Thời hạn giải quyết kháng cáo dân sự là nội dung đương sự cần đặc biệt lưu ý khi không đồng ý với bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án. Việc xác định chính xác ngày bắt đầu, ngày kết thúc thời hạn, thời điểm nộp đơn và nghĩa vụ tạm ứng án phí giúp người kháng cáo tránh nguy cơ mất quyền yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bên cạnh đó, chủ động theo dõi từng giai đoạn tố tụng còn tạo điều kiện để đương sự chuẩn bị chứng cứ, luận cứ và phương án bảo vệ quyền lợi phù hợp. Long Phan PMT phân tích cụ thể các quy định liên quan trong nội dung dưới đây.
Những mốc thời gian cần đặc biệt lưu ý khi kháng cáo dân sự
Kháng cáo là quyền tố tụng quan trọng nhưng chỉ được bảo đảm khi người có quyền thực hiện đúng thời hạn, đúng hình thức và đúng trình tự pháp luật quy định. Một số mốc thời gian cơ bản mà đương sự cần ghi nhớ gồm:
Thời hạn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm thông thường là 15 ngày;
Thời hạn kháng cáo quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án là 07 ngày;
Thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án;
Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm thông thường là 02 tháng, có thể được kéo dài nhưng không quá 01 tháng;
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 01 tháng; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này có thể kéo dài đến 02 tháng.
Việc nhầm lẫn giữa thời hạn kháng cáo bản án và thời hạn kháng cáo quyết định có thể khiến đơn bị xác định là quá hạn. Tương tự, dù đơn kháng cáo được nộp đúng thời gian nhưng người kháng cáo không hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì vẫn có nguy cơ bị coi là từ bỏ quyền kháng cáo.
Đối với trường hợp vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, người kháng cáo không nên mặc nhiên cho rằng thời hạn luôn được tính từ ngày nhận bản án. Việc xác định thời điểm bắt đầu còn phụ thuộc vào lý do vắng mặt, biên bản phiên tòa, tài liệu triệu tập, quá trình tống đạt và việc niêm yết bản án theo đúng quy định.
Bản chất của quyền kháng cáo trong tố tụng dân sự
Kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm là quyền của chủ thể tham gia tố tụng nhằm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần phán quyết chưa có hiệu lực pháp luật. Đây là cơ chế giúp đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, áp dụng pháp luật chưa chính xác hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, những chủ thể có quyền kháng cáo bao gồm:
Đương sự trong vụ án;
Người đại diện hợp pháp của đương sự;
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Quyền kháng cáo phải được thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép. Người kháng cáo cần xác định cụ thể phần nào của bản án hoặc quyết định sơ thẩm mà mình không đồng ý, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án, hủy án hay xem xét lại một nội dung cụ thể.
Tòa án cấp phúc thẩm không mặc nhiên giải quyết lại toàn bộ vụ án từ đầu. Phạm vi xem xét phúc thẩm được giới hạn trong phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị và những nội dung có liên quan trực tiếp đến việc xem xét kháng cáo, kháng nghị theo trình tự tố tụng luật định.
Do đó, đơn kháng cáo không nên chỉ trình bày chung chung rằng người kháng cáo “không đồng ý với bản án”. Nội dung đơn cần chỉ rõ:
Bản án hoặc quyết định bị kháng cáo;
Phần nội dung cụ thể bị phản đối;
Lý do cho rằng phán quyết sơ thẩm chưa phù hợp;
Yêu cầu của người kháng cáo đối với Tòa án cấp phúc thẩm;
Tài liệu, chứng cứ và căn cứ pháp lý dùng để bảo vệ yêu cầu.
Việc xác định không đúng tư cách kháng cáo, trình bày yêu cầu không rõ ràng hoặc kháng cáo đối với nội dung không liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình có thể làm quá trình kiểm tra, xử lý đơn bị kéo dài.
Thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết đơn kháng cáo dân sự
Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đơn kháng cáo có thể được nộp tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Trên thực tế, việc gửi đơn đến Tòa án đã ban hành bản án, quyết định sơ thẩm thường thuận lợi hơn cho quá trình kiểm tra, xác nhận thời hạn và hoàn thiện hồ sơ.
