Tranh chấp đất khởi kiện Tòa án hay Ủy ban là vấn đề cần được xác định ngay từ đầu khi phát sinh mâu thuẫn về quyền sử dụng đất. Việc lựa chọn sai cơ quan có thẩm quyền có thể dẫn đến tình trạng hồ sơ không được tiếp nhận, bị trả lại hoặc phải thực hiện lại thủ tục.
Hai con đường giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định hiện hành
Pháp luật đất đai hiện nay xác lập hai phương thức chủ yếu để giải quyết tranh chấp đất đai. Tùy thuộc vào tình trạng pháp lý của thửa đất và giấy tờ mà các bên đang nắm giữ, tranh chấp có thể được giải quyết tại Tòa án hoặc tại cơ quan hành chính có thẩm quyền.
Điểm quan trọng trước tiên là phải xác định vụ việc có thực sự thuộc phạm vi “tranh chấp đất đai” hay chỉ là một tranh chấp dân sự có liên quan đến quyền sử dụng đất. Khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024 xác định tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Theo đó, tranh chấp nhằm xác định chủ thể nào có quyền sử dụng đối với một diện tích đất cụ thể sẽ thuộc nhóm tranh chấp đất đai và chịu sự điều chỉnh của Điều 235, Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Ngược lại, một số tranh chấp tuy có đối tượng liên quan đến đất nhưng bản chất là tranh chấp dân sự, chẳng hạn tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng. Những trường hợp này không mặc nhiên áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Điều 235, Điều 236 Luật Đất đai 2024 mà được xem xét theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi các bên hoặc một trong các bên có Giấy chứng nhận, các loại giấy chứng nhận tương đương hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024.
Trong trường hợp không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137, khoản 2 Điều 236 cho phép các bên lựa chọn giữa việc yêu cầu UBND có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Như vậy, việc kiểm tra giấy tờ về quyền sử dụng đất là bước quan trọng để xác định ngay từ đầu cơ quan nào có thể tiếp nhận và giải quyết vụ việc.
Hòa giải tại UBND cấp xã là điều kiện cần thực hiện trước khi giải quyết
Một trong những vấn đề thường bị bỏ sót khi xử lý tranh chấp đất đai là thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất. Theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, trước khi Tòa án hoặc UBND có thẩm quyền thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai, các bên phải tiến hành hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất.
Đây là điều kiện bắt buộc chứ không phải một thủ tục tùy nghi mà các bên có thể tự lựa chọn bỏ qua.
Quy định này được đặt ra nhằm tạo cơ hội để các bên tự thỏa thuận, giải quyết bất đồng ngay tại địa phương trước khi vụ việc được chuyển sang cơ chế xét xử hoặc giải quyết hành chính. Đồng thời, việc hòa giải ở cơ sở cũng giúp cơ quan có thẩm quyền xác minh nguồn gốc, quá trình quản lý và sử dụng đất, hiện trạng cũng như nguyên nhân dẫn đến tranh chấp.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ “tranh chấp đất đai” với các tranh chấp dân sự có liên quan đến đất. Nghĩa vụ hòa giải theo Điều 235 Luật Đất đai 2024 được áp dụng đối với tranh chấp đất đai theo khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024. Vì vậy, không phải mọi tranh chấp có đối tượng là quyền sử dụng đất đều bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã.
Trường hợp phải hòa giải và trường hợp được miễn
Hòa giải tại UBND cấp xã được áp dụng đối với tranh chấp đất đai, bất kể các bên đã có Giấy chứng nhận hay chưa. Điều này có nghĩa rằng việc có sổ đỏ không làm mất đi nghĩa vụ hòa giải trước khi tiến hành bước giải quyết tiếp theo.
Ngoại lệ được đề cập tại khoản 5 Điều 235 Luật Đất đai 2024 là trường hợp địa bàn không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã. Khi thuộc trường hợp này, các bên có thể trực tiếp yêu cầu Tòa án hoặc UBND có thẩm quyền giải quyết theo Điều 236 mà không phải thực hiện bước hòa giải tại cấp xã.
