Hiển thị các bài đăng có nhãn khởi kiện vụ án hành chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khởi kiện vụ án hành chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Khi khiếu nại hành chính không được giải quyết đúng thời hạn theo quy định, người khiếu nại không phải tiếp tục chờ đợi vô thời hạn mà có quyền lựa chọn phương án xử lý phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, người khiếu nại có thể thực hiện khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền. Tuy nhiên, việc lựa chọn sai phương án, bỏ qua thời hiệu hoặc xác định không đúng đối tượng khởi kiện có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo vệ quyền lợi.

Do đó, trước khi quyết định tiếp tục khiếu nại hay chuyển sang thủ tục tố tụng, cần rà soát toàn bộ hồ sơ, xác định thời điểm cơ quan nhận đơn, thời hạn giải quyết đã hết hay chưa, quyết định hoặc hành vi bị xâm phạm và cơ quan xét xử có thẩm quyền.

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng đánh giá hồ sơ, xác định hướng xử lý phù hợp và hạn chế các rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình giải quyết khiếu nại hành chính.

Khi cơ quan có thẩm quyền đã hết thời hạn giải quyết nhưng chưa ban hành kết quả, người khiếu nại cần hiểu rõ các quyền pháp lý của mình để tránh mất thời gian và bỏ lỡ cơ hội yêu cầu bảo vệ quyền lợi theo quy định.

khieu-nai-hanh-chinh-qua-han-co-the-dan-den-khieu-nai-lan-hai-hoac-khoi-kien-
Khiếu nại hành chính quá hạn có thể dẫn đến khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện.
Quyền của người khiếu nại khi quá hạn giải quyết khiếu nại lần đầu

Việc cơ quan hành chính không giải quyết khiếu nại trong thời hạn luật định không đồng nghĩa người khiếu nại phải tiếp tục chờ đợi. Khi hết thời hạn giải quyết mà chưa có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, người khiếu nại có thể thực hiện quyền khiếu nại lần hai hoặc lựa chọn khởi kiện vụ án hành chính nếu đáp ứng điều kiện luật định.

Theo Điều 27 và Khoản 1 Điều 36 Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi bởi Luật số 136/2025/QH15), đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền và đủ điều kiện giải quyết, cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện việc thụ lý trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn. Sau khi thụ lý, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu được thực hiện theo Điều 28 Luật Khiếu nại 2011, cụ thể không quá 30 ngày; trường hợp phức tạp có thể kéo dài tối đa 45 ngày. Đối với vùng sâu, vùng xa, thời hạn tương ứng là 45 ngày và 60 ngày.

Khi hết thời hạn này mà cơ quan vẫn chưa giải quyết, người khiếu nại có quyền thực hiện khiếu nại lần hai theo Khoản 1 Điều 33 Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 12 Điều 2 Luật số 136/2025/QH15). Thời hạn khiếu nại lần hai là 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu; đối với vùng sâu, vùng xa là 45 ngày.

Để bảo vệ quyền lợi, người khiếu nại cần lưu giữ các tài liệu chứng minh thời điểm gửi và thời điểm cơ quan tiếp nhận đơn như phiếu nhận đơn, giấy xác nhận, biên nhận bưu điện hoặc tài liệu điện tử liên quan. Đây là căn cứ quan trọng để xác định thời điểm phát sinh quyền khiếu nại tiếp theo hoặc quyền khởi kiện.

Có thể khởi kiện vụ án hành chính khi chưa khiếu nại lần hai không?

Không phải mọi trường hợp đều bắt buộc phải thực hiện khiếu nại lần hai trước khi khởi kiện. Pháp luật cho phép người khiếu nại lựa chọn khởi kiện vụ án hành chính trong những trường hợp đáp ứng điều kiện theo quy định.

Theo Khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại 2011 và Khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015, người có quyền lợi bị ảnh hưởng có thể yêu cầu Tòa án giải quyết khi:

  • Có căn cứ cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp;

  • Đã khiếu nại lần đầu nhưng hết thời hạn giải quyết mà không được giải quyết;

  • Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.

Tuy nhiên, việc cơ quan hành chính chậm trả lời hoặc không phản hồi đơn khiếu nại không mặc nhiên đồng nghĩa mọi trường hợp đều có thể khởi kiện. Người khởi kiện vẫn phải xác định đúng quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện, chủ thể bị kiện và điều kiện khởi kiện theo Luật Tố tụng hành chính 2015.

Nên tiếp tục khiếu nại lần hai hay chuyển sang khởi kiện?

Việc lựa chọn khiếu nại lần hai hay khởi kiện vụ án hành chính phụ thuộc vào tính chất vụ việc, mức độ ảnh hưởng đến quyền lợi và mục tiêu bảo vệ của người khiếu nại. Không có một phương án chung áp dụng cho mọi trường hợp.

Khiếu nại lần hai phù hợp trong trường hợp người khiếu nại vẫn còn cơ sở để cơ quan hành chính cấp trên xem xét, kiểm tra lại quá trình giải quyết của cấp dưới. Phương án này thường được cân nhắc khi:

  • Sai sót chủ yếu xuất phát từ quá trình xử lý hành chính;

  • Cơ quan có thẩm quyền còn khả năng rà soát, sửa đổi quyết định;

  • Quyền lợi chưa bị ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc chưa cần biện pháp bảo vệ khẩn cấp.

