Khi tìm hiểu Luật sư bào chữa tội tổ chức đánh bạc, người bị buộc tội và gia đình thường đặc biệt quan tâm đến mức hình phạt có thể phải đối mặt, khả năng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phạm vi công việc mà luật sư có thể thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, trách nhiệm hình sự không chỉ được xác định dựa trên số tiền dùng để đánh bạc mà còn phụ thuộc vào vai trò của từng người, quy mô tổ chức, số người tham gia, khoản thu lợi bất chính và nhiều tình tiết định khung khác. Việc có luật sư nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra chứng cứ, xác định đúng vai trò đồng phạm và xây dựng luận cứ bào chữa phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong từng giai đoạn tố tụng. Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư bào chữa, hỗ trợ đánh giá rủi ro pháp lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội theo đúng quy định.
Luật sư rà soát chứng cứ, vai trò và căn cứ truy tố tội tổ chức đánh bạc.
Bản chất pháp lý của tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là một trong những tội phạm xâm phạm trật tự công cộng được quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Khác với hành vi trực tiếp tham gia đánh bạc, hành vi tổ chức đánh bạc thường thể hiện ở việc đứng ra sắp xếp, điều hành, bố trí địa điểm, chuẩn bị phương tiện, lôi kéo người tham gia hoặc thực hiện những công việc tạo điều kiện để hoạt động đánh bạc trái phép diễn ra.
Trong khi đó, gá bạc thường gắn với việc sử dụng hoặc cho người khác sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình để thực hiện hoạt động đánh bạc trái phép nhằm thu lợi hoặc phục vụ cho hoạt động đánh bạc.
Việc phân biệt chính xác hành vi đánh bạc với tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu một cá nhân chỉ trực tiếp tham gia đánh bạc mà không có hành vi tổ chức, điều hành hoặc tạo điều kiện cho những người khác đánh bạc, việc xác định người đó là người tổ chức có thể không phản ánh đúng bản chất hành vi.
Ngược lại, một người không trực tiếp đặt tiền đánh bạc nhưng thực hiện việc bố trí địa điểm, tập hợp người chơi, phân công cảnh giới, chuẩn bị phương tiện hoặc điều hành hoạt động đánh bạc vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc khi đủ yếu tố cấu thành theo luật định.
Do đó, trong một vụ án có nhiều người tham gia, cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ vai trò của từng cá nhân, gồm:
Người khởi xướng;
Người tổ chức chính;
Người trực tiếp điều hành;
Người quản lý tiền;
Người bố trí địa điểm;
Người chuẩn bị phương tiện;
Người cảnh giới;
Người phục vụ;
Người giúp sức;
Người trực tiếp tham gia đánh bạc.
Việc cá thể hóa hành vi của từng người là cơ sở quan trọng để xác định đúng tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt cụ thể.
Các trường hợp có thể bị xử lý theo khung cơ bản của Điều 322
Theo Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc một trong các trường hợp luật định có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Sử dụng địa điểm cho nhiều người cùng đánh bạc
Một người có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự khi sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho từ 10 người trở lên đánh bạc trong cùng một lúc, đồng thời tổng số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên.
Căn cứ pháp lý của trường hợp này được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khi đánh giá trường hợp này, cần làm rõ:
Địa điểm có thuộc quyền quản lý hoặc sử dụng của người bị buộc tội không;
Có bao nhiêu người tham gia tại cùng một thời điểm;
Tổng số tiền hoặc hiện vật được xác định dùng để đánh bạc là bao nhiêu;
Người quản lý địa điểm có biết và chủ động tạo điều kiện cho việc đánh bạc hay không;
Có khoản thu lợi hoặc lợi ích nào từ việc cho sử dụng địa điểm hay không.
Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá bản chất hành vi.
Tổ chức từ hai chiếu bạc trở lên
Cũng theo Điểm a Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, việc tổ chức từ 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc, với tổng số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên, là một trong những trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Không phải mọi trường hợp có nhiều nhóm người chơi đều đương nhiên được xem là có từ hai chiếu bạc trở lên. Hồ sơ vụ án cần thể hiện rõ cách thức tổ chức, thời điểm hoạt động và mối liên hệ giữa các nhóm đánh bạc.
Luật sư khi nghiên cứu hồ sơ cần kiểm tra kỹ các biên bản bắt quả tang, sơ đồ hiện trường, lời khai, vật chứng và những tài liệu khác để xác định số lượng chiếu bạc được cơ quan tố tụng sử dụng làm căn cứ truy tố có phù hợp với thực tế hay không.
Tổ chức một lần đánh bạc có tổng số tiền hoặc hiện vật từ 20 triệu đồng
Theo Điểm b Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, một trong các căn cứ định tội là tổ chức đánh bạc có tổng số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc trong cùng một lần trị giá từ 20.000.000 đồng trở lên.
Trong trường hợp này, vấn đề quan trọng là xác định chính xác khoản tiền nào thực sự được dùng vào việc đánh bạc.
Không phải toàn bộ tiền mặt được thu giữ tại hiện trường đều mặc nhiên được xem là tiền dùng để đánh bạc. Việc xác định cần căn cứ vào vị trí thu giữ, lời khai, mục đích sử dụng, tài liệu giao dịch và các chứng cứ liên quan.
Đây thường là một trong những nội dung mà luật sư cần kiểm tra kỹ khi xây dựng phương án bào chữa.
Có hành vi chuẩn bị điều kiện phục vụ đánh bạc
Theo Điểm c Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, hành vi chuẩn bị những điều kiện phục vụ hoạt động đánh bạc cũng có thể là căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.
Các biểu hiện có thể bao gồm:
Tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia;
Lắp đặt phương tiện hoặc thiết bị phục vụ đánh bạc;
Phân công người cảnh giới;
Bố trí người phục vụ;
Sắp đặt lối thoát khi bị phát hiện;
Chuẩn bị phương tiện trợ giúp cho hoạt động đánh bạc.
Trong trường hợp có nhiều người cùng tham gia thực hiện các công việc này, cần phân hóa rõ vai trò của từng cá nhân.
Người chỉ thực hiện một công việc nhỏ theo sự phân công, không tham gia điều hành và không hưởng lợi đáng kể cần được đánh giá khác với người chủ động thiết lập, tổ chức và vận hành toàn bộ hoạt động.
Đã bị xử lý nhưng tiếp tục vi phạm
Theo Điểm d Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi liên quan hoặc đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với trường hợp này, cần kiểm tra kỹ:
Quyết định xử phạt trước đây;
Hành vi đã bị xử lý;
Thời điểm bị xử lý;
Tình trạng thi hành quyết định;
Tình trạng xóa án tích nếu trước đó đã bị kết án.
Không thể chỉ dựa vào thông tin chung về việc người đó từng bị xử lý mà bỏ qua điều kiện cụ thể do pháp luật quy định.
Những trường hợp có thể bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng
Theo Khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người phạm tội thuộc một trong các trường hợp định khung tăng nặng có thể bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Đây là mức hình phạt nghiêm khắc hơn đáng kể so với khung cơ bản. Vì vậy, việc kiểm tra căn cứ áp dụng Khoản 2 Điều 322 thường là một trong những nội dung trọng tâm của hoạt động bào chữa.
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Theo Điểm a Khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thuộc khung hình phạt tăng nặng.
Khi cơ quan tố tụng áp dụng tình tiết này, luật sư cần kiểm tra toàn bộ tài liệu chứng minh về:
Số lần thực hiện hành vi;
Tính chất liên tục;
Mục đích thu lợi;
Phương thức tổ chức;
Mức độ chuyên nghiệp hóa của hoạt động.
Việc áp dụng tình tiết định khung phải dựa trên căn cứ cụ thể chứ không chỉ từ nhận định chung rằng hoạt động đánh bạc được tổ chức nhiều lần.
Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên
Theo Điểm b Khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc mà thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên có thể bị áp dụng khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
Việc xác định khoản thu lợi bất chính cần được tách biệt với tổng số tiền được sử dụng để đánh bạc.
Đây là hai khái niệm khác nhau.
Tổng tiền đánh bạc phản ánh quy mô tiền hoặc hiện vật được sử dụng trong hoạt động đánh bạc, trong khi thu lợi bất chính là khoản lợi ích mà người tổ chức hoặc gá bạc thực tế có được từ hành vi phạm tội.
Luật sư cần kiểm tra cách tính của cơ quan tố tụng, bao gồm:
Tiền xâu;
Tiền phí;
Tiền hoa hồng;
Khoản thu trực tiếp từ người chơi;
Khoản lợi ích thực tế người bị buộc tội đã nhận.
Nếu có sai sót trong việc cộng gộp hoặc xác định khoản thu lợi bất chính, việc áp dụng khung tăng nặng có thể cần được xem xét lại.
Sử dụng mạng internet, mạng máy tính hoặc phương tiện điện tử
Theo Điểm c Khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội thuộc trường hợp định khung tăng nặng.