Tòa án đã xét xử sơ thẩm có trách nhiệm tiếp nhận đơn, kiểm tra tư cách người kháng cáo, nội dung kháng cáo, thời hạn nộp đơn và nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Sau khi hoàn thành các thủ tục cần thiết, hồ sơ vụ án mới được chuyển đến Tòa án cấp phúc thẩm để thụ lý và giải quyết.
Theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trừ những trường hợp thuộc ngoại lệ do pháp luật quy định.
Đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Thẩm quyền này được xác định theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Khi chuẩn bị kháng cáo, đương sự nên rà soát đồng thời các tài liệu sau:
Bản án hoặc quyết định sơ thẩm;
Biên bản phiên tòa;
Giấy triệu tập tham gia phiên tòa;
Tài liệu giao nhận hoặc niêm yết bản án;
Biên bản tống đạt;
Giấy ủy quyền hoặc tài liệu chứng minh tư cách đại diện;
Chứng cứ liên quan đến nội dung đề nghị xét xử phúc thẩm.
Việc kiểm tra đầy đủ hồ sơ ngay từ đầu giúp người kháng cáo xác định đúng Tòa án tiếp nhận, phạm vi yêu cầu, ngày bắt đầu thời hạn và phương án bảo vệ quyền lợi tại cấp phúc thẩm.
Thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết đơn kháng cáo dân sự
Thời hạn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm
Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày.
Đối với đương sự có mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày Tòa án tuyên án. Điều này có nghĩa là người tham gia phiên tòa không phải chờ đến khi nhận được bản án bằng văn bản mới bắt đầu tính thời hạn.
Ví dụ, nếu Tòa án tuyên án vào ngày 01 thì ngày xảy ra sự kiện không được tính vào thời hạn. Thời hạn kháng cáo bắt đầu từ ngày tiếp theo và kết thúc khi đủ 15 ngày theo nguyên tắc tính thời hạn tố tụng.
Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày người đó nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp vắng mặt đều đương nhiên được áp dụng cách tính từ ngày nhận bản án. Tòa án có thể xem xét:
Đương sự có được triệu tập hợp lệ hay không;
Đương sự vắng mặt có lý do chính đáng hay không;
Lý do vắng mặt có được trình bày và chứng minh hay không;
Bản án đã được giao nhận hoặc niêm yết vào ngày nào;
Việc tống đạt có tuân thủ đúng thủ tục luật định hay không.
Nếu lý do vắng mặt không được chấp nhận, thời hạn kháng cáo có thể vẫn được xác định từ ngày tuyên án. Vì vậy, ngay khi biết Tòa án đã xét xử hoặc tuyên án, đương sự cần chủ động liên hệ để kiểm tra hồ sơ, không nên chờ đến khi nhận được bản án mới bắt đầu chuẩn bị đơn.
Thời hạn kháng cáo quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án
Khác với bản án sơ thẩm, thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là 07 ngày.
Thời hạn này được tính kể từ ngày đương sự nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định.
Sự khác biệt giữa mốc 15 ngày và 07 ngày có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn. Nếu người kháng cáo áp dụng nhầm thời hạn 15 ngày cho quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ thì đơn có thể bị nộp muộn.
Ngay khi nhận được quyết định, đương sự cần kiểm tra:
Ngày ghi trên quyết định;
Ngày trực tiếp nhận quyết định;
Ngày ký biên bản giao nhận;
Ngày quyết định được niêm yết;
Nội dung và lý do Tòa án tạm đình chỉ hoặc đình chỉ;
Quyền kháng cáo được hướng dẫn tại phần cuối quyết định.
Do thời hạn chỉ có 07 ngày, việc chuẩn bị đơn cần được thực hiện ngay. Người kháng cáo có thể bổ sung lập luận và tài liệu trong quá trình giải quyết phúc thẩm nếu đáp ứng điều kiện luật định, nhưng trước hết phải bảo đảm gửi đơn trong thời hạn.
Nguyên tắc xác định ngày bắt đầu thời hạn kháng cáo
Điều 183 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định cách tính thời hạn tố tụng, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thời hạn tố tụng được thực hiện theo các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự.
