Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là vấn đề pháp lý thường được đặt ra đối với người có chức vụ, quyền hạn khi việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao làm phát sinh thiệt hại theo mức luật định. Việc xác định trách nhiệm hình sự trong trường hợp này không chỉ dựa vào hậu quả đã xảy ra mà còn phải xem xét đầy đủ hành vi, nhiệm vụ được giao, lỗi và mối quan hệ nhân quả.
Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và các căn cứ xác định trách nhiệm hình sự
Việc xem xét một người có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh này hay không phải được tiến hành trên cơ sở nhiều yếu tố có liên quan với nhau. Cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định người đó có thuộc nhóm chủ thể đặc biệt hay không, có nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể gì, đã thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ như thế nào, hậu quả thực tế phát sinh ra sao và lỗi của người đó thuộc trường hợp nào.
Theo nội dung Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được xem xét thông qua các yếu tố về chủ thể, hành vi, hậu quả, quan hệ nhân quả và lỗi của người thực hiện. Hành vi phải xuất phát từ sự thiếu trách nhiệm của người có chức vụ, quyền hạn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao và dẫn đến hậu quả thuộc những trường hợp mà điều luật quy định.
Đáng lưu ý, không phải cứ có thiệt hại về người hoặc tài sản là mặc nhiên phát sinh trách nhiệm hình sự theo Điều 360. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh được sự tồn tại của nhiệm vụ mà người bị xem xét có trách nhiệm thực hiện, việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ và mối liên hệ trực tiếp giữa thiếu sót đó với hậu quả xảy ra.
Tội danh này chỉ được xác định khi đồng thời có đủ bốn yếu tố cấu thành gồm chủ thể, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan. Người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm về lỗi vô ý, khác với một số tội phạm về chức vụ được thực hiện với lỗi cố ý như tham ô tài sản hoặc nhận hối lộ.
Chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Chủ thể của tội phạm theo Điều 360 là người có chức vụ, quyền hạn và được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định. Đây là dấu hiệu đặc thù để phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với những hành vi vi phạm khác.
Người thực hiện hành vi còn phải có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015. Quy định này cho thấy không phải bất kỳ cá nhân nào có hành vi sơ suất, bất cẩn trong công việc cũng có thể trở thành chủ thể của tội danh này.
Do Điều 360 không thuộc nhóm tội mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, người dưới 16 tuổi không phải là chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong thực tế, việc xác định chủ thể cần gắn với chức vụ, quyền hạn và nhiệm vụ thực tế mà cá nhân được giao. Chỉ dựa vào chức danh hoặc vị trí công tác là chưa đủ để kết luận một người có trách nhiệm hình sự. Cần làm rõ người đó có nghĩa vụ thực hiện công việc liên quan đến hậu quả xảy ra hay không.
Mặt khách quan của hành vi thiếu trách nhiệm
Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện thông qua hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao do thiếu trách nhiệm, từ đó dẫn đến hậu quả về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản đạt mức được quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015.
Nói cách khác, giữa nhiệm vụ được giao, hành vi thiếu trách nhiệm và hậu quả phải có sự liên hệ nhất định. Việc một cá nhân giữ chức vụ quản lý hoặc có quyền hạn nhưng không trực tiếp thực hiện hành vi gây thiệt hại không đồng nghĩa với việc người đó đương nhiên chịu trách nhiệm hình sự. Cần xác định cụ thể nghĩa vụ mà họ phải thực hiện và hành vi vi phạm nghĩa vụ đó.
Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015 chỉ được áp dụng khi hành vi không thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 179, Điều 308 và Điều 376 Bộ luật Hình sự 2015. Nếu hành vi thiếu trách nhiệm thuộc trường hợp chuyên biệt được các điều luật này điều chỉnh thì cần xem xét theo tội danh tương ứng thay vì mặc nhiên áp dụng Điều 360.