Đối với các vụ án có dữ liệu điện tử, hoạt động bào chữa thường phải tập trung kiểm tra:
Tài khoản điện tử;
Thiết bị thu giữ;
Dữ liệu giao dịch;
Lịch sử đăng nhập;
Tin nhắn;
Lịch sử chuyển tiền;
Tài khoản ngân hàng;
Tài khoản trung gian;
Mối liên hệ giữa thiết bị và người sử dụng.
Dữ liệu điện tử có thể có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chứng minh ai là người tạo tài khoản, điều hành hệ thống hoặc thực hiện giao dịch.
Tái phạm nguy hiểm
Theo Điểm d Khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tái phạm nguy hiểm là căn cứ để áp dụng khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
Khi cơ quan tố tụng áp dụng tình tiết này, hồ sơ bào chữa cần kiểm tra đầy đủ bản án trước đây, thời điểm chấp hành xong hình phạt và tình trạng án tích.
Không nên mặc nhiên cho rằng người từng có tiền án đều thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Hình phạt bổ sung đối với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
Bên cạnh hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung.
Theo Khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người phạm tội có thể bị:
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng;
Tịch thu một phần tài sản;
Tịch thu toàn bộ tài sản.
Vì vậy, khi xây dựng phương án bào chữa, luật sư không chỉ cần quan tâm đến hình phạt tù mà còn phải đánh giá nguy cơ liên quan đến tài sản.
Cần phân biệt tài sản liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội với tài sản hợp pháp không liên quan đến vụ án, trên cơ sở các chứng cứ và quy định pháp luật được áp dụng.
Vai trò của luật sư bào chữa trong vụ án tổ chức đánh bạc
Luật sư bào chữa không chỉ xuất hiện tại phiên tòa để đọc bản luận cứ. Quá trình bào chữa là chuỗi công việc gồm nghiên cứu hồ sơ, phân tích chứng cứ, đánh giá tội danh, xác định khung hình phạt, chuẩn bị tài liệu giảm nhẹ và tham gia tranh tụng.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và Luật Luật sư, luật sư có thể tham gia với tư cách người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can hoặc bị cáo khi đáp ứng điều kiện theo quy định.
Nghiên cứu hồ sơ để xác định đúng vai trò
Trong vụ án tổ chức đánh bạc thường có nhiều người cùng bị xử lý.
Tuy nhiên, mức độ tham gia của mỗi cá nhân có thể rất khác nhau.
Có người là người đứng ra tổ chức toàn bộ hoạt động.
Có người chỉ thực hiện nhiệm vụ cảnh giới.
Có người cung cấp địa điểm.
Có người thu tiền.
Có người tham gia phục vụ trong thời gian ngắn.
Có người chỉ trực tiếp đánh bạc.
Việc xác định vai trò cần dựa trên chứng cứ.
Luật sư có thể nghiên cứu:
Lời khai của bị can, bị cáo;
Lời khai của những người liên quan;
Biên bản bắt quả tang;
Biên bản khám xét;
Vật chứng;
Dữ liệu điện tử;
Sao kê tài khoản;
Hình ảnh;
Video;
Dữ liệu từ điện thoại;
Các tài liệu tố tụng khác.
Mục tiêu là xác định mức độ tham gia thực tế của thân chủ, tránh trường hợp trách nhiệm hình sự bị đánh đồng với người chủ mưu hoặc người điều hành chính.
Kiểm tra tính hợp pháp và giá trị chứng minh của chứng cứ
Không phải mọi tài liệu có trong hồ sơ đều có cùng giá trị chứng minh.
Luật sư cần kiểm tra mối liên hệ giữa từng chứng cứ với hành vi bị buộc tội, đồng thời xác định có mâu thuẫn giữa các lời khai hoặc tài liệu hay không.
Ví dụ, nếu cáo trạng xác định một người là người thu tiền nhưng hồ sơ không có tài liệu về việc nhận tiền hoặc quản lý tài khoản, luật sư cần làm rõ căn cứ của nhận định đó.
Nếu số tiền dùng để đánh bạc được xác định dựa trên tài liệu chưa rõ nguồn gốc, đây cũng có thể là vấn đề cần tranh luận.
Xác định tội danh có phù hợp không
Một trong những nội dung quan trọng của hoạt động bào chữa là đánh giá liệu hành vi đã đủ căn cứ cấu thành tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 hay chưa.
Nếu hồ sơ chưa chứng minh được hành vi tổ chức, điều hành, bố trí địa điểm hoặc chuẩn bị điều kiện để người khác đánh bạc, luật sư có thể đề nghị cơ quan tố tụng xem xét lại bản chất hành vi.
Trong trường hợp chứng cứ cho thấy người bị buộc tội chỉ trực tiếp tham gia đánh bạc, việc định tội cần được xem xét trên cơ sở hành vi thực tế thay vì suy đoán từ mối quan hệ với người tổ chức.
Phạm vi công việc của luật sư khi nhận bào chữa
Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 24 Luật Luật sư 2006, luật sư chỉ nhận vụ việc theo khả năng của mình và thực hiện dịch vụ trong phạm vi yêu cầu của khách hàng. Khi nhận vụ việc, luật sư phải thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp.
Từ đó, phạm vi công việc có thể được xác định tùy từng giai đoạn và yêu cầu.
Rà soát tài liệu ban đầu
Luật sư có thể tiếp nhận các tài liệu như:
Cáo trạng;
Quyết định khởi tố;
Quyết định đưa vụ án ra xét xử;
Giấy triệu tập;
Bản án sơ thẩm;
Đơn kháng cáo;
Tài liệu về nhân thân;
Tài liệu chứng minh hoàn cảnh gia đình.
Từ hồ sơ ban đầu, luật sư đánh giá sơ bộ:
Tội danh;
Khoản truy tố;
Khung hình phạt;
Vai trò của thân chủ;
Tình tiết tăng nặng;
Tình tiết giảm nhẹ;
Những điểm cần tiếp tục thu thập chứng cứ.
Xây dựng hướng bào chữa
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, luật sư cần xác định mục tiêu phù hợp.
Có vụ án trọng tâm là đề nghị xem xét lại tội danh.
Có vụ án trọng tâm là loại trừ khung hình phạt tăng nặng.
Có trường hợp việc phạm tội đã tương đối rõ nên mục tiêu chủ yếu là chứng minh vai trò hạn chế và bổ sung tình tiết giảm nhẹ.
Việc lựa chọn hướng bào chữa cần dựa trên chứng cứ, không dựa vào mong muốn chủ quan.
Tham gia tranh tụng tại phiên tòa
Tại phiên tòa, luật sư có thể tập trung làm rõ:
Mâu thuẫn trong lời khai;
Vai trò thực tế của bị cáo;
Nguồn gốc số tiền;
Khoản thu lợi bất chính;
Việc quản lý địa điểm;
Việc phân công cảnh giới;
Việc sử dụng phương tiện điện tử;
Nhân thân;
Hoàn cảnh;
Các tình tiết giảm nhẹ.
Luật sư có thể trình bày luận cứ và đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá toàn diện vụ án trên cơ sở chứng cứ.
Nguyên tắc luật sư không được cam kết trước kết quả vụ án
Luật sư có trách nhiệm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng bằng những phương thức hợp pháp.
Theo Khoản 3, Khoản 4 Điều 5 Luật Luật sư 2006, hoạt động hành nghề phải bảo đảm tính độc lập, trung thực và tôn trọng sự thật khách quan.
Do đó, luật sư không thể bảo đảm trước rằng một bị cáo chắc chắn được tuyên vô tội, chắc chắn được án treo hoặc chắc chắn được giảm đến một mức án cụ thể.
Theo Điểm d và Điểm đ Khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012, những hành vi lừa dối khách hàng, hứa hẹn kết quả hoặc đòi hỏi thêm lợi ích ngoài khoản thù lao đã thỏa thuận là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.
Dịch vụ bào chữa chuyên nghiệp vì vậy phải tập trung vào chất lượng nghiên cứu hồ sơ, luận cứ pháp lý và kỹ năng tranh tụng, thay vì lời cam kết trước kết quả.
Tài liệu khách hàng nên chuẩn bị trước khi làm việc với luật sư
Pháp luật không quy định một danh mục cố định bắt buộc khách hàng phải cung cấp khi thuê luật sư bào chữa.
Tuy nhiên, hồ sơ càng đầy đủ, việc đánh giá phương án càng thuận lợi.
Tài liệu tố tụng
Khách hàng nên cung cấp nếu có:
Bản cáo trạng;
Quyết định đưa vụ án ra xét xử;
Giấy triệu tập;
Các thông báo tố tụng;
Quyết định liên quan đến bị can, bị cáo.
Các tài liệu này giúp xác định chính xác tội danh và khung hình phạt cơ quan tố tụng đang áp dụng.
Bản án hoặc tài liệu của giai đoạn trước
Nếu vụ án đang ở giai đoạn phúc thẩm, cần chuẩn bị:
Bản án sơ thẩm;
Đơn kháng cáo;
Biên bản phiên tòa nếu có;
Tài liệu mới được thu thập sau phiên tòa sơ thẩm.
Luật sư sẽ dựa vào đó để đánh giá nội dung nào có thể đề nghị cấp phúc thẩm xem xét.
Chứng cứ thể hiện vai trò hạn chế
Nếu thân chủ không phải người tổ chức chính, cần tìm các tài liệu chứng minh:
Không quản lý tiền;
Không điều hành;
Không lôi kéo người chơi;
Không sở hữu hoặc quản lý địa điểm;
Không hưởng lợi;
Không phân công người khác;
Chỉ thực hiện một công việc hạn chế.
Những chứng cứ này có giá trị trong việc phân hóa vai trò.
Hồ sơ nhân thân
Có thể gồm:
Xác nhận cư trú;
Xác nhận nhân thân;
Tài liệu về hoàn cảnh gia đình;
Tài liệu chứng minh người phụ thuộc;
Bệnh án;
Tài liệu về đóng góp cho xã hội;
Các giấy tờ khác thể hiện nhân thân.
Nhóm tài liệu này có thể hỗ trợ quá trình đề nghị giảm nhẹ.
Tài liệu về thái độ hợp tác
Khách hàng có thể cung cấp:
Biên lai nộp tiền;
Biên bản giao nộp tài sản;
Tài liệu chứng minh hợp tác;
Tài liệu thể hiện việc chấp hành các yêu cầu của cơ quan tố tụng.
Việc sắp xếp hồ sơ theo từng nhóm sẽ giúp luật sư nghiên cứu thuận lợi hơn.
Xây dựng luận cứ bào chữa và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ phù hợp
Dịch vụ luật sư bào chữa tội tổ chức đánh bạc tại Long Phan PMT
Vụ án tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc có thể liên quan đồng thời đến nhiều người, nhiều lời khai, nhiều tài khoản, dòng tiền và vật chứng khác nhau. Nếu không rà soát toàn diện hồ sơ, người bị buộc tội có thể gặp khó khăn khi xác định điểm bất lợi cũng như những chứng cứ có thể được sử dụng để bảo vệ quyền lợi.
Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư bào chữa với các công việc như:
Nghiên cứu cáo trạng và hồ sơ vụ án;
Đánh giá căn cứ định tội theo Điều 322;
Xác định khung hình phạt đang được áp dụng;
Kiểm tra số người tham gia đánh bạc;
Kiểm tra số lượng chiếu bạc;
Rà soát số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc;
Đánh giá khoản thu lợi bất chính;
Rà soát dữ liệu điện tử;
Xác định vai trò đồng phạm;
Phân hóa trách nhiệm của từng bị can, bị cáo;
Đánh giá chứng cứ buộc tội;
Xác định mâu thuẫn trong lời khai;
Đề xuất thu thập chứng cứ có lợi khi có căn cứ;
Tư vấn phương án bào chữa;
Xây dựng luận cứ về tội danh;
Xây dựng luận cứ loại trừ tình tiết định khung;
Chuẩn bị hồ sơ tình tiết giảm nhẹ;
Đề nghị áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Đánh giá căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Soạn thảo văn bản tố tụng;
Tham gia làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng trong phạm vi pháp luật cho phép;
Tham gia tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm;
Tham gia tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm;
Tư vấn nội dung kháng cáo;
Đánh giá bản án sơ thẩm;
Bảo mật thông tin vụ án và thông tin khách hàng, trừ trường hợp khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.
Việc sử dụng dịch vụ luật sư cần được thực hiện càng sớm càng tốt khi gia đình đã có tài liệu tố tụng như quyết định khởi tố, cáo trạng, giấy triệu tập hoặc bản án.
Điều này giúp luật sư có thêm điều kiện để nghiên cứu diễn biến vụ án, kiểm tra chứng cứ và xác định chiến lược phù hợp với từng giai đoạn.
Luật sư bào chữa tội tổ chức đánh bạc có thể hỗ trợ đánh giá đúng tội danh, vai trò đồng phạm, số tiền đánh bạc, khoản thu lợi bất chính, căn cứ định khung và các tình tiết giảm nhẹ theo Điều 322, Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, đồng thời tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Phạm vi công việc và dịch vụ luật sư bào chữa tội tổ chức đánh bạc tại Tòa án



0 comments
Đăng nhận xét