Quyền khiếu nại lần hai khi hết thời hạn giải quyết lần đầu nhưng chưa được giải quyết được xác lập tại Khoản 1 Điều 33 Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 12 Điều 2 Luật số 136/2025/QH15).

Ngược lại, khởi kiện vụ án hành chính là lựa chọn phù hợp khi việc chờ đợi cơ chế hành chính không còn đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi. Đặc biệt, cần cân nhắc khởi kiện khi:

  • Khiếu nại lần đầu đã quá hạn nhưng chưa được giải quyết;

  • Quyền và lợi ích hợp pháp tiếp tục bị ảnh hưởng;

  • Quyết định hành chính đang được thi hành gây nguy cơ phát sinh hậu quả khó khắc phục;

  • Cần yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp bảo vệ theo thủ tục tố tụng.

Quyền khởi kiện trong trường hợp luật định được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015.

kiem-tra-thoi-hieu-va-tham-quyen-truoc-khi-khoi-kien-vu-an-hanh-chinh

Kiểm tra thời hiệu và thẩm quyền trước khi khởi kiện vụ án hành chính

Kiểm tra thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trước khi nộp đơn

Một trong những rủi ro lớn nhất khi khiếu nại hành chính bị kéo dài là người khiếu nại chỉ tập trung chờ kết quả giải quyết mà không kiểm tra thời hiệu khởi kiện. Việc cơ quan chưa trả lời không làm thời hiệu khởi kiện dừng lại vô thời hạn.

Theo Luật Tố tụng hành chính 2015, thời hiệu khởi kiện thông thường là 01 năm nhưng thời điểm bắt đầu tính được xác định khác nhau tùy từng trường hợp.

Trường hợp chưa thực hiện khiếu nại, thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính theo Điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Trường hợp đã thực hiện khiếu nại đúng quy định, thời hiệu khởi kiện được xác định theo Khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015. Cụ thể:

  • Nếu đã có quyết định giải quyết khiếu nại, thời hiệu là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại;

  • Nếu hết thời hạn giải quyết mà cơ quan không giải quyết và không có văn bản trả lời, thời hiệu là 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.

Vì vậy, người khiếu nại cần lập bảng theo dõi thời gian gồm ngày nhận quyết định, ngày gửi đơn, ngày cơ quan nhận đơn, ngày thụ lý, ngày hết hạn giải quyết và thời điểm nhận kết quả giải quyết nếu có.

luu-giu-ho-so-giup-bao-ve-quyen-loi-khi-khieu-nai-keo-dai

Lưu giữ hồ sơ giúp bảo vệ quyền lợi khi khiếu nại kéo dài

Xác định đúng đối tượng khởi kiện và Tòa án có thẩm quyền

Việc cơ quan hành chính không giải quyết khiếu nại chỉ là một tình trạng thực tế, chưa đủ để xác định đối tượng khởi kiện. Người khởi kiện phải xác định rõ quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và chủ thể có liên quan.

Theo Khoản 2, Khoản 4, Khoản 6 Điều 3 và Khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015, quyết định hành chính bị kiện phải là quyết định áp dụng trong hoạt động quản lý hành chính, làm phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Hành vi hành chính bị kiện là việc thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp.

Bên cạnh đó, cần xác định đúng Tòa án có thẩm quyền trước khi nộp đơn. Việc nộp sai nơi giải quyết có thể làm kéo dài thời gian xử lý và ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi.

Thẩm quyền của Tòa án được xác định căn cứ Điều 31 và Điều 31a Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 3, Khoản 4 Điều 2 Luật số 85/2025/QH15). Người khởi kiện cần kiểm tra cấp của cơ quan ban hành quyết định, nơi cư trú hoặc trụ sở liên quan, phạm vi lãnh thổ và loại khiếu kiện cụ thể.

Các sai lầm thường gặp khi xử lý khiếu nại hành chính quá hạn

Khiếu nại hành chính kéo dài thường phát sinh nhiều rủi ro nếu người khiếu nại không kiểm soát đúng thủ tục. Một số sai lầm phổ biến gồm:

Tiếp tục chờ cơ quan trả lời nhưng không kiểm tra thời hiệu: Việc chưa nhận được phản hồi không đồng nghĩa quyền khởi kiện được bảo lưu vô thời hạn. Nếu hết thời hiệu mà không có căn cứ loại trừ, đơn có thể bị trả lại hoặc vụ án bị đình chỉ theo Điểm g Khoản 1 Điều 123 và Điểm g Khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Xác định sai quyết định, hành vi hoặc Tòa án: Việc khởi kiện sai đối tượng hoặc sai cơ quan xét xử có thể khiến quá trình giải quyết bị kéo dài và ảnh hưởng đến thời hiệu.

