Làm di chúc giả để hưởng tài sản là hành vi có thể xâm phạm trực tiếp đến quyền thừa kế hợp pháp của những người có liên quan. Tùy tính chất, mức độ và mục đích của hành vi, người thực hiện không chỉ đối mặt với hậu quả dân sự mà còn có khả năng chịu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ để xác định một bản di chúc là giả
Một bản di chúc có thể bị nghi ngờ là giả khi nội dung hoặc hình thức của văn bản không phản ánh đúng ý chí thực tế của người để lại di sản. Tuy nhiên, việc một bên cho rằng di chúc không phải do người chết lập hoặc bị sửa chữa, giả mạo không đồng nghĩa với việc bản di chúc đó ngay lập tức được xác định là giả về mặt pháp lý.
Để có cơ sở chính thức kết luận, cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và trưng cầu giám định đối với chữ ký, chữ viết, tài liệu, con dấu hoặc những yếu tố khác có liên quan. Kết luận giám định cùng với kết quả giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng là cơ sở quan trọng để xác định bản di chúc có dấu hiệu giả mạo hay không.
Giả mạo về nội dung di chúc
Giả về nội dung được hiểu là việc tạo lập hoặc thay đổi thông tin trong di chúc theo hướng không phản ánh đúng ý chí của người để lại di sản. Người thực hiện có thể tự mình xây dựng nội dung di chúc, tự xác định người được hưởng tài sản hoặc tự phân chia tỷ lệ di sản trong khi người có tài sản chưa từng thể hiện ý chí tương ứng.
Một trường hợp khác có thể xảy ra là một bản di chúc thật đã tồn tại nhưng bị người khác sửa chữa, bổ sung hoặc cắt bỏ một phần nội dung. Chẳng hạn, người thực hiện có thể thêm tên mình vào danh sách người thừa kế, loại bỏ người thừa kế khác hoặc thay đổi tỷ lệ phân chia tài sản so với nội dung ban đầu.
Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Do đó, nếu nội dung văn bản không xuất phát từ ý chí thực sự của người để lại di sản thì bản chất của việc định đoạt tài sản đã bị thay đổi.
Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một trong các điều kiện để di chúc hợp pháp là người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc và không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Vì vậy, trường hợp nội dung di chúc bị tạo dựng trái với ý chí thực tế của người để lại tài sản có thể dẫn đến việc di chúc không đáp ứng điều kiện về hiệu lực pháp lý.
Giả mạo về hình thức của di chúc
Không chỉ nội dung, hình thức của di chúc cũng có thể bị làm giả. Các dấu hiệu thường được xem xét gồm chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc, con dấu, chữ ký của công chứng viên hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
Một thủ đoạn có thể phát sinh trong thực tế là người có ý định hưởng di sản tự lập văn bản rồi giả chữ ký của người đã chết. Một số trường hợp còn có thể giả mạo chữ ký, con dấu công chứng hoặc xác nhận của UBND cấp xã nhằm tạo cho văn bản một hình thức bên ngoài giống với di chúc đã được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê hành vi giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc hoặc che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản là một trong những hành vi khiến người thực hiện không được quyền hưởng di sản.
Như vậy, việc giả mạo di chúc không chỉ ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản mà trong một số trường hợp còn trực tiếp ảnh hưởng đến quyền được hưởng di sản của chính người có hành vi vi phạm.
Kết luận giám định và kết quả của cơ quan tiến hành tố tụng
Một bên tự nhận định rằng chữ ký hoặc nội dung di chúc là giả chỉ mới được xem là thông tin, căn cứ ban đầu để xem xét. Việc xác định chính thức cần dựa trên chứng cứ được thu thập và đánh giá theo trình tự tố tụng.
Trong quá trình giải quyết tố giác hoặc điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có thể trưng cầu giám định chữ ký, tài liệu khi thấy cần thiết theo Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 hoặc theo yêu cầu giám định của bị hại theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Đối với vụ việc được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định trong trường hợp Tòa án từ chối yêu cầu trưng cầu giám định của mình.
Kết quả cuối cùng còn phụ thuộc vào thẩm quyền giải quyết của cơ quan tố tụng. Tòa án hình sự có thể xem xét vấn đề này khi giải quyết vụ án liên quan đến hành vi làm giả di chúc, trong khi Tòa án dân sự có thể xem xét khi giải quyết yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu hoặc tranh chấp về quyền thừa kế.
