Hiển thị các bài đăng có nhãn biện pháp ngăn chặn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn biện pháp ngăn chặn. Hiển thị tất cả bài đăng

 Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do và quá trình tham gia tố tụng của bị can, bị cáo. Vì vậy, điều kiện thay đổi biện pháp ngăn chặn với bị can, bị cáo là vấn đề cần được xem xét trên cơ sở tính chất vụ án, nhân thân người bị buộc tội và yêu cầu bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định nhiều biện pháp ngăn chặn khác nhau, trong đó bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm là hai biện pháp có thể được áp dụng thay thế tạm giam khi đáp ứng điều kiện luật định. Việc hiểu đúng căn cứ, điều kiện và nghĩa vụ kèm theo sẽ giúp bị can, bị cáo và người thân lựa chọn phương án phù hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

cac-bien-phap-ngan-chan-trong-to-tung-hinh-su-
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

Các biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong tố tụng hình sự

Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp tố tụng được cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng trong những trường hợp luật định nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, hạn chế nguy cơ người bị buộc tội gây khó khăn cho hoạt động tố tụng, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội hoặc nhằm bảo đảm cho việc thi hành án.

Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021, hệ thống các biện pháp ngăn chặn có liên quan gồm:

  • Giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo Điều 110;

  • Bắt người phạm tội quả tang theo Điều 111;

  • Bắt người đang bị truy nã theo Điều 112;

  • Bắt bị can, bị cáo để tạm giam theo Điều 113;

  • Tạm giữ theo Điều 117;

  • Tạm giam theo Điều 119;

  • Bảo lĩnh theo Điều 121;

  • Đặt tiền để bảo đảm theo Điều 122;

  • Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Điều 123;

  • Tạm hoãn xuất cảnh theo Điều 124.

Mỗi biện pháp có đối tượng, điều kiện, thẩm quyền và thời hạn áp dụng riêng. Vì vậy, không thể căn cứ đơn thuần vào mong muốn được tại ngoại của bị can, bị cáo để quyết định thay đổi biện pháp đang áp dụng.

Đặc biệt, bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm được Bộ luật Tố tụng Hình sự xác định là những biện pháp ngăn chặn có thể thay thế tạm giam. Do đó, trong trường hợp bị can, bị cáo đang bị tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét áp dụng một trong hai biện pháp này nếu căn cứ của vụ án và điều kiện cụ thể của người bị buộc tội cho phép.

Khi nào cơ quan tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn?

Khoản 1 Điều 109 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 quy định căn cứ chung để áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Theo đó, cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ cho thấy người bị buộc tội có khả năng gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; có nguy cơ tiếp tục phạm tội; hoặc việc áp dụng biện pháp là cần thiết để bảo đảm thi hành án.

Như vậy, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn phải gắn với mục đích tố tụng cụ thể. Cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét hoàn cảnh của từng vụ án, hành vi bị điều tra, nguy cơ bỏ trốn, khả năng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, khả năng tác động đến người làm chứng, chứng cứ và các yếu tố khác liên quan đến hoạt động giải quyết vụ án.

Điều này đồng thời cho thấy biện pháp ngăn chặn không nhất thiết phải được duy trì giống nhau trong toàn bộ quá trình tố tụng. Khi tình tiết, căn cứ hoặc mức độ cần thiết thay đổi, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét việc hủy bỏ, thay thế hoặc áp dụng một biện pháp phù hợp khác theo quy định.

Điều kiện xem xét thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo

Việc thay đổi biện pháp ngăn chặn không được thực hiện một cách tự động chỉ vì bị can, bị cáo hoặc gia đình có đơn đề nghị. Cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá tổng thể căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn và tình trạng thực tế của người bị buộc tội.

Một số yếu tố thường có ý nghĩa khi xem xét bao gồm tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; nhân thân của bị can, bị cáo; nơi cư trú; khả năng chấp hành yêu cầu triệu tập; nguy cơ bỏ trốn; nguy cơ tiếp tục phạm tội; khả năng gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử và yêu cầu bảo đảm thi hành án.

Đối với trường hợp đang bị tạm giam, Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định cụ thể hai biện pháp thay thế là bảo lĩnh theo Điều 121 và đặt tiền để bảo đảm theo Điều 122. Mặc dù cùng có chức năng thay thế tạm giam, điều kiện của từng biện pháp không hoàn toàn giống nhau.

Điều kiện áp dụng bảo lĩnh thay thế tạm giam

Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 quy định bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam.

Việc bị can, bị cáo có được áp dụng bảo lĩnh hay không trước hết phụ thuộc vào đánh giá của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của người bị buộc tội. Đây là những căn cứ quan trọng để xác định liệu việc tiếp tục tạm giam có còn cần thiết hay có thể thay bằng biện pháp ít nghiêm khắc hơn.

Bảo lĩnh do cá nhân thực hiện

Trường hợp cá nhân đứng ra nhận bảo lĩnh thì phải đáp ứng các yêu cầu mà Điều 121 quy định.

Theo đó, phải có ít nhất hai người là người thân thích của bị can, bị cáo cùng nhận bảo lĩnh. Người nhận bảo lĩnh phải từ đủ 18 tuổi, có nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có thu nhập ổn định và có điều kiện thực tế để quản lý người được bảo lĩnh.

Việc yêu cầu người nhận bảo lĩnh có khả năng quản lý bị can, bị cáo nhằm bảo đảm biện pháp này không chỉ mang tính hình thức. Người nhận bảo lĩnh phải có điều kiện để nhắc nhở, giám sát và hỗ trợ người được bảo lĩnh thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong suốt thời gian biện pháp ngăn chặn có hiệu lực.

Cá nhân nhận bảo lĩnh phải lập giấy cam đoan theo quy định. Giấy cam đoan phải được xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Bảo lĩnh do cơ quan, tổ chức thực hiện

Không chỉ cá nhân mà cơ quan, tổ chức cũng có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thuộc cơ quan, tổ chức mình.

Trong trường hợp này, cơ quan hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh phải lập giấy cam đoan và giấy này phải có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cơ chế này tạo điều kiện để người bị buộc tội có thể được quản lý, giám sát thông qua môi trường làm việc hoặc tổ chức mà họ đang tham gia, nhưng việc có chấp nhận cho bảo lĩnh hay không vẫn thuộc quyền quyết định của cơ quan tố tụng có thẩm quyền.

Nghĩa vụ của bị can, bị cáo được bảo lĩnh

Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ theo khoản 3 Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021.

Việc được bảo lĩnh không đồng nghĩa với việc người bị buộc tội được miễn khỏi các nghĩa vụ tố tụng. Họ vẫn phải tuân thủ những yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

Nếu người được bảo lĩnh không chấp hành các nghĩa vụ đã cam đoan, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc hơn theo quy định.

dieu-kien-bao-linh-hoac-dat-tien-de-thay-the-tam-giam-

Điều kiện bảo lĩnh hoặc đặt tiền để thay thế tạm giam

Điều kiện đặt tiền để bảo đảm thay thế tạm giam

Bên cạnh bảo lĩnh, Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 quy định đặt tiền để bảo đảm là một biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể quyết định cho bị can, bị cáo hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo.

Như vậy, không phải cứ có khả năng tài chính và đồng ý nộp tiền là đương nhiên được thay đổi biện pháp tạm giam. Khả năng đặt tiền chỉ là một yếu tố. Quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào việc cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá có đủ căn cứ để thay thế tạm giam hay không.

Cam đoan của bị can, bị cáo

Khi được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, bị can, bị cáo phải lập giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ theo khoản 2 Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021.

Những nghĩa vụ này nhằm bảo đảm người được áp dụng biện pháp vẫn chịu sự quản lý của cơ quan tiến hành tố tụng và không lợi dụng việc không bị tạm giam để gây trở ngại cho quá trình giải quyết vụ án.

Do đó, sau khi được thay đổi biện pháp ngăn chặn, bị can, bị cáo cần tuân thủ nghiêm túc nội dung cam đoan và yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Trường hợp người thân thích đặt tiền để bảo đảm

Điều 122 cũng cho phép người thân thích của bị can, bị cáo được đặt tiền để bảo đảm nếu được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Người thân thích trong trường hợp này phải lập giấy cam đoan theo quy định và có trách nhiệm không để bị can, bị cáo vi phạm những nghĩa vụ đã được xác lập.

Việc cho phép người thân thích đặt tiền giúp mở rộng khả năng áp dụng biện pháp thay thế tạm giam trong trường hợp bản thân bị can, bị cáo không có đủ điều kiện về tài sản nhưng gia đình có khả năng thực hiện việc bảo đảm.

Hậu quả khi vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan

Một trong những vấn đề đặc biệt cần lưu ý đối với biện pháp đặt tiền để bảo đảm là hậu quả pháp lý phát sinh nếu người được áp dụng biện pháp không tuân thủ nghĩa vụ.

Theo Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021, nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ theo quy định thì có thể bị tạm giam và số tiền đã đặt để bảo đảm có thể bị tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp người thân thích là người đặt tiền thì họ cũng phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ. Nếu xảy ra vi phạm thuộc trường hợp luật quy định, khoản tiền được sử dụng để bảo đảm cũng có thể bị xử lý theo quy định.

Vì vậy, trước khi đề nghị áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, người thực hiện cần hiểu rằng khoản tiền này gắn trực tiếp với trách nhiệm chấp hành nghĩa vụ tố tụng của bị can, bị cáo.

Bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm khác nhau như thế nào?

Mặc dù đều là biện pháp thay thế tạm giam, bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm có cơ chế thực hiện khác nhau.

Đối với bảo lĩnh, trọng tâm của biện pháp nằm ở trách nhiệm quản lý, giám sát và cam kết của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh. Người nhận bảo lĩnh phải đáp ứng điều kiện cụ thể và chịu trách nhiệm trong phạm vi pháp luật quy định đối với việc thực hiện cam kết.

Đối với đặt tiền để bảo đảm, ngoài việc đánh giá tính chất hành vi và nhân thân, cơ quan tiến hành tố tụng còn xem xét tình trạng tài sản của bị can, bị cáo. Biện pháp này gắn với một khoản tiền bảo đảm và khoản tiền có thể bị xử lý nếu người được áp dụng biện pháp vi phạm nghĩa vụ luật định.

Do sự khác biệt này, việc lựa chọn đề nghị bảo lĩnh hay đặt tiền để bảo đảm cần căn cứ vào điều kiện thực tế của bị can, bị cáo và gia đình, đồng thời phải phù hợp với đánh giá của cơ quan có thẩm quyền.

Có đơn xin thay đổi biện pháp ngăn chặn thì có được chấp nhận không?

Việc nộp đơn đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn không đồng nghĩa với việc cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải chấp nhận yêu cầu.

Đơn đề nghị là cơ sở để trình bày những căn cứ, tình tiết và tài liệu mà người làm đơn cho rằng có thể chứng minh việc tiếp tục áp dụng biện pháp hiện tại không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp khác.

Cơ quan có thẩm quyền vẫn phải đánh giá độc lập trên cơ sở hồ sơ vụ án, tính chất hành vi, nhân thân người bị buộc tội và yêu cầu bảo đảm quá trình tố tụng.

Do đó, hồ sơ đề nghị nên trình bày rõ các tình tiết có lợi và kèm theo tài liệu chứng minh phù hợp, thay vì chỉ đề nghị chung chung rằng bị can hoặc bị cáo muốn được tại ngoại.

Những yếu tố cần lưu ý khi đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn

Khi chuẩn bị đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn, bị can, bị cáo và gia đình cần đặc biệt chú ý đến cơ sở pháp lý và tình trạng thực tế của vụ án.

Thông tin về nhân thân, quan hệ gia đình, việc làm, nơi cư trú và khả năng quản lý người bị buộc tội cần được trình bày trung thực, thống nhất với các tài liệu kèm theo.

Nếu đề nghị bảo lĩnh, cần xác định đúng người có đủ điều kiện nhận bảo lĩnh và chuẩn bị giấy cam đoan theo Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021.

Nếu đề nghị đặt tiền để bảo đảm, cần xem xét điều kiện theo Điều 122, chuẩn bị cam đoan của bị can, bị cáo hoặc người thân thích và thực hiện các yêu cầu liên quan khi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Quan trọng hơn, người được thay đổi biện pháp ngăn chặn phải tiếp tục nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ tố tụng. Việc được áp dụng bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm không làm chấm dứt tư cách bị can, bị cáo cũng như trách nhiệm chấp hành yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.

luat-su-tu-van-thay-doi-bien-phap-ngan-chan-cho-bi-can-bi-cao

Luật sư tư vấn thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bị can, bị cáo.

Luật sư tư vấn thay đổi biện pháp ngăn chặn tại Long Phan PMT

Quá trình đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn liên quan đến nhiều yếu tố như giai đoạn tố tụng, thẩm quyền giải quyết, căn cứ áp dụng biện pháp hiện tại, nhân thân của bị can, bị cáo và hồ sơ chứng minh điều kiện áp dụng biện pháp thay thế.

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các công việc:

  • Tư vấn quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự liên quan đến biện pháp ngăn chặn;

  • Phân tích căn cứ đang áp dụng tạm giữ, tạm giam hoặc các biện pháp ngăn chặn khác;

  • Tư vấn điều kiện áp dụng bảo lĩnh theo Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021;

  • Tư vấn điều kiện đặt tiền để bảo đảm theo Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021;

  • Đánh giá hồ sơ và những tình tiết có thể sử dụng khi đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn;

  • Hướng dẫn chuẩn bị giấy cam đoan và các tài liệu chứng minh liên quan;

  • Soạn thảo đơn đề nghị thay đổi hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn;

  • Hỗ trợ khách hàng thực hiện các thủ tục với cơ quan tiến hành tố tụng;

  • Tư vấn quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo sau khi được áp dụng biện pháp thay thế tạm giam;

  • Luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội theo quy định.

Việc áp dụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn phải căn cứ vào từng vụ án cụ thể và quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Đối với trường hợp thay thế tạm giam bằng bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm, bị can, bị cáo phải đáp ứng những điều kiện và nghĩa vụ tương ứng tại Điều 121, Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

 Nguồn: Tại ngoại trong quá trình điều tra có được tự do đi lại không?

Xem thêm: Điều kiện thay đổi biện pháp ngăn chặn với bị can, bị cáo?

XỬ PHẠT KINH DOANH HÀNG KHÔNG RÕ NGUỒN GỐC VÀ CÁCH GIẢM NHẸ



Read More

My maps