Không lưu giữ tài liệu chứng minh quá trình khiếu nại: Hồ sơ cần có đơn khiếu nại, giấy tiếp nhận, chứng từ gửi đơn, thông báo thụ lý, quyết định giải quyết và tài liệu chứng minh thời điểm biết hoặc nhận quyết định, hành vi hành chính.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ khi khiếu nại hành chính không được giải quyết

Khiếu nại hành chính quá hạn cần được đánh giá trên cơ sở toàn bộ hồ sơ, thời gian phát sinh sự kiện và mục tiêu bảo vệ quyền lợi cụ thể. Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng:

  • Rà soát quá trình tiếp nhận, thụ lý và giải quyết khiếu nại;

  • Xây dựng timeline pháp lý để xác định các mốc quan trọng;

  • Kiểm tra thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính;

  • Đánh giá lựa chọn giữa khiếu nại lần hai và khởi kiện;

  • Xác định quyết định, hành vi hành chính bị kiện;

  • Kiểm tra Tòa án có thẩm quyền;

  • Chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ và hỗ trợ tham gia tố tụng.

Khi đã xuất hiện dấu hiệu quá hạn giải quyết, việc rà soát hồ sơ càng sớm càng giúp hạn chế nguy cơ mất quyền do hết thời hiệu hoặc thực hiện sai thủ tục.

Khiếu nại hành chính không được giải quyết đúng hạn cần được xử lý chủ động thông qua việc kiểm tra quyền khiếu nại lần hai, khả năng khởi kiện, thời hiệu, đối tượng bị kiện và thẩm quyền của Tòa án. Việc xác định đúng phương án ngay từ đầu giúp hạn chế rủi ro pháp lý và bảo vệ hiệu quả quyền lợi hợp pháp. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

 Nguồn: Cần khởi kiện hay làm gì khi khiếu nại hành chính không được giải quyết?

Xem thêm:



Read More

Căn cứ yêu cầu hủy quyết định hành chính là vấn đề cần được xác định chính xác khi cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức cho rằng một quyết định của cơ quan quản lý nhà nước đã được ban hành trái quy định và trực tiếp ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc một quyết định gây bất lợi chưa đương nhiên đồng nghĩa với việc Tòa án sẽ tuyên hủy quyết định đó. Người khởi kiện phải chỉ ra được những sai phạm cụ thể liên quan đến thẩm quyền ban hành, trình tự thủ tục, căn cứ pháp luật hoặc nội dung của quyết định. Đồng thời, Long Phan PMT các điều kiện về đối tượng khởi kiện, thời hiệu, chủ thể khởi kiện, thẩm quyền của Tòa án và chứng cứ cũng cần được kiểm tra đầy đủ trước khi tiến hành vụ án hành chính.

bieu-tuong-can-can-cong-ly-va-bua-tham-phan-trong-hoat-dong-tu-phap-

Biểu tượng cán cân công lý và búa thẩm phán trong hoạt động tư pháp.

Nhận diện đúng quyết định hành chính có thể bị khởi kiện

Trước khi xem xét một quyết định có trái pháp luật và có đủ căn cứ để yêu cầu Tòa án tuyên hủy hay không, người có quyền lợi bị ảnh hưởng phải xác định văn bản đó có thực sự là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính.

Không phải mọi giấy tờ, công văn, thông báo, biên bản hoặc văn bản được cơ quan nhà nước ban hành đều có thể trở thành đối tượng của một vụ án hành chính. Trên thực tế, việc xác định sai đối tượng khởi kiện có thể khiến người khởi kiện phải sửa đổi, bổ sung hồ sơ, bị trả lại đơn hoặc không được Tòa án xem xét yêu cầu theo thủ tục tố tụng hành chính.

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015, quyết định hành chính được hiểu là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan hoặc tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng nhất định.

Bên cạnh đó, căn cứ Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015, quyết định hành chính bị kiện phải là quyết định làm phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có liên quan.

Do đó, khi rà soát một văn bản để xác định khả năng khởi kiện, không nên chỉ nhìn vào tên gọi bên ngoài của văn bản. Một tài liệu mang tên “công văn”, “thông báo” hoặc tên gọi khác vẫn có thể được xem xét là đối tượng khởi kiện nếu nội dung thực tế của văn bản tạo ra hậu quả pháp lý trực tiếp đối với người nhận hoặc người có liên quan.

Ngược lại, một văn bản tuy do cơ quan nhà nước phát hành nhưng chỉ có chức năng cung cấp thông tin, trao đổi nghiệp vụ, ghi nhận diễn biến của một sự việc hoặc không trực tiếp làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức thì thông thường sẽ không đáp ứng đầy đủ đặc điểm của quyết định hành chính bị kiện.

Các tiêu chí quan trọng để xác định quyết định hành chính bị kiện

Để hạn chế nguy cơ xác định sai đối tượng khởi kiện, người có nhu cầu yêu cầu hủy quyết định cần xem xét đồng thời chủ thể ban hành, phạm vi áp dụng và hậu quả pháp lý mà văn bản tạo ra.

Thứ nhất, về chủ thể ban hành, văn bản phải xuất phát từ cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan hoặc tổ chức được giao thực hiện hoạt động quản lý hành chính hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó.

Thứ hai, về phạm vi tác động, văn bản phải giải quyết một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý nhà nước và được áp dụng một lần đối với một cá nhân, một tổ chức hoặc một nhóm chủ thể xác định.

Thứ ba, về hậu quả pháp lý, văn bản phải trực tiếp tạo ra sự thay đổi về quyền, nghĩa vụ hoặc lợi ích pháp lý của chủ thể liên quan, chẳng hạn làm phát sinh nghĩa vụ, hạn chế quyền, chấm dứt một quyền đang tồn tại hoặc từ chối công nhận một quyền mà cá nhân, tổ chức cho rằng mình có đủ điều kiện được hưởng.

Các tiêu chí nêu trên được xác lập tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Chính vì vậy, trong thực tiễn không thể mặc nhiên kết luận rằng mọi công văn đều không thể bị kiện hoặc mọi quyết định mang tên “quyết định” đều đương nhiên thuộc đối tượng khởi kiện. Nội dung và hậu quả pháp lý thực tế của văn bản mới là yếu tố cần được phân tích cẩn trọng.

Ví dụ, một văn bản của cơ quan có thẩm quyền từ chối cấp giấy phép, từ chối giải quyết một quyền lợi hoặc buộc cá nhân, doanh nghiệp thực hiện một nghĩa vụ nhất định có thể được xem xét là đối tượng khởi kiện nếu văn bản đó trực tiếp tác động đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

phap-luat-la-co-so-bao-ve-quyen-loi-ich-hop-phap-cua-ca-nhan-va-to-chuc-

Pháp luật là cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức.

Những quyết định hành chính thuộc trường hợp Tòa án không giải quyết

Ngay cả khi một văn bản có một số đặc điểm của quyết định hành chính, người khởi kiện vẫn cần kiểm tra xem văn bản đó có thuộc trường hợp pháp luật loại trừ khỏi phạm vi giải quyết của Tòa án hay không.

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015, các quyết định hành chính có liên quan đến bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh hoặc ngoại giao theo quy định của pháp luật không thuộc phạm vi khiếu kiện hành chính mà Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015, quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức cũng thuộc nhóm quyết định không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Khoản 6 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức bao gồm những quyết định, hành vi phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong nội bộ cơ quan, chẳng hạn hoạt động phân công nhiệm vụ, quản lý cán bộ, quản lý kinh phí, tài sản hoặc kiểm tra công vụ trong phạm vi nội bộ.

Việc phân biệt giữa quyết định hành chính tác động trực tiếp ra bên ngoài với quyết định chỉ phục vụ hoạt động quản trị nội bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu xác định nhầm một quyết định nội bộ thành quyết định hành chính có thể khởi kiện, quá trình bảo vệ quyền lợi có thể bị kéo dài nhưng không đạt được mục tiêu mong muốn.

Những căn cứ pháp lý có thể sử dụng để yêu cầu hủy quyết định hành chính

Khi đã xác định đúng quyết định thuộc đối tượng khởi kiện, vấn đề quan trọng tiếp theo là chứng minh quyết định đó không bảo đảm tính hợp pháp.

Trong quá trình xét xử vụ án hành chính, Tòa án không chỉ xem xét việc người khởi kiện có bị thiệt hại hay cảm thấy bất lợi từ quyết định hành chính hay không. Hội đồng xét xử phải đánh giá tính hợp pháp của quyết định trên nhiều phương diện, bao gồm thẩm quyền ban hành, hình thức, trình tự, thủ tục, căn cứ pháp luật, nội dung và các vấn đề khác theo quy định.

Vì vậy, việc xây dựng yêu cầu hủy quyết định cần tập trung vào những sai phạm pháp lý cụ thể thay vì chỉ trình bày rằng quyết định đã gây ra hậu quả không mong muốn đối với người khởi kiện.

Quyết định được ban hành bởi chủ thể không có thẩm quyền

Một trong những căn cứ quan trọng để yêu cầu hủy quyết định hành chính là chứng minh cơ quan ban hành hoặc người ký quyết định không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Thẩm quyền có thể được xác định theo nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm thẩm quyền theo lĩnh vực chuyên ngành, theo cấp quản lý, theo địa giới hành chính, theo chức danh hoặc theo sự phân cấp, ủy quyền hợp pháp.

Do đó, không chỉ cần kiểm tra tên của cơ quan ban hành mà còn phải xem xét người trực tiếp ký quyết định có được pháp luật giao quyền hoặc được ủy quyền hợp lệ để ban hành loại quyết định đó trong trường hợp cụ thể hay không.

Ví dụ, trong lĩnh vực đất đai, nếu Chủ tịch UBND ban hành quyết định thu hồi đất nhưng pháp luật đất đai không giao thẩm quyền cho chủ thể đó đối với trường hợp cụ thể thì tính hợp pháp về thẩm quyền của quyết định có thể bị đặt ra.

Khi đánh giá trường hợp này, cần đối chiếu đồng thời chức danh người ký, chủ thể sử dụng đất, loại đất, nội dung thu hồi và quy định pháp luật xác định cơ quan có thẩm quyền tại thời điểm ban hành quyết định.

Căn cứ Điểm b Khoản 3 Điều 191 Luật Tố tụng hành chính 2015, Hội đồng xét xử phải xem xét tính hợp pháp về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính.

Những tài liệu thường có giá trị trong việc chứng minh sai thẩm quyền có thể bao gồm quy định của luật chuyên ngành, văn bản phân cấp, văn bản ủy quyền, quyết định giao nhiệm vụ và hồ sơ thể hiện quá trình ban hành quyết định.

Quyết định được ban hành không đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định

Một quyết định tuy được ban hành bởi đúng cơ quan và đúng người có thẩm quyền vẫn có khả năng bị xem xét hủy nếu quá trình ban hành quyết định không tuân thủ những trình tự, thủ tục bắt buộc.

Tùy từng lĩnh vực quản lý nhà nước, cơ quan có thẩm quyền có thể phải thực hiện nhiều bước khác nhau trước khi ban hành quyết định, chẳng hạn kiểm tra thực tế, lập biên bản, thông báo, lấy ý kiến, xác minh, tổ chức đối thoại, tạo điều kiện để đương sự giải trình hoặc thực hiện các thủ tục chuyên ngành khác.

Nếu một bước có tính chất bắt buộc bị bỏ qua và việc bỏ qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người có liên quan thì đây có thể trở thành căn cứ quan trọng để xem xét tính hợp pháp của quyết định.

Trong lĩnh vực xử phạt, chẳng hạn, nếu trường hợp pháp luật yêu cầu phải lập biên bản nhưng cơ quan có thẩm quyền lại không thực hiện, hoặc không bảo đảm quyền trình bày, giải trình của người bị xử lý theo quy định thì quá trình ban hành quyết định có thể phát sinh vi phạm thủ tục.

Đối với các lĩnh vực như đất đai, xây dựng hoặc cấp phép, sai phạm có thể xuất phát từ việc không thực hiện thủ tục công khai, không lấy ý kiến, không xác minh hồ sơ hoặc không tuân thủ trình tự chuyên ngành bắt buộc.

Theo Điểm b Khoản 3 Điều 191 Luật Tố tụng hành chính 2015, Hội đồng xét xử có trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ trình tự và thủ tục khi ban hành quyết định hành chính.

Tuy nhiên, để nâng cao khả năng bảo vệ yêu cầu khởi kiện, người khởi kiện cần làm rõ không chỉ việc một thủ tục đã bị thiếu mà còn phải chứng minh thủ tục đó là thủ tục bắt buộc theo quy định và việc không thực hiện thủ tục đã ảnh hưởng như thế nào đến quyền, lợi ích của mình.

Quyết định áp dụng sai quy định pháp luật hoặc sử dụng văn bản không còn hiệu lực

Một quyết định hành chính hợp pháp phải được xây dựng trên những quy định pháp luật đang còn hiệu lực tại thời điểm ban hành và phải phù hợp với tình tiết thực tế của vụ việc.

Nếu cơ quan hành chính áp dụng một quy định đã hết hiệu lực, viện dẫn nhầm văn bản, áp dụng sai điều kiện pháp lý, sử dụng sai tiêu chí hoặc xác định không chính xác tình trạng pháp lý của vụ việc thì căn cứ ban hành quyết định có thể bị xem xét.

Ví dụ, một cơ quan từ chối cấp phép đầu tư với lý do dự án không phù hợp quy hoạch. Trong khi đó, hồ sơ quy hoạch có hiệu lực tại thời điểm giải quyết lại thể hiện khu vực dự án đáp ứng yêu cầu. Khi xảy ra tình huống này, người khởi kiện cần đối chiếu chính xác quy hoạch đang có hiệu lực, thời điểm áp dụng, nội dung quy hoạch và lý do pháp lý được ghi trong quyết định bị kiện.

Theo Điểm c và Điểm đ Khoản 3 Điều 191 Luật Tố tụng hành chính 2015, Hội đồng xét xử xem xét các vấn đề về thời hiệu, thời hạn cũng như tính hợp pháp và tính có căn cứ của văn bản được sử dụng làm cơ sở ban hành quyết định hành chính.

Do đó, chứng cứ đối với nhóm sai phạm này cần được chuẩn bị có hệ thống. Những văn bản pháp luật còn hiệu lực, tài liệu quy hoạch, hồ sơ chuyên ngành, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền xác nhận và các căn cứ pháp lý có hiệu lực tại thời điểm ra quyết định có thể được sử dụng để đối chiếu.

Nội dung quyết định trực tiếp xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp

Một quyết định hành chính cũng có thể bị yêu cầu hủy nếu nội dung của quyết định trái pháp luật và trực tiếp làm ảnh hưởng đến quyền hoặc lợi ích hợp pháp của cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan hoặc tổ chức.

Các quyền bị tác động trên thực tế có thể liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản, quyền thực hiện hoạt động kinh doanh, quyền được cấp giấy phép, quyền được hưởng một lợi ích pháp lý hoặc các quyền khác được pháp luật công nhận.

Tuy nhiên, trong quá trình khởi kiện, chỉ trình bày rằng người khởi kiện đã bị thiệt hại là chưa đủ. Hồ sơ cần xác định chính xác phần nội dung nào của quyết định trái pháp luật, quy định nào bị áp dụng sai, quyền nào đã bị hạn chế hoặc chấm dứt và mối quan hệ giữa nội dung quyết định với hậu quả mà người khởi kiện phải gánh chịu.

Căn cứ Điểm a và Điểm d Khoản 3 Điều 191 Luật Tố tụng hành chính 2015, Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định về hình thức, nội dung và những vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích của người khởi kiện.

Chính vì vậy, chứng cứ nên được phân loại theo từng nội dung vi phạm thay vì tập hợp rời rạc. Việc hệ thống hóa tài liệu theo từng căn cứ có thể giúp làm rõ lý do người khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy toàn bộ hoặc chỉ hủy một phần quyết định hành chính.

Điều kiện cần đáp ứng khi khởi kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính

Ngay cả khi quyết định hành chính có dấu hiệu trái pháp luật, Tòa án chỉ xem xét nội dung yêu cầu hủy khi vụ án đáp ứng các điều kiện tố tụng theo quy định.

Các vấn đề cần đặc biệt kiểm tra trước khi nộp đơn bao gồm quyền khởi kiện, năng lực của người khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, việc lựa chọn giữa khiếu nại và khởi kiện, đối tượng bị kiện và Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Một sai sót ở giai đoạn này có thể khiến vụ việc chưa được xem xét đến tính hợp pháp của quyết định mặc dù người khởi kiện cho rằng quyền lợi của mình đã thực sự bị xâm phạm.

Người khởi kiện phải có quyền và năng lực tố tụng phù hợp

Người khởi kiện cần có năng lực hành vi tố tụng hành chính theo quy định pháp luật.

Trường hợp chủ thể khởi kiện không đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi tố tụng thì Tòa án có thể trả lại đơn khởi kiện theo Điểm b Khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Bên cạnh đó, người nộp đơn cần chứng minh quyết định hành chính bị kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Một người hoàn toàn không chịu tác động pháp lý từ quyết định sẽ gặp khó khăn trong việc chứng minh quyền khởi kiện.

Đối với việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền lợi, pháp luật không bắt buộc trong mọi trường hợp người dân hoặc doanh nghiệp phải khiếu nại trước rồi mới được khởi kiện.

Khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 cho phép cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính khi không đồng ý với quyết định đó theo điều kiện luật định.

Như vậy, tùy tình huống, người bị ảnh hưởng có thể xem xét khởi kiện trực tiếp mà không phải trải qua thủ tục khiếu nại hành chính trước đó.

Phải bảo đảm thời hiệu khởi kiện vẫn còn

Thời hiệu là một trong những vấn đề cần được kiểm tra ngay khi tiếp nhận quyết định hành chính có dấu hiệu trái pháp luật.

Việc chậm trễ quá lâu có thể khiến người có quyền lợi bị ảnh hưởng mất cơ hội yêu cầu Tòa án xem xét vụ việc, trừ trường hợp có căn cứ pháp luật khác liên quan đến việc xác định thời hiệu.

Đối với quyết định hành chính thông thường, Điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày người khởi kiện nhận được hoặc biết được quyết định hành chính.

Đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, thời hiệu khởi kiện là 30 ngày theo Điểm b Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Trong trường hợp người có quyền lợi đã thực hiện thủ tục khiếu nại, Khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền không giải quyết khiếu nại trong thời hạn luật định thì thời hiệu được xác định theo quy định tương ứng kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.

Vì vậy, các tài liệu thể hiện thời điểm nhận hoặc biết được quyết định cần được lưu giữ cẩn thận.

Phong bì thư, phiếu báo phát, biên nhận, thông báo điện tử, giấy giao nhận hồ sơ hoặc các tài liệu khác thể hiện thời điểm người khởi kiện tiếp cận quyết định có thể trở thành chứng cứ quan trọng khi cần chứng minh thời hiệu vẫn còn.

Cần lựa chọn phù hợp giữa khiếu nại hành chính và khởi kiện tại Tòa án

Khi không đồng ý với quyết định hành chính, người bị ảnh hưởng có thể cân nhắc sử dụng thủ tục khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tùy điều kiện của vụ việc.

Mỗi cơ chế có đặc điểm khác nhau. Việc lựa chọn cần dựa trên mục tiêu xử lý, thời hiệu còn lại, khả năng thu thập chứng cứ, nội dung cần yêu cầu và mong muốn được Tòa án xem xét tính hợp pháp để tuyên hủy quyết định.

Đáng lưu ý, nếu cùng một quyết định hành chính vừa được khiếu nại vừa được khởi kiện, người có yêu cầu không thể đồng thời để cả hai cơ quan cùng giải quyết theo hai cơ chế khác nhau.

Theo Khoản 1 Điều 33 Luật Tố tụng hành chính 2015, trong trường hợp người khởi kiện vừa có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vừa có đơn khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án yêu cầu người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết.

Nếu người khởi kiện lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định.

Do đó, trước khi lựa chọn phương án, người có nhu cầu cần đánh giá tổng thể vụ việc thay vì thực hiện đồng thời nhiều thủ tục mà không xác định rõ chiến lược. Việc lựa chọn không phù hợp có thể kéo dài quá trình giải quyết và ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ quyền lợi trong thời hiệu luật định.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực trong vụ án hành chính

Việc xác định đúng Tòa án có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết đơn khởi kiện là bước quan trọng trong thủ tục yêu cầu hủy quyết định hành chính.

Từ ngày 01/07/2025, cách xác định thẩm quyền sơ thẩm đối với các khiếu kiện quyết định hành chính được thực hiện theo mô hình Tòa án nhân dân khu vực.

Theo Khoản 1 Điều 31 Luật Tố tụng hành chính 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, khiếu kiện đối với quyết định hành chính của cơ quan nhà nước cấp xã hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước cấp xã thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ tương ứng.

Đối với quyết định của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trở xuống hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan đó, việc xác định Tòa án có thẩm quyền sơ thẩm được thực hiện theo Khoản 2 Điều 31 Luật Tố tụng hành chính 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Đối với quyết định của Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan trung ương được pháp luật liệt kê, Tòa án nhân dân khu vực nơi người khởi kiện cư trú, làm việc hoặc đặt trụ sở có thẩm quyền theo Khoản 3 Điều 31 Luật Tố tụng hành chính 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Căn cứ Khoản 1 Điều 31a Luật Tố tụng hành chính 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa Hành chính thuộc Tòa án nhân dân khu vực thực hiện việc giải quyết sơ thẩm các khiếu kiện thuộc thẩm quyền.

Do đó, trước khi nộp hồ sơ, cần kiểm tra đồng thời cơ quan hoặc người đã ban hành quyết định, địa chỉ của người bị kiện, nơi người khởi kiện cư trú hoặc đặt trụ sở trong những trường hợp luật quy định và phạm vi lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực.

Theo quy định hiện hành được nêu trong hồ sơ nguồn, Tòa án cấp tỉnh không còn được xác định là cấp xét xử sơ thẩm mặc định đối với quyết định do cơ quan cấp tỉnh ban hành. Tòa án cấp tỉnh chủ yếu thực hiện chức năng phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm theo Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Việc gửi đơn không đúng Tòa án có thẩm quyền có thể làm kéo dài thời gian xử lý hồ sơ. Trong những vụ việc có thời hiệu gần hết, sai sót này còn có thể ảnh hưởng đáng kể đến chiến lược bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

luat-su-tu-van-ho-tro-khach-hang-giai-quyet-tranh-chap-va-cac-van-de-phap-ly

Luật sư tư vấn, hỗ trợ khách hàng giải quyết tranh chấp và các vấn đề pháp lý.

Hồ sơ, tài liệu và chứng cứ cần chuẩn bị khi yêu cầu hủy quyết định

Một vụ án hành chính muốn được chuẩn bị chặt chẽ không chỉ cần đơn khởi kiện mà còn phải có hệ thống tài liệu chứng minh rõ quyết định bị kiện, quyền lợi bị ảnh hưởng và lý do pháp lý cho rằng quyết định đó trái pháp luật.

Thay vì tập hợp tất cả giấy tờ theo trình tự phát sinh mà không phân nhóm, người khởi kiện nên sắp xếp chứng cứ theo từng nội dung cần chứng minh như sai thẩm quyền, sai thủ tục, áp dụng sai pháp luật hoặc nội dung quyết định xâm phạm quyền lợi.

Cách tổ chức hồ sơ như vậy giúp quá trình trình bày yêu cầu rõ ràng hơn và tạo điều kiện thuận lợi khi đối chiếu từng căn cứ pháp lý với tài liệu chứng minh tương ứng.

Chuẩn bị đơn khởi kiện đúng biểu mẫu và xác định rõ yêu cầu

Đơn khởi kiện vụ án hành chính được lập theo Mẫu số 01-HC ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP.

Người lập đơn cần xác định chính xác người khởi kiện, người bị kiện, quyết định hành chính bị yêu cầu xem xét và nội dung cụ thể đề nghị Tòa án giải quyết.

Theo Khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính 2015, đơn khởi kiện phải thể hiện các nội dung cơ bản theo quy định.

Trong đó, người khởi kiện cần cung cấp thông tin của mình, của người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu có.

Đối với quyết định bị kiện, nên ghi cụ thể số quyết định, ngày ban hành, cơ quan hoặc người có thẩm quyền ban hành và nội dung chính của quyết định.

Phần trình bày vụ việc cần tóm tắt diễn biến có liên quan trực tiếp đến yêu cầu khởi kiện, đồng thời xác định quyền hoặc lợi ích hợp pháp nào đã bị tác động.

Đặc biệt, yêu cầu khởi kiện cần được thể hiện rõ ràng, chẳng hạn đề nghị hủy toàn bộ quyết định, hủy một phần quyết định hoặc yêu cầu giải quyết những vấn đề có liên quan trong phạm vi pháp luật cho phép.

Đơn cũng phải thể hiện nội dung cam đoan theo yêu cầu pháp luật về việc không đồng thời yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với cùng quyết định trong trường hợp tương ứng.

Nếu xác định sai người bị kiện, ghi không đầy đủ thông tin cần thiết hoặc nêu yêu cầu quá chung chung, người khởi kiện có thể phải sửa đổi, bổ sung đơn.

Do đó, nội dung yêu cầu nên được xây dựng gắn trực tiếp với hậu quả pháp lý của quyết định thay vì chỉ đề nghị chung rằng Tòa án “bảo vệ quyền lợi”.

Tài liệu chứng minh quyết định hành chính không hợp pháp

Khoản 2 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định người khởi kiện phải gửi kèm đơn các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Trường hợp vì lý do khách quan mà chưa thể nộp đầy đủ tài liệu, người khởi kiện phải nộp những tài liệu hiện có và tiếp tục bổ sung theo quy định.

Nhóm tài liệu đầu tiên cần chuẩn bị là bản sao quyết định hành chính bị kiện. Nếu trước đó đã thực hiện thủ tục khiếu nại thì cần bổ sung quyết định giải quyết khiếu nại và những tài liệu liên quan đến quá trình giải quyết khiếu nại.

Nhóm tiếp theo là tài liệu chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Tùy từng loại vụ án, đó có thể là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép, hợp đồng, hồ sơ dự án, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản hoặc các tài liệu chuyên ngành khác.

Nếu yêu cầu hủy dựa trên căn cứ sai thẩm quyền, cần bổ sung văn bản quy định về thẩm quyền, quyết định phân cấp, giấy ủy quyền hoặc các tài liệu xác định phạm vi quyền hạn của người đã ký quyết định.

Nếu cho rằng cơ quan ban hành vi phạm trình tự, thủ tục, tài liệu có thể gồm biên bản làm việc, thông báo, tài liệu giải trình, hồ sơ lấy ý kiến, chứng cứ về đối thoại hoặc giấy tờ cho thấy một thủ tục bắt buộc đã không được thực hiện.

Đối với trường hợp áp dụng sai pháp luật, cần chuẩn bị các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ quy hoạch, giấy tờ chuyên ngành và những tài liệu có giá trị chứng minh căn cứ được cơ quan hành chính sử dụng là không chính xác hoặc không còn hiệu lực.

Trường hợp có yêu cầu bồi thường, cần chuẩn bị thêm tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế, giá trị thiệt hại và mối liên hệ giữa quyết định hành chính trái pháp luật với thiệt hại phát sinh.

Theo Khoản 1 Điều 78 Luật Tố tụng hành chính 2015, người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính bị kiện và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án.

Vì thế, hồ sơ càng được xây dựng có cấu trúc và phân chia chứng cứ tương ứng với từng căn cứ yêu cầu hủy thì nội dung cần chứng minh càng trở nên rõ ràng.

Luật sư hỗ trợ khởi kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính tại Long Phan PMT

Tranh chấp hành chính có đặc thù riêng vì một bên trong vụ án thường là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Người khởi kiện không chỉ phải chứng minh quyền lợi của mình bị ảnh hưởng mà còn phải xây dựng lập luận về tính trái pháp luật của quyết định bị kiện trên cơ sở hồ sơ quản lý hành chính và quy định chuyên ngành.

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng rà soát toàn diện quyết định hành chính để xác định quyết định có thuộc đối tượng khởi kiện hay không và những căn cứ nào có thể được sử dụng để yêu cầu Tòa án xem xét hủy quyết định.

Luật sư có thể kiểm tra thẩm quyền của cơ quan hoặc người ký quyết định, quy trình ban hành, căn cứ pháp luật được viện dẫn, thời điểm áp dụng văn bản và mức độ tác động của nội dung quyết định đối với quyền, lợi ích của khách hàng.

Bên cạnh đó, Long Phan PMT hỗ trợ xác định người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, thời hiệu khởi kiện cũng như Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền tiếp nhận vụ việc.

Trong những trường hợp khách hàng đang cân nhắc giữa khiếu nại và khởi kiện, luật sư có thể phân tích ưu điểm, hạn chế và ảnh hưởng của từng phương án để khách hàng lựa chọn cơ chế phù hợp với mục tiêu xử lý.

Đối với hồ sơ khởi kiện, luật sư hỗ trợ soạn thảo đơn, xác định rõ yêu cầu hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định và sắp xếp các lập luận pháp lý theo từng nhóm sai phạm.

Tùy tính chất vụ việc, hồ sơ có thể liên quan đến đất đai, xây dựng, thuế, xử phạt vi phạm hành chính, cấp phép, đầu tư hoặc những lĩnh vực quản lý nhà nước khác. Việc rà soát tài liệu theo từng nhóm chuyên ngành giúp xác định rõ những chứng cứ còn thiếu và tài liệu cần tiếp tục thu thập.

Long Phan PMT cũng có thể đại diện theo ủy quyền thực hiện các công việc tố tụng phù hợp, bao gồm nộp hồ sơ, giao nộp chứng cứ, tham gia đối thoại và làm việc với Tòa án nhân dân khu vực.

Khi vụ án được đưa ra xét xử, luật sư tham gia phiên tòa, trình bày căn cứ pháp lý, phân tích những điểm bất hợp pháp của quyết định và thực hiện các hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng theo phạm vi ủy quyền.

Trường hợp vụ việc có thiệt hại và khách hàng có nhu cầu yêu cầu bồi thường, luật sư có thể hỗ trợ xây dựng yêu cầu, rà soát chứng cứ chứng minh thiệt hại, mối quan hệ nhân quả và phạm vi bồi thường.

Sau khi bản án hành chính có hiệu lực, việc theo dõi và đôn đốc thực hiện bản án cũng là vấn đề quan trọng nhằm bảo đảm kết quả xét xử được thực hiện trên thực tế.

Việc yêu cầu Tòa án hủy một quyết định hành chính cần được xây dựng trên những sai phạm pháp lý cụ thể về thẩm quyền, trình tự thủ tục, căn cứ áp dụng pháp luật hoặc nội dung trực tiếp xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp. Bên cạnh việc chứng minh quyết định trái pháp luật, người khởi kiện còn phải xác định đúng đối tượng khởi kiện, bảo đảm thời hiệu, lựa chọn đúng Tòa án nhân dân khu vực và chuẩn bị đầy đủ tài liệu, chứng cứ. Trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại, người khởi kiện phải xây dựng yêu cầu và chứng cứ riêng để chứng minh thiệt hại thực tế. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Quy định pháp luật về căn cứ yêu cầu hủy quyết định hành chính

>> Xem thêm: Khởi kiện hành chính quyết định giải quyết tranh chấp đất đa

Read More

My maps