Di chúc giả có giá trị pháp lý hay không?
Khi một bản di chúc được xác định là giả, nội dung giả mạo không thể trở thành căn cứ hợp pháp để xác lập quyền hưởng di sản cho người thực hiện hành vi giả mạo. Nói cách khác, việc một văn bản đã được lập thành giấy tờ hoặc đã từng được sử dụng trên thực tế không đồng nghĩa với việc văn bản đó đương nhiên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự hợp pháp.
Di chúc giả không phản ánh ý chí thật của người để lại di sản nên không đáp ứng các điều kiện để được công nhận là di chúc hợp pháp theo Điều 630, Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong trường hợp di chúc giả đã được sử dụng để thực hiện việc phân chia, chuyển giao hoặc sang tên tài sản, những giao dịch phát sinh từ việc sử dụng văn bản giả có thể tiếp tục bị xem xét theo quy định pháp luật. Tùy từng trường hợp, người có quyền lợi bị xâm phạm có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Theo điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi di chúc không hợp pháp. Vì vậy, nếu không tồn tại một di chúc hợp pháp khác thì phần di sản liên quan đến di chúc giả có thể được giải quyết theo quy định về thừa kế theo pháp luật.
Đối với các đồng thừa kế, việc di chúc giả không có giá trị pháp lý đồng nghĩa với việc nội dung phân chia trong văn bản giả không phải là căn cứ ràng buộc quyền hưởng di sản của họ. Kể cả khi các bên đã từng ký nhận tài sản hoặc thực hiện việc phân chia theo nội dung di chúc giả, quyền và lợi ích của các bên vẫn có thể được xem xét lại theo trình tự pháp luật.
Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch cho người khác, chẳng hạn đã thực hiện thủ tục sang tên hoặc chuyển nhượng cho bên thứ ba, việc xử lý sẽ phụ thuộc vào tính chất giao dịch, tình trạng tài sản và quyền lợi của các bên có liên quan.
Làm di chúc giả để hưởng tài sản có thể bị xử lý hình sự như thế nào?
Hành vi làm di chúc giả để hưởng tài sản có thể phát sinh nhiều dạng trách nhiệm pháp lý khác nhau. Đặc biệt, nếu người thực hiện vừa tạo ra tài liệu giả vừa sử dụng tài liệu đó để chiếm đoạt tài sản thì từng hành vi cần được xem xét dựa trên các dấu hiệu cấu thành tội phạm tương ứng.
Việc có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không không chỉ phụ thuộc vào việc di chúc có bị giả mạo mà còn phụ thuộc vào phương thức thực hiện, mục đích, hậu quả, giá trị tài sản và những tình tiết khác của vụ việc.
Trách nhiệm đối với hành vi làm giả con dấu, tài liệu
Nếu người thực hiện giả chữ ký, con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức nhằm tạo ra một bản di chúc có hình thức như tài liệu hợp pháp, hành vi này có thể cấu thành tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, tội danh này được quy định với các khung hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi.
Theo khoản 1 Điều 341, người làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
Khoản 2 Điều 341 quy định mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm đối với các trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên, làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu, giấy tờ hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
Theo khoản 3 Điều 341, trường hợp làm 06 con dấu, tài liệu, giấy tờ trở lên; sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên thì có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Ngoài hình phạt chính, khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Trách nhiệm đối với hành vi chiếm đoạt tài sản
Nếu người làm giả di chúc sử dụng văn bản giả để khiến người khác tin rằng mình có quyền hưởng di sản và từ đó giao tài sản hoặc công nhận quyền sở hữu tài sản cho mình, hành vi có thể có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; nội dung Điều 174 không thay đổi bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được phân chia thành các khung hình phạt dựa trên giá trị tài sản bị chiếm đoạt.
Đối với trường hợp chiếm đoạt tài sản từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp đặc biệt theo quy định, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo khoản 1 Điều 174.
Nếu giá trị tài sản chiếm đoạt từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, mức phạt tù được quy định từ 02 năm đến 07 năm theo khoản 2 Điều 174.
Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo khoản 3 Điều 174.
Đối với tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên, khoản 4 Điều 174 quy định mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Có thể bị xử lý đồng thời nhiều tội danh hay không?
Trong một vụ việc, nếu người thực hiện vừa làm giả tài liệu, chữ ký, con dấu vừa sử dụng những tài liệu này như một công cụ để chiếm đoạt tài sản thì không mặc nhiên chỉ xem xét một hành vi.
Trường hợp hành vi làm giả tài liệu và hành vi chiếm đoạt tài sản độc lập với nhau về mặt cấu thành tội phạm, mỗi hành vi đều đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của một tội danh thì người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về cả hai tội.
Theo Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội danh, sau đó tổng hợp thành hình phạt chung theo nguyên tắc được Bộ luật Hình sự quy định.
Do đó, trong những vụ việc vừa có hành vi làm giả tài liệu vừa có hành vi sử dụng tài liệu giả nhằm chiếm đoạt tài sản, việc xác định chính xác từng hành vi, thời điểm thực hiện, mục đích và hậu quả có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết.
Giả mạo chữ ký, con dấu hoặc nội dung chúc có thể làm phát sinh nhiều trách nhiệm pháp lý.
Trường hợp làm di chúc giả nhưng chưa đủ yếu tố truy cứu hình sự
Không phải mọi hành vi làm giả hoặc sử dụng di chúc giả đều đương nhiên bị xử lý hình sự. Để truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi phải đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm tương ứng.
Trong trường hợp chưa đủ căn cứ xử lý hình sự, người vi phạm vẫn có thể phải chịu các hậu quả pháp lý khác, trong đó có trách nhiệm dân sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi thuộc trường hợp được pháp luật quy định.
Theo điểm c khoản 1 Điều 18 Nghị định 252/2025/NĐ-CP, hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác trong trường hợp này bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Mức xử phạt hành chính này được áp dụng đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nếu hành vi giả mạo con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức đã đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của tội phạm theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 thì người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này.
Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào giá trị tài sản để kết luận rằng người làm di chúc giả sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cần xem xét độc lập từng hành vi và các điều kiện pháp lý liên quan.
Di sản được phân chia thế nào khi di chúc bị xác định là giả?
Khi di chúc đã được xác định là giả, phần di sản được định đoạt trong văn bản này không được chia theo nội dung giả mạo. Việc xác định phương thức phân chia tiếp theo phụ thuộc vào việc người để lại di sản có lập một di chúc hợp pháp khác hay không.
Nếu còn một bản di chúc thật và bản di chúc này đáp ứng đầy đủ điều kiện có hiệu lực theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 thì di sản có thể được phân chia theo nội dung của di chúc thật. Việc tồn tại một bản di chúc giả không làm phát sinh quyền hưởng di sản theo nội dung của bản giả.
Ngược lại, nếu không còn di chúc hợp pháp nào khác hoặc người để lại di sản chưa từng lập di chúc hợp pháp thì phần di sản được giải quyết theo quy định về thừa kế theo pháp luật.
Theo điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp di chúc không hợp pháp. Vì di chúc giả không đáp ứng điều kiện để được công nhận là di chúc hợp pháp nên di sản thuộc trường hợp này có thể được phân chia theo quy định pháp luật.
Khi thừa kế theo pháp luật được áp dụng, những người thuộc cùng một hàng thừa kế về nguyên tắc được hưởng phần di sản bằng nhau theo quy định của pháp luật, đồng thời phải xem xét đầy đủ các điều kiện, trường hợp loại trừ quyền hưởng di sản và các vấn đề liên quan khác của từng vụ việc.
Di sản được phân chia theo ước hợp pháp hoặc quy định thừa kế theo luật khi ước giả bị loại bỏ.
Dịch vụ luật sư tư vấn, xử lý hành vi làm di chúc giả để hưởng tài sản
Đối với trường hợp nghi ngờ di chúc bị làm giả nhằm chiếm đoạt tài sản thừa kế, việc thu thập chứng cứ và lựa chọn phương án xử lý phù hợp có ý nghĩa quan trọng. Long Phan PMT có thể hỗ trợ khách hàng rà soát các tài liệu liên quan và đánh giá hướng giải quyết trên cơ sở quy định pháp luật.
Các nội dung hỗ trợ có thể bao gồm:
Rà soát bản di chúc, tài liệu thừa kế và những giấy tờ liên quan nhằm xác định dấu hiệu bất thường về nội dung hoặc hình thức của di chúc.
Hỗ trợ khách hàng liên hệ tổ chức giám định chữ ký, chữ viết, tài liệu và chuẩn bị hồ sơ yêu cầu trưng cầu giám định theo quy định.
Phân tích dấu hiệu pháp lý liên quan đến tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đánh giá khả năng một người phải chịu trách nhiệm về nhiều tội danh nếu hành vi làm giả tài liệu và hành vi chiếm đoạt tài sản độc lập, đồng thời đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Hỗ trợ soạn thảo đơn tố giác tội phạm trong trường hợp có căn cứ cho rằng hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, yêu cầu Tòa án xem xét hiệu lực của di chúc và giải quyết tranh chấp thừa kế.
Tư vấn phương án xác định quyền hưởng di sản trong trường hợp di chúc bị tuyên không hợp pháp.
Đại diện hoặc hỗ trợ khách hàng làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong phạm vi pháp luật cho phép.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.
Một số câu hỏi thường gặp về làm di chúc giả để hưởng tài sản
Dựa vào đâu để xác định một di chúc là giả?
Di chúc có thể được xem xét là giả khi có dấu hiệu giả về nội dung hoặc giả về hình thức. Giả về nội dung là trường hợp nội dung văn bản không phản ánh ý chí thật của người để lại di sản; còn giả về hình thức có thể liên quan đến việc giả chữ ký, điểm chỉ, con dấu hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
Việc xác định chính thức không chỉ dựa vào lời trình bày của một bên mà cần dựa trên chứng cứ, kết quả giám định và kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Việc giám định có thể được thực hiện theo Điều 205, Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 hoặc Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tùy trường hợp.
Làm giả di chúc để hưởng tài sản có bị đi tù không?
Có thể. Nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 thì người thực hiện có thể bị xử lý hình sự với mức hình phạt tù tương ứng với giá trị tài sản chiếm đoạt.
Trong trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên, khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 quy định mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Nếu người thực hiện đồng thời giả mạo con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật thì còn có thể bị xem xét về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015.
Một người có thể cùng lúc bị xử lý về hai tội danh do làm giả di chúc không?
Có thể, nếu các hành vi được thực hiện độc lập và từng hành vi đều đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành của tội phạm tương ứng.
Chẳng hạn, việc giả mạo con dấu, tài liệu nhằm tạo ra một di chúc có hình thức hợp pháp và việc sử dụng di chúc đó để chiếm đoạt tài sản có thể được xem xét riêng về từng hành vi.
Theo Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, khi một người bị xét xử cùng một lần về nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội danh rồi tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định.
Giá trị tài sản trong di chúc giả nhỏ thì có bị xử lý hình sự không?
Không thể chỉ căn cứ vào giá trị tài sản để kết luận có hay không có trách nhiệm hình sự. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 quy định ngưỡng giá trị tài sản và các trường hợp đặc biệt để xác định trách nhiệm hình sự.
Nếu giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng và không thuộc các trường hợp luật định thì hành vi chiếm đoạt có thể không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi đó, nếu đủ điều kiện, hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm c khoản 1 Điều 18 Nghị định 252/2025/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Tuy nhiên, nếu cùng vụ việc có hành vi giả mạo con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 thì trách nhiệm hình sự đối với hành vi này vẫn cần được xem xét độc lập.
Khi di chúc bị xác định là giả thì di sản được chia như thế nào?
Nếu người để lại di sản còn một di chúc thật khác và di chúc này đáp ứng điều kiện hợp pháp theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 thì phần di sản có liên quan được xem xét phân chia theo di chúc thật.
Nếu không còn di chúc hợp pháp nào khác thì điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 được áp dụng để giải quyết thừa kế theo pháp luật do di chúc không hợp pháp.
Khi đó, di sản được phân chia cho những người thuộc hàng thừa kế theo quy định pháp luật và những người thừa kế cùng hàng về nguyên tắc được hưởng phần di sản bằng nhau, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Làm di chúc giả để hưởng tài sản không chỉ khiến bản di chúc giả không được công nhận mà trong những trường hợp đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người thực hiện còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Việc xử lý cụ thể phải dựa trên nội dung di chúc, phương thức làm giả, mục đích sử dụng, giá trị tài sản và chứng cứ được cơ quan có thẩm quyền xác minh, đánh giá. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Làm di chúc giả để hưởng tài sản có bị xử lý hình sự không?
Xem thêm:


