Phân biệt tội mua bán và vận chuyển trái phép ma túy là vấn đề quan trọng khi xác định chính xác tội danh đối với người có hành vi liên quan đến chất ma túy. Mặc dù cả hai hành vi đều có thể xuất hiện trong quá trình dịch chuyển ma túy từ địa điểm này sang địa điểm khác, bản chất pháp lý và mục đích thực hiện lại không hoàn toàn giống nhau.
Những căn cứ cần xem xét để phân biệt tội mua bán và vận chuyển trái phép ma túy
Ranh giới pháp lý giữa tội mua bán trái phép chất ma túy và tội vận chuyển trái phép chất ma túy không chỉ được xác định bằng việc người phạm tội có thực hiện hành vi đưa ma túy từ nơi này sang nơi khác. Yếu tố có ý nghĩa quan trọng hơn là mục đích của việc dịch chuyển, nhận thức của người thực hiện và mối liên hệ giữa hành vi đó với hoạt động mua bán, sản xuất hoặc tàng trữ ma túy.
Theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15, tội vận chuyển trái phép chất ma túy được xác định dựa trên hành vi vận chuyển trái phép nhưng không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy.
Một số điểm pháp lý cần đặc biệt lưu ý:
Ranh giới cơ bản giữa hai tội danh nằm ở mục đích của việc dịch chuyển chất ma túy, không phải đơn thuần ở việc chất ma túy có được đưa từ địa điểm này sang địa điểm khác hay không.
Kể từ ngày 01/7/2025, tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo Điều 250 không còn khung hình phạt tử hình. Trong khi đó, tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 vẫn còn khung hình phạt tử hình tại khoản 5 đối với trường hợp đáp ứng điều kiện luật định.
Người nhận vận chuyển ma túy thuê nhưng nhận thức rõ việc vận chuyển nhằm phục vụ hoạt động mua bán và vẫn cố ý tham gia có thể bị xem xét với vai trò đồng phạm của tội mua bán trái phép chất ma túy, thay vì mặc nhiên xác định là người thực hành độc lập của tội vận chuyển.
Việc xác định không đúng tội danh có thể kéo theo những hệ quả khác nhau về khung hình phạt, vai trò đồng phạm, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phân biệt dựa trên mục đích dịch chuyển chất ma túy
Theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy được đặt ra khi người thực hiện biết và thực hiện việc dịch chuyển trái phép chất ma túy nhưng không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy.
Như vậy, việc một người đang mang, chở hoặc đưa ma túy đến địa điểm khác chưa đủ để kết luận người đó phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Cần xác định lý do và mục đích thực sự đằng sau việc dịch chuyển.
Nếu việc vận chuyển chỉ nhằm đưa chất ma túy từ địa điểm này sang địa điểm khác và không gắn với mục đích mua bán, sản xuất hoặc tàng trữ trái phép thì có thể xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Ngược lại, nếu việc dịch chuyển ma túy là một công đoạn phục vụ cho giao dịch mua bán, chẳng hạn vận chuyển để giao hàng cho người mua hoặc thực hiện một thỏa thuận mua bán ma túy đã được xác lập, thì cần xem xét hành vi theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015. Trong trường hợp này, việc người thực hiện trực tiếp mang hoặc chở ma túy chỉ phản ánh phương thức thực hiện hành vi, chưa phải căn cứ duy nhất để xác định tội danh.
Do đó, khi đánh giá hành vi, cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ nguồn gốc chất ma túy, người giao và người nhận, thỏa thuận giữa các bên, mục đích của việc vận chuyển, cách thức liên hệ, giao nhận và vai trò cụ thể của từng người.
Khung hình phạt đối với hành vi vận chuyển ma túy.
Phân biệt thông qua hành vi khách quan và hoàn cảnh phạm tội
Xét về hành vi khách quan, vận chuyển trái phép chất ma túy thể hiện qua việc đưa chất ma túy từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng những phương thức khác nhau. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 đặt ra giới hạn quan trọng khi loại trừ trường hợp việc vận chuyển được thực hiện nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy.
Có thể xem xét hai tình huống cơ bản:
Người thực hiện biết vật đang được dịch chuyển là chất ma túy, cố ý thực hiện việc đưa chất ma túy đến địa điểm khác nhưng không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy. Nếu các dấu hiệu khác của tội phạm được đáp ứng, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015.
Người thực hiện vận chuyển ma túy để giao cho người mua hoặc biết rõ việc vận chuyển là một phần trong hoạt động mua bán ma túy và vẫn cố ý tham gia thì có thể bị xem xét theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, tùy thuộc vào vai trò cụ thể trong vụ án.
Để làm rõ những vấn đề trên, việc định tội phải dựa trên tổng thể chứng cứ hợp pháp. Các tài liệu có thể được xem xét gồm lời khai của những người liên quan, dữ liệu điện tử, thông tin liên lạc, giao dịch tài chính, tài liệu về việc giao nhận ma túy, mối quan hệ giữa những người tham gia và những chứng cứ khác có liên quan.
Không nên chỉ dựa vào thời điểm người bị bắt đang cầm, giữ hoặc vận chuyển một lượng ma túy nhất định để suy ra mục đích mua bán nếu chưa có căn cứ chứng minh ý thức chủ quan và mục đích thực tế của họ.
Người vận chuyển thuê biết rõ mục đích mua bán có thể là đồng phạm
Một tình huống thường phát sinh trong thực tế là người vận chuyển không phải chủ sở hữu hoặc người trực tiếp mua bán ma túy nhưng nhận tiền để thực hiện việc giao, nhận hoặc vận chuyển. Trong trường hợp này, việc xác định trách nhiệm hình sự không thể chỉ dựa vào việc người đó có trực tiếp mua bán ma túy hay không.
Nếu người vận chuyển biết rõ việc vận chuyển được thực hiện nhằm phục vụ hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và vẫn cố ý tham gia, hành vi có thể được xem xét dưới góc độ đồng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.
Khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Theo khoản 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015, người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
Từ quy định này, người vận chuyển có thể bị xem xét với vai trò giúp sức cho tội mua bán nếu có đủ căn cứ chứng minh người đó biết rõ mục đích mua bán và cố ý cung cấp sự hỗ trợ cần thiết để hoạt động mua bán được thực hiện.
Tuy nhiên, không thể mặc nhiên coi mọi người chở thuê ma túy đều là đồng phạm của tội mua bán. Cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh yếu tố cố ý cùng thực hiện tội phạm theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015. Việc người đó chỉ thực hiện công việc vận chuyển, không biết mục đích mua bán hoặc không có sự thống nhất ý chí với những người mua bán là những vấn đề cần được đánh giá trên cơ sở chứng cứ cụ thể.
Trường hợp người vận chuyển hoàn toàn không biết vật mình nhận vận chuyển là ma túy thì cần tiếp tục đánh giá nhận thức, lỗi và các tình tiết cụ thể trước khi xác định trách nhiệm hình sự. Việc biết hay không biết về bản chất của vật được vận chuyển có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định yếu tố lỗi.
So sánh tội vận chuyển và tội mua bán trái phép chất ma túy
Sau ngày 01/7/2025, Điều 250 và Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15. Vì vậy, khi phân biệt hai tội danh, cần xem xét đồng thời mục đích thực hiện, ý thức chủ quan, hành vi thực tế và vai trò của từng người. Việc chất ma túy được vận chuyển từ nơi này đến nơi khác chỉ là một dữ kiện của vụ án và không phải lúc nào cũng quyết định tội danh.
Quyền của bị cáo trong vụ án về ma túy.
Khung hình phạt của tội vận chuyển và tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy đều có mức hình phạt khởi điểm từ 03 năm đến 07 năm tù tại khoản 1. Tuy nhiên, khi xuất hiện các tình tiết định khung hoặc khối lượng chất ma túy thuộc các mức luật định, hình phạt của hai tội được phân hóa theo những mức khác nhau.
Sự khác biệt này cho thấy việc xác định đúng hành vi ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng có ý nghĩa quan trọng. Cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định đúng bản chất hành vi trước khi áp dụng điều khoản và khung hình phạt tương ứng.
Khung hình phạt đối với tội vận chuyển trái phép chất ma túy
Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, tội vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định với 04 khung hình phạt chính, dựa trên khối lượng chất ma túy và các tình tiết định khung.
Bên cạnh hình phạt chính, khoản 5 Điều 250 quy định các hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm; hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Một điểm đáng chú ý kể từ lần sửa đổi có hiệu lực ngày 01/7/2025 là tội vận chuyển trái phép chất ma túy không còn khung hình phạt tử hình. Mức hình phạt cao nhất được quy định tại khoản 4 Điều 250 là 20 năm tù hoặc tù chung thân.
Khung hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy
Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15, tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định với 05 khung hình phạt chính.
Khoản 6 Điều 251 quy định hình phạt bổ sung tương tự Điều 250, bao gồm phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm; hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điểm khác biệt đáng chú ý giữa hai tội danh là tội mua bán trái phép chất ma túy vẫn có khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại khoản 5 Điều 251 đối với trường hợp đáp ứng các điều kiện luật định về khối lượng chất ma túy. Ví dụ, đối với Heroine, Methamphetamine từ 03 kilôgam trở lên thuộc trường hợp được đề cập trong nội dung nguồn.
Quy định chuyển tiếp đối với hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025
Đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/7/2025 nhưng quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử được tiến hành sau thời điểm luật sửa đổi có hiệu lực, cần xem xét quy định chuyển tiếp tại Điều 4 Luật số 86/2025/QH15.
Theo khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15, nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội được áp dụng đối với hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025 nhưng đang được điều tra, truy tố hoặc xét xử sau thời điểm này.
Khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Luật này còn quy định trường hợp hình phạt tử hình đã được tuyên trước ngày 01/7/2025 đối với người phạm tội tại Điều 250 nhưng chưa thi hành án thì không thi hành; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Đối với Điều 251, việc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân được thực hiện theo các điều kiện cụ thể về khối lượng ma túy và vai trò của người phạm tội trong vụ án, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Hệ quả pháp lý khi xác định nhầm giữa tội mua bán và vận chuyển
Việc xác định không chính xác giữa tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 và tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 có thể tác động trực tiếp đến trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Đặc biệt, kể từ ngày 01/7/2025, sự khác biệt về hình phạt cao nhất giữa hai tội danh càng cần được lưu ý. Điều 250 không còn quy định hình phạt tử hình, trong khi Điều 251 vẫn có khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại khoản 5 đối với trường hợp đáp ứng điều kiện luật định.
Rủi ro khi hành vi vận chuyển bị xác định thành mua bán
Việc định tội cần được thực hiện dựa trên hành vi thực tế, mục đích, ý thức chủ quan và toàn bộ hệ thống chứng cứ hợp pháp của vụ án. Không nên chỉ dựa vào việc một người đang vận chuyển hoặc đang giữ một lượng ma túy nhất định để kết luận người đó có mục đích mua bán.
Nếu hành vi trên thực tế chỉ đáp ứng dấu hiệu của Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 nhưng lại bị xác định theo Điều 251, người bị buộc tội có thể phải đối diện với điều khoản và khung hình phạt khác với bản chất hành vi được chứng minh.
Sự khác biệt càng rõ sau ngày 01/7/2025. Theo Điều 250, mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân; trong khi Điều 251 có thể áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với trường hợp thuộc khoản 5.
Ngoài mức hình phạt, việc định tội không chính xác còn có thể ảnh hưởng đến việc xác định vai trò của từng người trong vụ án, tình tiết định khung, phạm vi truy tố và các căn cứ để quyết định hình phạt.
Vì vậy, trước khi xác định tội danh, cần đánh giá đầy đủ các chứng cứ thể hiện mục đích vận chuyển, nhận thức của người thực hiện, sự liên hệ giữa những người tham gia và vai trò thực tế của từng người.
Quyền của bị can, bị cáo khi không đồng ý với tội danh
Theo khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can có các quyền như được biết lý do mình bị khởi tố; được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai, ý kiến; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; nhận các quyết định, tài liệu tố tụng theo quy định và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Theo Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị cáo cũng có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ; tranh luận tại phiên tòa và thực hiện các quyền tố tụng khác theo quy định.
Do đó, nếu không đồng ý với tội danh bị khởi tố hoặc truy tố, bị can, bị cáo có thể trình bày quan điểm của mình, cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan, đưa ra yêu cầu, thực hiện quyền khiếu nại trong trường hợp pháp luật cho phép và sử dụng quyền bào chữa.
Việc xem xét lại tội danh phải dựa trên chứng cứ hợp pháp và các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 250, Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015. Khối lượng ma túy bị thu giữ có thể là một căn cứ được xem xét nhưng không nên được sử dụng như căn cứ duy nhất để suy ra mục đích mua bán.
Cần làm gì khi bị điều tra về hành vi mua bán hoặc vận chuyển ma túy?
Khi một người bị điều tra, truy tố về hành vi liên quan đến ma túy và có tranh luận về việc áp dụng Điều 250 hay Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, việc thực hiện đúng quyền tố tụng và làm rõ bản chất hành vi là vấn đề cần được chú trọng.
Một số nội dung cần thực hiện gồm:
Mời người bào chữa tham gia sớm: Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can; trường hợp bắt, tạm giữ người thì có thể tham gia từ thời điểm luật định. Việc có người bào chữa tham gia sớm giúp bảo đảm quyền bào chữa và hỗ trợ người bị buộc tội thực hiện các quyền tố tụng theo quy định.
Cung cấp và đề nghị thu thập chứng cứ: Các dữ liệu điện tử, thông tin liên lạc, giao dịch tài chính, lời khai và tài liệu liên quan có thể giúp làm rõ nguồn gốc ma túy, mục đích vận chuyển, quan hệ giữa các bên và vai trò thực tế của từng người.
Đối chiếu loại và khối lượng ma túy: Cần đối chiếu loại, khối lượng hoặc thể tích chất ma túy với Điều 250 hoặc Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 để xác định điều khoản, tình tiết định khung và phạm vi hình phạt có khả năng được áp dụng.
Trình bày ý kiến về căn cứ định tội: Nếu có chứng cứ cho thấy hành vi thực tế không phù hợp với tội danh đang bị khởi tố hoặc truy tố, bị can, bị cáo có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu và thực hiện quyền bào chữa theo Điều 60, Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Làm rõ mục đích và vai trò: Việc xác định người thực hiện hành vi có biết mục đích mua bán hay không, có thống nhất ý chí với những người khác hay không và đã tham gia ở mức độ nào là những vấn đề cần được xem xét dựa trên chứng cứ.
Việc xác định rõ mục đích, ý thức chủ quan, vai trò của từng người và các chứng cứ liên quan ngay từ giai đoạn điều tra là cơ sở để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tội danh phù hợp theo Điều 250 hoặc Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.
Dịch vụ luật sư bào chữa tội mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy tại Long Phan PMT
Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến hành vi bị điều tra, truy tố về tội mua bán hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy, tập trung vào việc rà soát hồ sơ, đánh giá chứng cứ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng theo quy định.
Các nội dung hỗ trợ gồm:
Rà soát hồ sơ vụ án, kết luận điều tra, cáo trạng và đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành.
Đánh giá căn cứ xác định tội danh dựa trên chứng cứ về hành vi, mục đích và ý thức chủ quan của người bị buộc tội.
Phân tích dấu hiệu pháp lý để xác định tội danh phù hợp, đặc biệt trong trường hợp có sự nhầm lẫn giữa hành vi mua bán và vận chuyển trái phép chất ma túy.
Tư vấn phương án bào chữa phù hợp với từng giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
Soạn thảo đơn khiếu nại, kiến nghị đề nghị xem xét lại tội danh, chứng cứ hoặc quyết định tố tụng khi có căn cứ.
Tham gia bào chữa cho khách hàng tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.
Tư vấn về các tình tiết giảm nhẹ và phương án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trong quá trình giải quyết vụ án.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về tội mua bán và vận chuyển trái phép chất ma túy
Dấu hiệu nào được sử dụng để xác định hành vi là vận chuyển hay mua bán ma túy?
Yếu tố cần tập trung làm rõ là mục đích của việc dịch chuyển ma túy tại thời điểm thực hiện hành vi. Việc chất ma túy được đưa từ nơi này sang nơi khác không phải là căn cứ duy nhất để xác định tội vận chuyển.
Theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi năm 2025, hành vi vận chuyển chỉ thuộc trường hợp quy định tại điều này khi không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nếu việc dịch chuyển được thực hiện nhằm phục vụ một giao dịch mua bán đã được thỏa thuận, hành vi cần được xem xét theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 trên cơ sở vai trò và ý thức của người tham gia.
Người vận chuyển ma túy thuê có bị xác định là đồng phạm tội mua bán không?
Không phải mọi trường hợp vận chuyển thuê đều đương nhiên là đồng phạm của tội mua bán trái phép chất ma túy.
Nếu người vận chuyển không biết mục đích mua bán của người thuê thì hành vi của họ có thể được xem xét theo Điều 250 nếu đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Ngược lại, nếu có căn cứ chứng minh người vận chuyển biết rõ ma túy được vận chuyển để phục vụ việc mua bán và vẫn cố ý tham gia, người này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò người giúp sức của tội mua bán theo khoản 1 và khoản 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015.
Tội vận chuyển trái phép chất ma túy hiện còn hình phạt tử hình không?
Kể từ ngày 01/7/2025, tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi năm 2025, không còn khung hình phạt tử hình. Theo khoản 4 Điều 250, mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân.
Trong khi đó, tội mua bán trái phép chất ma túy tại Điều 251 vẫn quy định khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại khoản 5 đối với trường hợp đáp ứng các điều kiện luật định.
Khối lượng ma túy lớn có mặc nhiên chứng minh mục đích mua bán không?
Khối lượng ma túy lớn không đồng nghĩa với việc tự động xác định người thực hiện có mục đích mua bán.
Khi xem xét Điều 250 hoặc Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, cần đánh giá chứng cứ liên quan đến mục đích, nhận thức và ý thức chủ quan của người thực hiện tại thời điểm dịch chuyển chất ma túy. Khối lượng chất ma túy là một dữ kiện cần xem xét cùng các chứng cứ khác chứ không phải căn cứ duy nhất để kết luận về mục đích mua bán.
Bị can có những quyền gì khi không đồng ý với tội danh bị truy tố?
Theo khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu; nhận bản kết luận điều tra, cáo trạng theo quy định; đồng thời có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Bị can, bị cáo cũng có quyền nhờ người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có việc trình bày quan điểm về tội danh và các chứng cứ được sử dụng để xác định trách nhiệm hình sự.
Hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025 nhưng xét xử sau thời điểm này thì áp dụng quy định nào?
Theo khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15, đối với hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025 nhưng đang trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử sau thời điểm này, cần áp dụng nguyên tắc quy định có lợi cho người phạm tội theo điều khoản chuyển tiếp.
Riêng đối với hình phạt tử hình đã được tuyên trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa thi hành án về tội vận chuyển trái phép chất ma túy, khoản 2 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 quy định việc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.