Theo Điều 147 và Điều 148 Bộ luật Dân sự 2015, khi thời hạn được xác định bằng ngày thì ngày xảy ra sự kiện làm phát sinh thời hạn không được tính vào thời hạn. Thời hạn bắt đầu từ ngày tiếp theo liền kề ngày xảy ra sự kiện.
Sự kiện làm phát sinh thời hạn kháng cáo có thể là:
Ngày tuyên án;
Ngày đương sự nhận được bản án;
Ngày bản án được niêm yết;
Ngày đương sự nhận quyết định tạm đình chỉ;
Ngày đương sự nhận quyết định đình chỉ;
Ngày quyết định được niêm yết.
Ví dụ, nếu đương sự có mặt tại phiên tòa và Tòa án tuyên án vào ngày 10 thì ngày 10 không được tính. Ngày đầu tiên của thời hạn kháng cáo là ngày 11.
Nếu đương sự vắng mặt có lý do chính đáng và nhận bản án vào ngày 10 thì thời hạn cũng bắt đầu từ ngày 11.
Việc xác định chính xác ngày xảy ra sự kiện là nền tảng để tính ngày cuối cùng. Đương sự không nên chỉ dựa vào trí nhớ mà cần căn cứ vào tài liệu thể hiện ngày giao nhận, dấu bưu chính, biên bản tống đạt hoặc văn bản niêm yết.
Nguyên tắc xác định ngày cuối cùng của thời hạn
Theo Điều 147 và Điều 148 Bộ luật Dân sự 2015, nếu ngày cuối cùng của thời hạn rơi vào ngày nghỉ hằng tuần hoặc ngày nghỉ lễ theo quy định thì thời hạn kết thúc vào ngày làm việc tiếp theo.
Quy tắc này giúp bảo đảm người có quyền kháng cáo không bị mất quyền chỉ vì ngày cuối cùng trùng với thời gian Tòa án không làm việc.
Tuy nhiên, đương sự không nên chủ quan chờ đến ngày cuối cùng mới gửi đơn. Một số rủi ro thường gặp gồm:
Đơn chưa có chữ ký của người kháng cáo;
Ghi sai số bản án hoặc quyết định;
Gửi nhầm địa chỉ Tòa án;
Bưu điện không đóng dấu ngày gửi rõ ràng;
Không lựa chọn hình thức thư có xác nhận;
Không giữ lại biên lai và mã vận đơn;
Người đại diện chưa có giấy ủy quyền hợp lệ;
Đơn bị yêu cầu sửa đổi, bổ sung;
Tài liệu điện tử hoặc bản sao không thể hiện rõ nội dung;
Phát sinh sự cố kỹ thuật hoặc trở ngại trong việc di chuyển.
Phương án an toàn là hoàn thiện và gửi đơn trước ngày hết hạn một khoảng thời gian hợp lý. Việc gửi sớm giúp đương sự có cơ hội khắc phục nếu đơn bị trả lại do sai địa chỉ hoặc thiếu thông tin.
Phương thức nộp đơn và cách xác định ngày kháng cáo hợp lệ
Khoản 3 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định ngày kháng cáo được xác định khác nhau tùy theo phương thức gửi đơn. Đây là vấn đề đương sự cần đặc biệt quan tâm vì thời điểm Tòa án nhận đơn không phải lúc nào cũng là ngày kháng cáo.
Nộp trực tiếp tại Tòa án
Người kháng cáo có thể nộp đơn trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ của Tòa án đã xét xử sơ thẩm.
Trong trường hợp này, ngày kháng cáo được xác định là ngày Tòa án tiếp nhận đơn. Người nộp nên chuẩn bị ít nhất hai bản, trong đó một bản giao cho Tòa án và một bản đề nghị đóng dấu nhận để lưu giữ.
Bản lưu nên thể hiện rõ:
Ngày, tháng, năm tiếp nhận;
Dấu của cơ quan tiếp nhận;
Chữ ký hoặc xác nhận của cán bộ nhận đơn;
Số lượng tài liệu nộp kèm;
Số biên nhận hồ sơ nếu có.
Không nên giao đơn mà không yêu cầu bất kỳ giấy tờ xác nhận nào. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp về thời hạn, bản sao có dấu nhận là chứng cứ trực tiếp chứng minh ngày nộp.
Gửi đơn thông qua dịch vụ bưu chính
Người kháng cáo có thể gửi đơn bằng dịch vụ bưu chính đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm.
Ngày kháng cáo được xác định theo ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu trên phong bì, không phải ngày Tòa án thực tế nhận được đơn.
Để bảo đảm khả năng chứng minh, người gửi nên:
Sử dụng thư bảo đảm hoặc dịch vụ có mã theo dõi;
Yêu cầu ghi rõ ngày gửi;
Giữ biên lai gửi thư;
Lưu mã vận đơn;
Chụp lại phong bì và toàn bộ hồ sơ trước khi gửi;
Theo dõi trạng thái phát thư;
Lưu thông báo giao thành công;
Đề nghị cung cấp bản sao phong bì nếu cần thiết.
Nếu gửi đơn vào ngày cuối cùng nhưng dấu bưu chính không rõ hoặc không có chứng từ chứng minh, đương sự có thể gặp khó khăn khi Tòa án xác định ngày thực hiện quyền kháng cáo.
Gửi đơn thông qua giám thị trại giam
Đương sự đang bị tạm giam có thể giao đơn kháng cáo cho giám thị trại giam.
Ngày kháng cáo được xác định là ngày giám thị trại giam xác nhận đã nhận đơn. Xác nhận cần thể hiện cụ thể ngày giao nhận để làm căn cứ kiểm tra thời hạn.
Người kháng cáo nên yêu cầu lập tài liệu xác nhận hoặc lưu lại bản sao có chữ ký, ngày tháng rõ ràng. Việc chỉ giao bằng lời nói hoặc không có tài liệu chứng minh có thể gây bất lợi khi hồ sơ được chuyển đến Tòa án sau thời hạn.
Nội dung cần có trong đơn kháng cáo
Để được xử lý thuận lợi, đơn kháng cáo cần trình bày rõ ràng, thống nhất với nội dung bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
Các thông tin cơ bản nên có gồm:
Ngày, tháng, năm làm đơn;
Tên Tòa án nhận đơn;
Họ tên, địa chỉ, thông tin liên hệ của người kháng cáo;
Tư cách tham gia tố tụng;
Số, ngày ban hành bản án hoặc quyết định bị kháng cáo;
Tên Tòa án đã xét xử sơ thẩm;
Phần bản án hoặc quyết định bị kháng cáo;
Lý do kháng cáo;
Yêu cầu cụ thể đối với Tòa án cấp phúc thẩm;
Danh mục tài liệu, chứng cứ nộp kèm;
Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
Lý do kháng cáo có thể liên quan đến việc Tòa án đánh giá chứng cứ chưa khách quan, bỏ sót người tham gia tố tụng, xác định sai quan hệ pháp luật, áp dụng không đúng quy định, tính toán nghĩa vụ không chính xác hoặc có vi phạm thủ tục ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.
Người kháng cáo không nên đưa ra quá nhiều nội dung không liên quan. Lập luận cần tập trung vào phần phán quyết bị phản đối và kết quả mà người kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét.
Quy trình kiểm tra và xử lý đơn tại Tòa án cấp sơ thẩm
Sau khi tiếp nhận đơn, Tòa án đã xét xử sơ thẩm sẽ kiểm tra tính hợp lệ của việc kháng cáo.
Quá trình kiểm tra thường tập trung vào các vấn đề:
Người nộp đơn có quyền kháng cáo hay không;
Đơn có được nộp trong thời hạn luật định hay không;
Bản án hoặc quyết định bị kháng cáo có thuộc đối tượng được kháng cáo hay không;
Nội dung đơn có đầy đủ thông tin hay không;
Phạm vi và yêu cầu kháng cáo có được xác định rõ hay không;
Người ký đơn có đúng thẩm quyền hay không;
Trường hợp đại diện có giấy tờ chứng minh hợp lệ hay không;
Người kháng cáo có thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí hay không.
Nếu đơn chưa hợp lệ, Tòa án có thể yêu cầu người kháng cáo sửa đổi hoặc bổ sung. Người kháng cáo cần thực hiện theo đúng nội dung được yêu cầu, đồng thời bảo đảm yêu cầu sửa đổi không làm thay đổi chủ thể hoặc bản chất của quyền kháng cáo.
Đối với đơn có dấu hiệu nộp quá hạn, Tòa án có quyền yêu cầu người kháng cáo trình bày, giải thích nguyên nhân theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Khi sửa đổi, bổ sung đơn, đương sự nên đối chiếu trực tiếp với:
Bản án sơ thẩm;
Phần quyết định của bản án;
Biên bản phiên tòa;
Tài liệu chứng minh ngày nộp đơn;
Chứng cứ liên quan đến lý do kháng cáo;
Yêu cầu cụ thể mà mình đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết.
Việc theo dõi thường xuyên thông báo của Tòa án rất cần thiết. Nếu thay đổi địa chỉ hoặc thông tin liên hệ nhưng không thông báo kịp thời, người kháng cáo có thể không nhận được yêu cầu sửa đổi hoặc thông báo nộp tiền tạm ứng án phí.
Bản chất của quyền kháng cáo trong tố tụng dân sự
Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm
Sau khi xác định đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm thông báo cho người kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp họ được miễn hoặc không phải nộp theo quy định.
Theo khoản 2 Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Điểm b Khoản 1 Điều 17 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, người có nghĩa vụ phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và giao lại biên lai cho Tòa án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.
Thời hạn 10 ngày này là một mốc độc lập với thời hạn kháng cáo. Người kháng cáo đã gửi đơn trong 15 ngày hoặc 07 ngày vẫn phải tiếp tục theo dõi để thực hiện nghĩa vụ án phí.
Quy trình thông thường gồm:
Tòa án kiểm tra và chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ;
Tòa án ban hành thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm;
Người kháng cáo nhận thông báo;
Người kháng cáo nộp tiền tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
Cơ quan thu tiền cấp biên lai;
Người kháng cáo nộp lại biên lai cho Tòa án;
Tòa án hoàn thiện thủ tục và chuyển hồ sơ lên cấp phúc thẩm.
Người kháng cáo nên giữ bản sao thông báo, biên lai thu tiền và tài liệu chứng minh ngày đã giao biên lai cho Tòa án. Đây là căn cứ chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ đúng hạn.
Nếu quá 10 ngày mà người kháng cáo không nộp tiền và không có lý do chính đáng, họ có thể bị xác định là từ bỏ việc kháng cáo.
Những trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí
Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định một số chủ thể được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí khi đáp ứng điều kiện luật định.
Các trường hợp đáng chú ý gồm:
Người lao động khởi kiện đòi tiền lương;
Người lao động yêu cầu giải quyết quyền lợi về bảo hiểm;
Người lao động yêu cầu bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động;
Người lao động yêu cầu giải quyết việc bị sa thải trái pháp luật;
Người lao động yêu cầu giải quyết việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;
Người yêu cầu cấp dưỡng;
Trẻ em;
Người cao tuổi;
Người khuyết tật;
Người có công với cách mạng;
Người yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng;
Người yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe;
Người yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín;
Cá nhân thuộc hộ nghèo theo tiêu chí được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
Việc được miễn không phải lúc nào cũng được Tòa án tự động áp dụng nếu hồ sơ không có tài liệu chứng minh. Người đề nghị miễn cần chuẩn bị giấy tờ phù hợp với trường hợp của mình.
Ví dụ, cá nhân thuộc hộ nghèo cần có giấy xác nhận còn giá trị của cơ quan có thẩm quyền. Người cao tuổi, người khuyết tật hoặc người có công với cách mạng cần cung cấp giấy tờ chứng minh tư cách tương ứng.
Nếu nhận được thông báo nộp tiền nhưng cho rằng mình thuộc diện được miễn, người kháng cáo cần phản hồi ngay, nộp văn bản đề nghị và tài liệu chứng minh, không nên tự ý bỏ qua thông báo.
Trình tự từ khi nộp đơn đến khi vụ án được thụ lý phúc thẩm
Thời gian giải quyết vụ án phúc thẩm không được tính ngay từ ngày đương sự gửi đơn. Trước khi cấp phúc thẩm thụ lý, hồ sơ phải trải qua nhiều bước tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Bước 1: Gửi đơn kháng cáo
Đương sự nộp đơn trong thời hạn 15 ngày đối với bản án hoặc 07 ngày đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Ngày nộp phải được chứng minh bằng một trong các tài liệu như:
Phiếu tiếp nhận;
Dấu nhận của Tòa án;
Biên lai bưu chính;
Dấu bưu điện trên phong bì;
Mã vận đơn;
Xác nhận của giám thị trại giam.
Bước 2: Kiểm tra tính hợp lệ của đơn
Tòa án cấp sơ thẩm xem xét chủ thể, nội dung, phạm vi, thời hạn và hình thức kháng cáo. Nếu đơn thiếu thông tin, Tòa án có thể yêu cầu sửa đổi, bổ sung.
Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí
Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong 10 ngày kể từ ngày nhận thông báo theo Điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 17 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Trường hợp được miễn, người kháng cáo phải cung cấp tài liệu chứng minh để Tòa án xem xét.
Bước 4: Tòa án cấp sơ thẩm hoàn thiện hồ sơ
Sau khi nhận biên lai hoặc xác định người kháng cáo thuộc trường hợp được miễn, Tòa án thực hiện các thủ tục cần thiết, thông báo về việc kháng cáo và chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp phúc thẩm.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận đơn không có nghĩa vụ án đã được cấp phúc thẩm thụ lý. Đương sự cần tiếp tục theo dõi quá trình chuyển hồ sơ.
Bước 5: Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phúc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Kể từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm mới bắt đầu được tính.
Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm dân sự
Điều 286 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm phải ra một trong các quyết định:
Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, thời hạn chuẩn bị xét xử có thể được kéo dài nhưng không quá 01 tháng.
Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm thông thường là 02 tháng và thời gian tối đa trong trường hợp được gia hạn là 03 tháng kể từ ngày thụ lý.
Trong giai đoạn này, Tòa án cấp phúc thẩm có thể thực hiện các công việc:
Nghiên cứu hồ sơ vụ án;
Kiểm tra nội dung kháng cáo, kháng nghị;
Yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu;
Tiếp nhận chứng cứ mới;
Xem xét điều kiện chấp nhận tài liệu, chứng cứ;
Triệu tập đương sự;
Xác minh những nội dung cần thiết;
Xem xét căn cứ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ;
Chuẩn bị các điều kiện để mở phiên tòa.
Đương sự nên theo dõi thông báo thụ lý để xác định chính xác ngày bắt đầu thời hạn chuẩn bị xét xử. Không thể lấy ngày nộp đơn kháng cáo làm căn cứ tính thời hạn 02 tháng.
Thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm
Sau khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn 01 tháng.
Trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn mở phiên tòa có thể kéo dài đến 02 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Đương sự cần kiểm tra kỹ:
Ngày ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử;
Ngày nhận được quyết định;
Thời gian và địa điểm mở phiên tòa;
Thành phần được triệu tập;
Yêu cầu có mặt trực tiếp;
Quyền và nghĩa vụ khi vắng mặt;
Tài liệu phải nộp bổ sung;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham gia phiên tòa.
Giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được lưu giữ để đối chiếu tiến độ. Nếu thời gian xử lý kéo dài bất thường, đương sự có thể căn cứ vào tài liệu thụ lý và quyết định tố tụng để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Hậu quả khi hết thời hạn kháng cáo
Khi thời hạn kháng cáo đã hết và không có kháng cáo, kháng nghị hợp lệ, bản án hoặc quyết định sơ thẩm sẽ phát sinh hiệu lực pháp luật.
Sau thời điểm đó, vụ án không còn được xem xét theo thủ tục phúc thẩm thông thường. Bản án có thể được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Đương sự không thể tiếp tục nộp đơn kháng cáo chỉ vì không đồng ý với phán quyết. Việc xem xét lại bản án đã có hiệu lực chỉ được thực hiện theo thủ tục đặc biệt khi xuất hiện căn cứ luật định.
Hai cơ chế có thể được xem xét là:
Giám đốc thẩm;
Tái thẩm.
Giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là cấp xét xử thứ ba. Đây là thủ tục đặc biệt để xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong những trường hợp cụ thể.
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Theo Điều 334 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 03 năm kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật.
Thời hạn này có thể được kéo dài thêm 02 năm nếu đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 334 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đương sự không trực tiếp thực hiện quyền kháng cáo giám đốc thẩm như kháng cáo phúc thẩm. Đương sự có thể làm đơn đề nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị khi cho rằng bản án đã có hiệu lực có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Đơn đề nghị cần tập trung vào những căn cứ có thể làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm, không nên chỉ lặp lại việc không đồng ý với kết quả xét xử.
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Theo Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền biết được căn cứ kháng nghị.
Tái thẩm được đặt ra khi xuất hiện những tình tiết hoặc căn cứ đặc biệt có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án mà Tòa án và đương sự không biết được trong quá trình giải quyết trước đó.
Người đề nghị xem xét theo thủ tục tái thẩm cần cung cấp tài liệu chứng minh:
Căn cứ mới xuất hiện;
Thời điểm phát hiện căn cứ;
Mối liên hệ giữa căn cứ mới và nội dung bản án;
Khả năng căn cứ đó làm thay đổi kết quả giải quyết vụ án.
Việc bản án đã có hiệu lực không đồng nghĩa với việc mọi yêu cầu xem xét lại đều được chấp nhận. Đương sự phải chứng minh vụ việc thuộc một trong các căn cứ đặc biệt do pháp luật quy định.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ trong giai đoạn phúc thẩm dân sự
Kháng cáo dân sự đòi hỏi người thực hiện phải kiểm soát đồng thời thời hạn, hình thức đơn, phạm vi yêu cầu, tài liệu chứng minh và nghĩa vụ án phí. Chỉ một sai sót nhỏ về ngày nộp hoặc chứng từ giao nhận cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Chuyên tư vấn Luật cung cấp các công việc hỗ trợ chuyên môn gồm:
Rà soát bản án, quyết định sơ thẩm và toàn bộ hồ sơ vụ án;
Kiểm tra ngày tuyên án, ngày nhận bản án và thời điểm niêm yết;
Đánh giá tính hợp lệ của quá trình triệu tập, tống đạt;
Xác định thời hạn kháng cáo còn lại;
Phân tích phạm vi bản án cần kháng cáo;
Đánh giá căn cứ yêu cầu sửa án, hủy án hoặc giữ nguyên án;
Soạn thảo đơn kháng cáo;
Soạn bản trình bày ý kiến;
Chuẩn bị bản tường trình lý do kháng cáo quá hạn;
Lập danh mục tài liệu, chứng cứ;
Hướng dẫn gửi đơn đúng phương thức;
Kiểm tra chứng từ chứng minh ngày nộp;
Theo dõi yêu cầu sửa đổi, bổ sung của Tòa án;
Hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ tạm ứng án phí phúc thẩm;
Rà soát điều kiện miễn tiền tạm ứng án phí;
Hệ thống hóa chứng cứ phục vụ xét xử phúc thẩm;
Xây dựng luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp;
Đại diện theo ủy quyền làm việc với Tòa án;
Tham gia phiên tòa phúc thẩm theo phạm vi yêu cầu;
Theo dõi quá trình chuyển và thụ lý hồ sơ.
Khách hàng có thể gửi hồ sơ qua Email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939.846.973 để được xem xét sơ bộ, đặc biệt trong trường hợp thời hạn kháng cáo sắp kết thúc hoặc đã có dấu hiệu quá hạn.
Thời hạn giải quyết kháng cáo dân sự thông thường là 15 ngày, thời hạn kháng cáo quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ là 07 ngày, thời hạn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm là 10 ngày và thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 02 tháng, có thể kéo dài theo điều kiện luật định. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Hướng dẫn chi tiết quy định về thời hạn giải quyết kháng cáo dân sự
Xem thêm: Kháng cáo quá hạn vụ án dân sự?



0 comments
Đăng nhận xét