Đây là trường hợp đặc thù nên trước khi áp dụng ngoại lệ, người có quyền lợi liên quan cần kiểm tra chính xác tình trạng tổ chức đơn vị hành chính tại địa phương nơi có đất. Việc tự xác định mình thuộc trường hợp được miễn hòa giải nhưng thực tế không đáp ứng điều kiện có thể dẫn đến việc hồ sơ bị từ chối hoặc trả lại.
Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Trình tự hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã
Theo điểm c khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đơn. Trình tự thực hiện được hướng dẫn cụ thể tại Điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP.
Về cơ bản, các bên có thể thực hiện theo các bước sau:
Người có yêu cầu nộp đơn đề nghị hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, UBND cấp xã phải thông báo về việc tiếp nhận, thụ lý hoặc từ chối giải quyết bằng văn bản và nêu rõ lý do theo Điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP.
Sau khi tiếp nhận, UBND cấp xã tiến hành kiểm tra, xác minh nguyên nhân tranh chấp; thu thập, rà soát tài liệu về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng và hiện trạng thửa đất.
Chủ tịch UBND cấp xã thành lập Hội đồng hòa giải theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 để tổ chức thực hiện việc hòa giải.
Phiên hòa giải được tiến hành khi các bên tranh chấp có mặt. Trường hợp một bên vắng mặt đến lần thứ hai thì được xác định là hòa giải không thành theo khoản 1 Điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP.
Kết quả hòa giải được lập thành biên bản. Nếu hòa giải thành và nội dung thỏa thuận làm thay đổi ranh giới, diện tích hoặc người sử dụng đất thì các bên phải gửi văn bản công nhận kết quả hòa giải thành đến cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày làm việc để thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận theo khoản 4 Điều 235 Luật Đất đai 2024.
Nếu hòa giải không thành, biên bản hòa giải là cơ sở để các bên tiếp tục thực hiện quyền lựa chọn cơ quan giải quyết theo Điều 236 Luật Đất đai 2024 trong trường hợp pháp luật cho phép lựa chọn.
Khi nào tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án?
Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong hai nhóm trường hợp chính. Thứ nhất, một bên hoặc các bên có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024. Thứ hai, khi các bên không có những giấy tờ này nhưng lựa chọn con đường khởi kiện tại Tòa án theo khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Tranh chấp có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ theo Điều 137
Theo khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024, nếu một bên hoặc các bên có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận tương đương hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất thuộc Điều 137 thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Trong trường hợp này, các bên không được lựa chọn chuyển sang yêu cầu UBND giải quyết tranh chấp theo cơ chế tại Điều 236.
Điều 137 Luật Đất đai 2024 quy định nhiều nhóm giấy tờ có thể được xem xét, trong đó có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trước ngày 15/10/1993, giấy tờ do nông trường, lâm trường quốc doanh giao đất trước ngày 01/7/2004, giấy tờ về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở và các loại giấy tờ khác đáp ứng điều kiện luật định.
Do đó, việc một người đang giữ một loại giấy tờ “liên quan đến đất” chưa đồng nghĩa với việc giấy tờ đó đương nhiên thuộc Điều 137. Người có tranh chấp cần kiểm tra chính xác nguồn gốc, thời điểm cấp, cơ quan cấp và nội dung của giấy tờ trước khi xác định thẩm quyền.
Nếu giấy tờ không thuộc phạm vi Điều 137 thì vụ việc có thể được xem xét theo khoản 2 Điều 236, tức các bên có quyền lựa chọn giữa Tòa án và UBND theo quy định.
Tranh chấp không có giấy tờ nhưng lựa chọn khởi kiện tại Tòa án
Khi các bên không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024, pháp luật vẫn cho phép lựa chọn khởi kiện tại Tòa án theo điểm b khoản 2 Điều 236.
Đây là quyền lựa chọn của người có tranh chấp, không phải nghĩa vụ bắt buộc.
Một trong những điểm đáng lưu ý của phương thức này là Tòa án giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự, qua đó các bên có thể thực hiện quyền cung cấp, giao nộp và yêu cầu thu thập chứng cứ; đề nghị giám định, đối chất trong trường hợp cần thiết và thực hiện quyền kháng cáo theo trình tự luật định.
Đối với những vụ việc có lịch sử sử dụng đất phức tạp, nguồn gốc đất chưa rõ ràng, nhiều người liên quan hoặc có nhiều tài liệu cần kiểm chứng, người có quyền lợi liên quan cần đánh giá kỹ khả năng chứng minh trước khi lựa chọn phương thức giải quyết.