Mặt chủ quan và lỗi vô ý của người thực hiện
Một trong những điểm cần đặc biệt lưu ý khi xác định tội danh là lỗi của người thực hiện. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được thực hiện với lỗi vô ý. Theo Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015, lỗi vô ý gồm vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả.
Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người thực hiện nhận thức được hành vi của mình có khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm nhưng vẫn tin rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể được ngăn chặn. Trong khi đó, vô ý do cẩu thả là trường hợp người thực hiện không thấy trước hậu quả mặc dù theo hoàn cảnh cụ thể họ phải thấy trước và có khả năng thấy trước hậu quả đó.
Do vậy, khi đánh giá trách nhiệm hình sự, không chỉ cần chứng minh hậu quả mà còn phải làm rõ trạng thái lỗi. Nếu hành vi được thực hiện với lỗi cố ý hoặc có mục đích vụ lợi thì cần tiếp tục xem xét những dấu hiệu của tội phạm khác tương ứng.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
Quan hệ nhân quả là yếu tố quan trọng trong quá trình xác định trách nhiệm hình sự. Hậu quả xảy ra phải có mối liên hệ với hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ của người có chức vụ, quyền hạn.
Trong trường hợp hậu quả xuất phát từ một nguyên nhân độc lập khác, không phải từ hành vi thiếu trách nhiệm của người bị xem xét, thì việc chỉ dựa vào thiệt hại xảy ra để quy trách nhiệm theo Điều 360 là chưa đầy đủ. Cần làm rõ hành vi cụ thể của cá nhân đã tác động như thế nào đến hậu quả thực tế.
Các khung hình phạt của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định ba khung hình phạt chính và một hình phạt bổ sung. Việc xác định khung hình phạt phụ thuộc chủ yếu vào mức độ hậu quả về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản mà hành vi thiếu trách nhiệm gây ra.
Khung hình phạt thứ nhất
Theo khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm nếu hành vi thiếu trách nhiệm dẫn đến một trong các hậu quả:
Làm chết 01 người;
Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Đây là khung hình phạt cơ bản của tội danh. Tuy nhiên, việc hậu quả thực tế thuộc một trong các mức nêu trên không có nghĩa người có chức vụ, quyền hạn đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải chứng minh đầy đủ rằng người đó có nghĩa vụ thực hiện một nhiệm vụ nhất định, nhưng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng do thiếu trách nhiệm, đồng thời chính hành vi này dẫn đến hậu quả được xác định trong vụ án.
Khung hình phạt thứ hai
Khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015 quy định mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi hành vi thiếu trách nhiệm gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn, thuộc một trong các trường hợp:
Làm chết 02 người;
Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 122% đến 200%;
Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.
So với khoản 1, khung hình phạt này không còn quy định hình phạt cải tạo không giam giữ mà chỉ áp dụng hình phạt tù. Khi xác định hậu quả để định khung, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên các tài liệu, chứng cứ phù hợp như kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng minh nguyên nhân dẫn đến thiệt hại.
Khung hình phạt thứ ba
Khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015 quy định khung hình phạt cao nhất đối với tội danh này là phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.
Khung này được áp dụng khi hành vi thiếu trách nhiệm gây ra một trong các hậu quả sau:
Làm chết 03 người trở lên;
Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 201% trở lên;
Gây thiệt hại về tài sản từ 1,5 tỷ đồng trở lên.
Đây là trường hợp hậu quả ở mức đặc biệt lớn theo quy định của Điều 360. Tuy nhiên, khi xem xét trách nhiệm hình sự vẫn phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi thiếu trách nhiệm và thiệt hại. Nếu thiệt hại phát sinh từ nguyên nhân khác và không chứng minh được sự liên hệ giữa hành vi của người bị xem xét với hậu quả thì chỉ dựa trên mức thiệt hại là chưa đủ để áp dụng điều luật.
Hình phạt bổ sung
Bên cạnh hình phạt chính, khoản 4 Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015 quy định người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm.
Hình phạt bổ sung này có liên quan trực tiếp đến đặc điểm của tội phạm, bởi người thực hiện hành vi là người có chức vụ, quyền hạn và hành vi phạm tội gắn với việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Khi quyết định áp dụng, Tòa án sẽ xem xét tính chất công việc, chức vụ, mức độ vi phạm và những yếu tố liên quan để quyết định có áp dụng hình phạt bổ sung hay không.
Các khung hình phạt đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 360 Bộ luật Hình sự.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi quy định tại Điều 360 được xác định dựa trên loại tội phạm tương ứng với từng khung hình phạt. Do ba khung hình phạt có mức cao nhất khác nhau nên thời hiệu truy cứu cũng không hoàn toàn giống nhau.
Phân loại tội phạm theo từng khung hình phạt
Theo khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015, tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 03 năm đến 07 năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 07 năm đến 15 năm tù.
Đối chiếu với Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015, khoản 1 có mức hình phạt cao nhất là 05 năm tù và khoản 2 có mức cao nhất là 07 năm tù nên thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Khoản 3 có mức hình phạt cao nhất là 12 năm tù nên thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.
Thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng và 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng.
Theo đó, thời hiệu đối với hành vi thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 360 là 10 năm; đối với hành vi thuộc khoản 3 Điều 360 là 15 năm.
Theo khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hiệu, người phạm tội lại thực hiện một tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội mới là trên 01 năm tù thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện tội mới.
Trường hợp người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu được tính lại kể từ thời điểm người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.
Trách nhiệm dân sự có thể phát sinh song song với trách nhiệm hình sự
Việc một người bị kết án về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được loại trừ. Nếu hành vi gây thiệt hại có căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự, người gây thiệt hại vẫn có thể phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời, khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.
Tùy vào hậu quả thực tế, trách nhiệm bồi thường có thể liên quan đến thiệt hại về tài sản, sức khỏe hoặc tính mạng. Việc xác định mức bồi thường cần căn cứ vào loại thiệt hại, mức độ thiệt hại và các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự 2015.
Theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết cùng với vụ án hình sự. Trong trường hợp chưa có điều kiện chứng minh và việc tách phần dân sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì phần dân sự có thể được tách để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Những rủi ro pháp lý đối với cơ quan, doanh nghiệp và người quản lý
Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015 đặt trọng tâm vào việc xác định cá nhân có chức vụ, quyền hạn đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc phân công công việc, quy định thẩm quyền và xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của từng cá nhân khi xảy ra hậu quả.
Phân công nhiệm vụ không rõ ràng
Khi nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng vị trí không được xác định cụ thể bằng văn bản, việc làm rõ ai là người có nghĩa vụ thực hiện một công việc nhất định có thể gặp khó khăn.
Đối với cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, việc quy định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền, quy trình phê duyệt, kiểm tra và giám sát giúp xác định phạm vi trách nhiệm của từng cá nhân khi có sự cố. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để đánh giá liệu một người có thực sự có nghĩa vụ thực hiện hoặc kiểm soát công việc dẫn đến hậu quả hay không.
Trách nhiệm giữa người trực tiếp thực hiện và người quản lý
Trách nhiệm hình sự theo Điều 360 được xem xét đối với từng cá nhân trên cơ sở chức vụ, quyền hạn, nhiệm vụ được giao, hành vi thiếu trách nhiệm và hậu quả thực tế.
Do đó, người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, người quản lý hoặc người có trách nhiệm kiểm tra, phê duyệt đều có thể được xem xét trách nhiệm nếu hành vi của họ đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào chức danh quản lý để mặc nhiên xác định một cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự.
Phân biệt trách nhiệm hình sự với xử lý hành chính, kỷ luật
Không phải mọi sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đều cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Để truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi phải đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Điều 360, bao gồm chủ thể, hành vi thiếu trách nhiệm, hậu quả đạt mức luật định, lỗi và mối quan hệ nhân quả.
Nếu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi có thể được xem xét theo trách nhiệm kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc những trách nhiệm pháp lý khác tùy tính chất, mức độ và quy định pháp luật áp dụng.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ các vụ việc về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Đối với những vụ việc có dấu hiệu liên quan đến Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015, việc rà soát hồ sơ và xác định đúng phạm vi trách nhiệm của từng cá nhân là vấn đề cần được thực hiện cẩn trọng. Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng thông qua các nội dung:
Rà soát hồ sơ vụ việc và đối chiếu các tình tiết thực tế với bốn yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015;
Phân tích hậu quả đã xảy ra để xác định khung hình phạt có thể được xem xét;
Tư vấn phân biệt giữa trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, kỷ luật và các trách nhiệm pháp lý khác;
Xây dựng phương án bào chữa, kiến nghị thay đổi tội danh hoặc đề xuất giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi có căn cứ;
Tư vấn phương án giải quyết nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự cho người bị hại;
Hỗ trợ, đại diện khách hàng làm việc với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong quá trình tố tụng.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.
Câu hỏi thường gặp về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Người không có chức vụ, quyền hạn có bị truy cứu về tội này không?
Chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng phải là người có chức vụ, quyền hạn và có trách nhiệm thực hiện một nhiệm vụ nhất định. Vì vậy, việc xác định một người có thuộc chủ thể của Điều 360 hay không cần dựa trên chức vụ, quyền hạn và nhiệm vụ thực tế được giao, không chỉ dựa vào việc người đó có tham gia vào hoạt động dẫn đến hậu quả.
Mức hình phạt cao nhất của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là bao nhiêu?
Theo khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015, mức hình phạt cao nhất là phạt tù từ 07 năm đến 12 năm. Khung này áp dụng khi hành vi làm chết 03 người trở lên, gây tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ từ 201% trở lên hoặc gây thiệt hại tài sản từ 1,5 tỷ đồng trở lên. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015.
Thiếu trách nhiệm nhưng chưa gây hậu quả có bị xử lý hình sự không?
Theo Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015, hậu quả cụ thể về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Nếu hành vi thiếu trách nhiệm chưa gây ra hậu quả đạt mức tối thiểu theo khoản 1 Điều 360 thì chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này và có thể được xem xét xử lý bằng hình thức khác tùy tính chất, mức độ hành vi.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu?
Theo điểm b, điểm c khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 10 năm đối với hành vi thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 360, tương ứng với tội phạm nghiêm trọng; thời hiệu là 15 năm đối với hành vi thuộc khoản 3 Điều 360, tương ứng với tội phạm rất nghiêm trọng. Thời hiệu được tính từ ngày hành vi phạm tội được thực hiện theo khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015.
Bị kết án có phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại không?
Có thể phải bồi thường nếu có căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự. Theo khoản 1 Điều 584 và khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015, việc phải chịu hình phạt hình sự không loại trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại thực tế cho người bị hại. Trách nhiệm bồi thường có thể liên quan đến thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng và các khoản thiệt hại khác theo quy định của pháp luật dân sự.
Người quản lý cấp trên có đương nhiên chịu trách nhiệm nếu cấp dưới gây hậu quả không?
Không thể chỉ căn cứ vào vị trí quản lý để mặc nhiên xác định trách nhiệm hình sự. Việc xem xét trách nhiệm phải dựa trên nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ, lỗi của người quản lý và mối quan hệ giữa hành vi đó với hậu quả thực tế.
Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng cần được xem xét trên cơ sở đầy đủ các yếu tố cấu thành, bao gồm chủ thể, hành vi, hậu quả, lỗi và mối quan hệ nhân quả. Bên cạnh việc xác định khung hình phạt và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, cần phân biệt trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, kỷ luật và nghĩa vụ bồi thường dân sự. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
- Bị triệu tập là người liên quan trong vụ án ma túy cần xử lý thế nào
- Tội vô ý làm lộ bí mật công tác gây thiệt hại tài sản Nhà nước


