháp 2025, việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác và phải do người giám định khác thực hiện.
Mục đích của quy định này là bảo đảm tính độc lập khi đánh giá lại vấn đề chuyên môn đang có tranh luận.
Một số dấu hiệu thực tế có thể là căn cứ để người tham gia tố tụng xem xét việc đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại gồm:
Thông tin về vị trí, kích thước hoặc đặc điểm thương tích trong bệnh án không thống nhất với nội dung kết luận giám định.
Phim X-quang, CT hoặc MRI thể hiện một tổn thương nhưng kết luận giám định không đề cập hoặc chưa đánh giá.
Kết luận giám định không giải thích đầy đủ mối liên hệ giữa các tổn thương và sự việc đang được điều tra.
Xuất hiện tài liệu y tế mới có khả năng làm thay đổi việc đánh giá tình trạng sức khỏe.
Sau lần giám định đầu xuất hiện biến chứng hoặc diễn biến điều trị có liên quan trực tiếp đến thương tích.
Có căn cứ cho rằng quá trình tiếp nhận tài liệu, khám giám định hoặc đánh giá tổn thương chưa bảo đảm khách quan.
Kết luận chuyên môn có nội dung khó giải thích hoặc không tương thích với tài liệu điều trị được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Để đề nghị có cơ sở hơn, người tham gia tố tụng nên rà soát từng điểm khác biệt giữa kết luận giám định và tài liệu y tế thay vì chỉ đưa ra nhận định rằng kết quả quá cao hoặc quá thấp.
Đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại nên được thực hiện bằng văn bản nhằm tạo căn cứ chứng minh người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền của mình.
Trình tự thực tế có thể tiến hành như sau:
Thứ nhất, rà soát toàn bộ kết luận giám định. Người đề nghị cần xác định chính xác nội dung chưa rõ, thiếu thông tin hoặc có khả năng chưa chính xác.
Thứ hai, đối chiếu với hồ sơ y tế. Cần kiểm tra bệnh án, giấy ra viện, kết quả X-quang, CT, MRI, ảnh thương tích và các tài liệu điều trị khác.
Thứ ba, thu thập chứng cứ mới nếu có. Trường hợp người bị thương tiếp tục điều trị hoặc xuất hiện tình trạng sức khỏe mới liên quan đến thương tích, tài liệu phát sinh cần được lưu giữ và cung cấp.
Thứ tư, lập đơn đề nghị. Đơn được gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang giải quyết vụ án, tùy thuộc giai đoạn tố tụng.
Thứ năm, theo dõi việc giải quyết. Khi đề nghị không được chấp nhận, người tham gia tố tụng cần xem xét lý do và tiếp tục thực hiện quyền kiến nghị nếu có căn cứ chuyên môn hoặc tài liệu cho thấy việc giám định cần được xem xét lại.
Trong trường hợp đặc biệt, Điều 212 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định việc giám định lại thuộc thẩm quyền quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định.
Đây là thủ tục áp dụng trong trường hợp đặc biệt, không phải cơ chế giám định lại thông thường được áp dụng đối với tất cả các vụ án.
Người tham gia tố tụng cũng cần quan tâm đến yếu tố thời điểm. Nếu có mâu thuẫn trong kết luận nhưng không kịp thời đề nghị làm rõ, kết quả ban đầu vẫn có thể được cơ quan tiến hành tố tụng xem xét và sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều này có thể ảnh hưởng đến căn cứ khởi tố, nội dung buộc tội, phạm vi trách nhiệm hình sự, nghĩa vụ bồi thường cũng như khả năng bảo vệ quyền lợi của các bên.
Những lưu ý giúp bảo vệ quyền lợi khi giám định thương tích
Người tham gia tố tụng cần lưu ý rằng kết quả giám định thường được hình thành từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. Bên cạnh việc khám trực tiếp, giám định viên còn dựa trên hồ sơ điều trị, kết quả cận lâm sàng và những tài liệu liên quan.
Do đó, việc bảo quản hồ sơ y tế ngay từ thời điểm xảy ra vụ việc có ý nghĩa rất lớn.
Người bị hại nên lưu lại đầy đủ giấy tờ từ lần khám đầu tiên, bởi đây thường là nhóm tài liệu phản ánh rõ nhất tình trạng thương tích gần thời điểm hành vi xảy ra.
Nếu được chụp X-quang, CT, MRI hoặc thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác, các kết quả này cũng cần được lưu giữ đầy đủ. Trong nhiều trường hợp, phim chụp là căn cứ quan trọng để đối chiếu giữa biểu hiện bên ngoài và tổn thương bên trong cơ thể.
Các giấy ra viện, hồ sơ phẫu thuật, tài liệu tái khám và chứng cứ về quá trình phục hồi cũng cần được tập hợp theo thứ tự thời gian.
Ngoài yếu tố y tế, tài liệu thể hiện diễn biến vụ việc như camera, ảnh hiện trường, lời khai nhân chứng hoặc biên bản của cơ quan chức năng có thể giúp làm rõ mối liên hệ giữa hành vi bị tố giác và thương tích.
Sau khi nhận kết luận giám định, người có quyền lợi liên quan cần đọc kỹ từng nội dung thay vì chỉ quan tâm đến con số tỷ lệ cuối cùng.
Cần kiểm tra kết luận đã ghi nhận đầy đủ các tổn thương hay chưa, đặc điểm tổn thương có phù hợp với hồ sơ điều trị không và có bỏ sót vấn đề chuyên môn nào đáng chú ý hay không.
Nếu phát hiện dấu hiệu bất thường, việc đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại nên được thực hiện sớm để hạn chế việc kết luận chưa phù hợp tiếp tục được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án.
Dịch vụ hỗ trợ thủ tục giám định thương tích của Long Phan PMT
Giám định tỷ lệ thương tích là thủ tục có liên quan đồng thời đến kiến thức pháp luật tố tụng hình sự, hồ sơ y tế và hoạt động giám định tư pháp. Chỉ một thiếu sót trong việc lập đơn, xác định nội dung cần giám định hoặc thu thập tài liệu cũng có thể khiến quá trình xử lý kéo dài.
Long Phan PMT hỗ trợ Quý khách hàng rà soát toàn diện hồ sơ và xác định phương án thực hiện phù hợp với từng giai đoạn tố tụng.
Phạm vi công việc có thể bao gồm:
Tư vấn quy định pháp luật về trưng cầu và yêu cầu giám định pháp y thương tích.
Xác định chủ thể có quyền đề nghị trưng cầu hoặc tự mình yêu cầu giám định.
Soạn thảo đơn đề nghị trưng cầu giám định gửi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.
Kiểm tra nội dung cần đề nghị giám định để hạn chế tình trạng yêu cầu không rõ ràng hoặc không đúng phạm vi.
Rà soát Giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ bệnh án và giấy ra viện.
Kiểm tra kết quả X-quang, CT, MRI cùng các tài liệu điều trị khác trong phạm vi hồ sơ được cung cấp.
Hướng dẫn sắp xếp tài liệu y tế và chứng cứ theo diễn biến thời gian.
Đánh giá sơ bộ hồ sơ thương tích để định hướng phương án tố tụng phù hợp.
Hỗ trợ người bị hại thực hiện quyền đề nghị trưng cầu giám định.
Hỗ trợ người bị tố giác, bị can hoặc bị cáo kiểm tra tính hợp pháp và tính phù hợp của kết luận giám định.
Rà soát mâu thuẫn giữa kết luận giám định với bệnh án, phim chụp hoặc tài liệu điều trị.
Tư vấn căn cứ đề nghị giám định bổ sung khi nội dung kết luận chưa đầy đủ hoặc xuất hiện tình tiết mới.
Tư vấn căn cứ đề nghị giám định lại khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác.
Soạn thảo đơn đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại.
Hỗ trợ làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình bổ sung tài liệu.
Đại diện hoặc tham gia cùng khách hàng trong quá trình làm việc với cơ quan chức năng khi phù hợp với quy định pháp luật.
Tư vấn yêu cầu khởi tố vụ án khi kết quả giám định và các chứng cứ khác thể hiện dấu hiệu tội phạm.
Hỗ trợ xác định phạm vi yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
Rà soát chứng từ chi phí điều trị, phục hồi sức khỏe và khoản thu nhập bị mất.
Xác định tài liệu chứng minh chi phí người chăm sóc và những thiệt hại khác liên quan.
Xây dựng phương án bảo vệ quyền lợi cho bị hại trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.
Xây dựng phương án bào chữa cho người bị tố giác, bị can hoặc bị cáo khi kết quả giám định ảnh hưởng đến nội dung buộc tội.
Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định trưng cầu, trình tự giám định và nội dung kết luận.
Hỗ trợ xây dựng luận cứ tranh tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tại Tòa án.
Việc có luật sư hoặc người có chuyên môn pháp lý tham gia từ sớm có thể giúp người liên quan kiểm soát tốt hơn tài liệu, thời hạn và các quyền tố tụng của mình.
Trong những vụ án mà tỷ lệ thương tích có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến căn cứ khởi tố hoặc khung hình phạt, việc rà soát hồ sơ ngay sau khi có kết luận giám định càng cần được thực hiện thận trọng.
Quý khách hàng có thể cung cấp hồ sơ y tế, tài liệu vụ việc và những thông tin liên quan để Long Phan PMT đánh giá ban đầu, xác định những nội dung cần bổ sung và đề xuất phương án xử lý phù hợp.
Giám định tỷ lệ thương tích là căn cứ chuyên môn có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình khởi tố, định tội, định khung hình phạt, bồi thường thiệt hại và bảo vệ quyền lợi của các bên trong vụ án hình sự. Người tham gia tố tụng cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ y tế, thực hiện đúng quyền đề nghị trưng cầu, theo dõi thời hạn giám định và kịp thời yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại khi có căn cứ. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Quy trình yêu cầu và cách giám định phần trăm thương tích trong vụ án hình sự
>>> Xem thêm: Thủ tục yêu cầu giám định thương tích bổ sung trong vụ án hình sự