Xác định quyền quyết định tranh chấp đất đai
Xác định đúng Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền
Từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân cấp huyện không còn tồn tại, Tòa án nhân dân khu vực thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm theo Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, được sửa đổi, bổ sung 2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các tranh chấp dân sự thuộc phạm vi pháp luật quy định, trong đó có tranh chấp đất đai.
Về thẩm quyền theo lãnh thổ, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đối tượng tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Do đó, đối với tranh chấp đất đai, người khởi kiện không áp dụng nguyên tắc thông thường về nơi cư trú của bị đơn để xác định Tòa án.
Sau khi địa giới hành chính và hệ thống Tòa án được tổ chức lại, người khởi kiện cần xác định chính xác Tòa án nhân dân khu vực đang quản lý địa bàn nơi có thửa đất tranh chấp. Việc tiếp tục sử dụng thông tin về Tòa án cấp huyện theo mô hình cũ có thể dẫn đến tình trạng nộp đơn không đúng cơ quan có thẩm quyền.
Khi nào có thể lựa chọn giải quyết tại UBND?
Trong trường hợp không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024, các bên có thể lựa chọn yêu cầu UBND có thẩm quyền giải quyết thay vì khởi kiện tại Tòa án.
Theo khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024, thẩm quyền giải quyết tại UBND được xác định dựa trên chủ thể tham gia tranh chấp.
Đối với những vụ việc có tính chất tương đối đơn giản, hồ sơ địa chính thể hiện tương đối rõ ràng quá trình quản lý và sử dụng đất, việc lựa chọn giải quyết theo thủ tục hành chính có thể là một phương án mà các bên cân nhắc.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quyết định giải quyết của UBND không phải lúc nào cũng chấm dứt hoàn toàn khả năng tranh chấp. Nếu không đồng ý với quyết định, người có quyền lợi liên quan vẫn có thể thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính theo thời hạn pháp luật quy định.
Thẩm quyền UBND theo từng nhóm chủ thể
Theo điểm a, điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024, tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau và tranh chấp có một bên là tổ chức, tổ chức tôn giáo, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được phân định thẩm quyền giải quyết theo từng cấp UBND.
Tuy nhiên, từ ngày 01/7/2025, điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực đất đai đã chuyển giao thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện đối với nhóm hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư cho Chủ tịch UBND cấp xã.
Vì vậy, khi chuẩn bị hồ sơ, người yêu cầu cần đối chiếu đồng thời quy định tại Điều 236 Luật Đất đai 2024 và Nghị định 151/2025/NĐ-CP để xác định đúng cơ quan đang có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết.
Thời hạn phản đối quyết định giải quyết tranh chấp của UBND
Một vấn đề đặc biệt cần lưu ý là thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định giải quyết tranh chấp của UBND.
Theo điểm a, điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024, nếu không đồng ý với quyết định, các bên có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hoặc thực hiện quyền khiếu nại lên cấp có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định.
Nếu hết thời hạn này mà không thực hiện quyền khởi kiện hoặc khiếu nại theo quy định, quyết định của UBND sẽ có hiệu lực thi hành.
Đối với quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã liên quan đến tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư, người không đồng ý có thể thực hiện quyền khởi kiện hành chính hoặc khiếu nại lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo quy định.
Đối với quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh thuộc nhóm tranh chấp có một bên là tổ chức, quyền khiếu nại được thực hiện lên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo quy định, trên cơ sở cơ cấu quản lý đất đai được điều chỉnh sau khi hợp nhất theo Nghị định 35/2025/NĐ-CP.
Nếu quyết định đã có hiệu lực nhưng người có nghĩa vụ không chấp hành, Chủ tịch UBND nơi có đất có thể ban hành quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện theo khoản 4 Điều 236 Luật Đất đai 2024.
So sánh việc khởi kiện tại Tòa án và yêu cầu UBND giải quyết
Việc lựa chọn cơ quan giải quyết cần dựa trên điều kiện pháp luật và đặc điểm thực tế của vụ việc, thay vì chỉ căn cứ vào mong muốn giải quyết nhanh hay chậm.
Mức tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm cần được xác định căn cứ vào văn bản về án phí, lệ phí Tòa án đang có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn. Do quy định về chi phí tố tụng có thể thay đổi theo từng thời kỳ, người có tranh chấp nên kiểm tra cụ thể trước khi thực hiện thủ tục.
Tranh chấp đất đai phát sinh từ hoạt động thương mại
Không phải mọi tranh chấp liên quan đến đất đều được quyền lựa chọn giữa Tòa án và UBND. Khoản 5 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định riêng đối với tranh chấp đất đai phát sinh từ hoạt động thương mại.
Theo đó, những tranh chấp thuộc nhóm này chỉ được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại Việt Nam, không áp dụng phương thức yêu cầu UBND giải quyết theo cơ chế thông thường của Điều 236.
Nhóm tranh chấp này có thể phát sinh giữa các thương nhân hoặc tổ chức có mục đích sinh lợi trong giao dịch liên quan đến đất, chẳng hạn tranh chấp từ hợp đồng chuyển nhượng, hợp tác kinh doanh bất động sản hoặc cho thuê mặt bằng phục vụ hoạt động thương mại.
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 được sử dụng để xác định hoạt động thương mại. Nếu hợp đồng giữa các bên có thỏa thuận trọng tài hợp lệ thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010. Nếu không có thỏa thuận trọng tài phù hợp thì tranh chấp được giải quyết tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.
Do đó, doanh nghiệp cần kiểm tra kỹ điều khoản giải quyết tranh chấp trước khi lựa chọn cơ quan. Trường hợp hợp đồng đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ nhưng một bên vẫn khởi kiện tại Tòa án, hồ sơ có thể bị trả lại do tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Những rủi ro khi xác định sai cơ quan giải quyết tranh chấp
Xác định không đúng cơ quan có thẩm quyền có thể làm quá trình giải quyết tranh chấp bị gián đoạn, phát sinh thêm chi phí và kéo dài thời gian bảo vệ quyền lợi.
Hồ sơ có thể bị trả lại do chưa đủ điều kiện hoặc sai thẩm quyền
Nếu chưa thực hiện hòa giải tại UBND cấp xã trong trường hợp pháp luật bắt buộc phải hòa giải mà đã nộp đơn khởi kiện, Tòa án có thể trả lại đơn vì người khởi kiện chưa đáp ứng điều kiện khởi kiện theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Tương tự, nếu một bên có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 nhưng lại lựa chọn nộp đơn tại UBND thay vì khởi kiện tại Tòa án theo khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024, hồ sơ cũng có nguy cơ bị từ chối do không đúng thẩm quyền.
Vì vậy, trước khi nộp đơn, cần kiểm tra tối thiểu ba vấn đề: bản chất tranh chấp, tình trạng giấy tờ về quyền sử dụng đất và việc hòa giải bắt buộc đã được thực hiện hay chưa.
Không được bỏ qua thời hạn 30 ngày
Thời hạn 30 ngày để khởi kiện hành chính hoặc khiếu nại quyết định của UBND cần được phân biệt với thời hiệu khởi kiện dân sự.
Theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Điều này có nghĩa rằng tranh chấp về quyền sử dụng đất không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện dân sự theo cách thông thường.
Tuy nhiên, quy định này không làm mất đi thời hạn 30 ngày để khởi kiện hành chính hoặc khiếu nại đối với quyết định giải quyết tranh chấp của UBND theo Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Hai khái niệm này có bản chất hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, việc tranh chấp quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu không đồng nghĩa với việc các bên có thể trì hoãn việc phản đối quyết định hành chính của UBND.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ giải quyết tranh chấp đất đai
Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong quá trình xác định thẩm quyền và thực hiện thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai, bao gồm:
Rà soát Giấy chứng nhận, giấy tờ về quyền sử dụng đất và các tài liệu liên quan nhằm xác định cơ quan có thẩm quyền.
Hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ, tài liệu chứng minh nguồn gốc, quá trình quản lý và sử dụng đất.
Đại diện hoặc hỗ trợ khách hàng thực hiện thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã theo quy định.
Soạn thảo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp và các văn bản pháp lý liên quan.
Xác định Tòa án nhân dân khu vực hoặc UBND có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ.
Tư vấn phương án xử lý sau khi hòa giải không thành.
Phân tích những vấn đề cần lưu ý khi lựa chọn Tòa án hoặc UBND trong trường hợp pháp luật cho phép lựa chọn.
Hỗ trợ khách hàng tham gia tố tụng tại Tòa án hoặc làm việc với cơ quan hành chính có thẩm quyền.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ hồ sơ tranh chấp có thể gửi tài liệu qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.
Một số câu hỏi thường gặp về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Đất đã có sổ đỏ thì tranh chấp phải nộp đơn ở đâu?
Nếu một bên hoặc các bên có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024, tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án theo khoản 1 Điều 236. Các bên không được lựa chọn yêu cầu UBND giải quyết theo cơ chế tại Điều 236.
Người khởi kiện cần xác định đúng Tòa án nhân dân khu vực nơi có bất động sản theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Đất chưa có sổ đỏ thì lựa chọn Tòa án hay UBND?
Nếu không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024, các bên có quyền lựa chọn giữa việc khởi kiện tại Tòa án và yêu cầu UBND có thẩm quyền giải quyết theo khoản 2 Điều 236.
Việc lựa chọn cần dựa trên tính chất vụ việc, hệ thống chứng cứ, nguồn gốc đất và phương thức giải quyết mà các bên mong muốn thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép.
Tranh chấp đất đai có bắt buộc hòa giải tại UBND cấp xã không?
Theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất là điều kiện bắt buộc trước khi Tòa án hoặc UBND thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai.
Ngoại lệ là trường hợp địa bàn không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã theo khoản 5 Điều 235. Nếu thuộc trường hợp ngoại lệ này, các bên có thể trực tiếp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất có phải hòa giải tại UBND cấp xã không?
Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất được xác định là tranh chấp dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất, không phải “tranh chấp đất đai” theo khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024.
Do đó, trường hợp này không bắt buộc phải thực hiện thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã theo Điều 235 và các bên có thể khởi kiện trực tiếp tại Tòa án để yêu cầu giải quyết việc chia di sản theo thủ tục tố tụng dân sự.
Không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp của UBND phải làm gì?
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định, người không đồng ý có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hoặc khiếu nại lên cấp có thẩm quyền theo điểm a, điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Nếu không thực hiện quyền khởi kiện hoặc khiếu nại trong thời hạn luật định, quyết định giải quyết của UBND sẽ có hiệu lực thi hành và có thể được tổ chức cưỡng chế theo khoản 4 Điều 236.
Tranh chấp quyền sử dụng đất có bị giới hạn thời hiệu khởi kiện không?
Theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Tuy nhiên, quy định về thời hiệu khởi kiện dân sự cần được phân biệt với thời hạn 30 ngày để khởi kiện hành chính hoặc khiếu nại quyết định giải quyết tranh chấp của UBND. Hai loại thời hạn này có căn cứ pháp lý và hậu quả pháp lý khác nhau.
Tranh chấp đất đai giữa hai doanh nghiệp phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng được giải quyết ở đâu?
Theo khoản 5 Điều 236 Luật Đất đai 2024, tranh chấp đất đai phát sinh từ hoạt động thương mại được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại Việt Nam.
Nếu hợp đồng có thỏa thuận trọng tài hợp lệ thì tranh chấp có thể thuộc thẩm quyền của Trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010. Nếu không có thỏa thuận trọng tài phù hợp, tranh chấp được giải quyết tại Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự.
Việc xác định tranh chấp đất khởi kiện Tòa án hay UBND cần được thực hiện dựa trên bản chất tranh chấp, giấy tờ về quyền sử dụng đất, kết quả hòa giải và quy định về thẩm quyền tương ứng. Trường hợp có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ theo Điều 137 Luật Đất đai 2024 thì tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án; nếu không có các loại giấy tờ này, các bên có thể lựa chọn cơ quan giải quyết trong phạm vi pháp luật cho phép. Đồng thời, cần đặc biệt lưu ý thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã và thời hạn 30 ngày đối với quyền khởi kiện, khiếu nại quyết định của UBND. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Tranh chấp đất khởi kiện Tòa án hay Ủy ban: Cách xác định thẩm quyền
>>> Xem thêm:


