Chi phí thuê luật sư bào chữa vụ án ma túy là vấn đề được nhiều gia đình bị can, bị cáo quan tâm khi cần luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Trên thực tế, pháp luật không ấn định một mức phí chung áp dụng cho tất cả vụ án mà thù lao phụ thuộc vào nội dung công việc, tính chất vụ việc, thời gian thực hiện, kinh nghiệm của luật sư và phạm vi tham gia tố tụng. Vì vậy, việc hiểu rõ nguyên tắc xác định thù lao, các phương thức tính phí và những khoản chi phí có thể phát sinh sẽ giúp khách hàng chủ động hơn trước khi ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với Long Phan PMT.

cac-yeu-to-quyet-dinh-chi-phi-thue-luat-su-bao-chua-an-ma-tuy

 Các yếu tố quyết định chi phí thuê luật sư bào chữa án ma túy.

Nguyên tắc xác định thù lao luật sư trong vụ án ma túy

Mức tiền khách hàng phải thanh toán khi mời luật sư bào chữa không được xác định theo một biểu giá cố định áp dụng đồng loạt cho mọi vụ án ma túy. Về nguyên tắc, thù lao là nội dung được luật sư và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý trên cơ sở những tiêu chí mà pháp luật quy định.

Theo khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012), việc xác định thù lao luật sư căn cứ vào nội dung và tính chất của dịch vụ pháp lý; thời gian và công sức mà luật sư phải bỏ ra để thực hiện công việc; kinh nghiệm và uy tín của luật sư. Khoản 2 Điều 55 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) đồng thời ghi nhận các phương thức tính thù lao như tính theo giờ làm việc, thỏa thuận mức trọn gói theo vụ việc hoặc lựa chọn phương thức khác phù hợp với quy định pháp luật.

Điều này lý giải vì sao hai vụ án cùng liên quan đến một tội danh về ma túy nhưng mức thù lao luật sư có thể không giống nhau. Một vụ án có số lượng tài liệu lớn, nhiều người tham gia tố tụng, nhiều kết luận giám định hoặc luật sư phải tham gia từ giai đoạn điều tra đến khi xét xử sẽ phát sinh khối lượng công việc khác với vụ án mà luật sư chỉ được mời tham gia tại một giai đoạn nhất định.

Mức thù lao khi khách hàng trực tiếp mời luật sư

Đối với trường hợp gia đình, bị can, bị cáo hoặc người có quyền mời người bào chữa chủ động lựa chọn luật sư, thù lao được các bên thỏa thuận nhưng phải tuân thủ quy định dành cho luật sư tham gia tố tụng hình sự.

Theo khoản 1 Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung 2018), thù lao của luật sư tham gia tố tụng trong vụ án hình sự do khách hàng và tổ chức hành nghề luật sư thỏa thuận; việc tính thù lao có thể thực hiện theo giờ hoặc trọn gói theo vụ việc. Mức cao nhất đối với 01 giờ làm việc của luật sư không được vượt quá 0,3 lần mức lương cơ sở.

Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 161/2026/NĐ-CP, từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng. Căn cứ mức lương cơ sở này, giới hạn tương ứng là 759.000 đồng cho một giờ làm việc.

Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP vẫn đặt ra giới hạn đối với thù lao luật sư tham gia tố tụng hình sự, do đó việc xây dựng và thỏa thuận mức phí cần được xem xét đồng thời với phương thức tính thù lao và phạm vi dịch vụ cụ thể mà luật sư thực hiện.

luu-y-ve-thu-lao-va-hop-dong-thue-luat-su-bao-chua

 Lưu ý về thù lao và hợp đồng thuê luật sư bào chữa.

Thù lao khi luật sư tham gia theo yêu cầu của cơ quan tố tụng

Cần phân biệt trường hợp khách hàng chủ động ký hợp đồng thuê luật sư với trường hợp người bào chữa tham gia theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Hai trường hợp này có cơ chế xác định và thanh toán thù lao khác nhau.

Theo Điều 19 Nghị định 123/2013/NĐ-CP và khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch 191/2014/TTLT-BTC-BTP, khi luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, mức thù lao cho một ngày làm việc được xác định bằng 0,4 lần mức lương cơ sở và một ngày làm việc được tính trên cơ sở 08 giờ.

Với mức lương cơ sở 2.530.000 đồng, mức thù lao tương ứng là 1.012.000 đồng cho một ngày làm việc. Đây là khoản tiền được Nhà nước chi trả theo cơ chế dành cho luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, không phải khoản phí do khách hàng tự thỏa thuận và trực tiếp thanh toán cho luật sư.

Những yếu tố tác động đến chi phí thuê luật sư bào chữa

Theo khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012), nội dung và tính chất dịch vụ, thời gian và công sức thực hiện công việc, kinh nghiệm cũng như uy tín của luật sư là những căn cứ quan trọng để xác định thù lao. Đối với vụ án ma túy, các tiêu chí này được thể hiện cụ thể thông qua tội danh bị truy cứu, khung hình phạt, giai đoạn luật sư tham gia, số lượng người liên quan, khối lượng hồ sơ, mức độ phức tạp của chứng cứ và phạm vi công việc được khách hàng yêu cầu.

Tội danh và khung hình phạt

Trước hết, tội danh, khoản áp dụng và khung hình phạt mà người bị buộc tội đang bị xem xét có thể ảnh hưởng đáng kể đến phạm vi nghiên cứu của luật sư. Các Điều 248, 249, 250, 251 và 252 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025) đã được sửa đổi về định lượng và khung hình phạt đối với các tội phạm về ma túy.

Nếu vụ án liên quan nhiều loại chất ma túy, có nhiều kết luận giám định hoặc người bị buộc tội đang đối diện với khung hình phạt cao, luật sư có thể phải nghiên cứu nhiều tài liệu, chứng cứ và vấn đề pháp lý hơn. Những yếu tố này liên quan trực tiếp đến nội dung, tính chất của dịch vụ cũng như thời gian và công sức của luật sư theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012).

Giai đoạn tố tụng mà luật sư tham gia

Thời điểm luật sư bắt đầu tham gia cũng là yếu tố có ảnh hưởng đến tổng khối lượng dịch vụ pháp lý.

Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can; đối với trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa được tham gia từ thời điểm luật định.

Trường hợp luật sư được mời tham gia xuyên suốt các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, khối lượng công việc nhìn chung sẽ khác với trường hợp khách hàng chỉ thuê luật sư thực hiện công việc trong một giai đoạn. Do đó, phạm vi dịch vụ, thời gian và công sức thực tế của luật sư là những căn cứ cần được xem xét khi xác định mức phí theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012).

Số lượng bị can và mức độ phức tạp của hồ sơ

Một vụ án có nhiều bị can, nhiều hành vi bị điều tra, nhiều kết luận giám định, dữ liệu điện tử hoặc các tình tiết liên quan đến nhiều địa phương thường kéo theo khối lượng tài liệu cần kiểm tra lớn hơn.

Số lượng bị can tự thân không phải là một tiêu chí tính phí độc lập được pháp luật quy định. Tuy nhiên, sự phức tạp này có thể làm tăng nội dung công việc, thời gian nghiên cứu và công sức luật sư phải thực hiện. Vì vậy, đây là những yếu tố được phản ánh thông qua điểm a, điểm b khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012).

Khi xác định thù lao, luật sư có thể xem xét tổng số tài liệu phải nghiên cứu, số lần cần tham gia các hoạt động tố tụng, phạm vi công việc được giao và thời gian dự kiến cần thiết để hoàn thành dịch vụ.

Kinh nghiệm và uy tín của luật sư

Điểm c khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) xác định kinh nghiệm và uy tín của luật sư là một trong những căn cứ để xác định thù lao.

Do đó, khi tìm hiểu mức phí, khách hàng không nên chỉ đối chiếu con số cuối cùng giữa nhiều đơn vị mà cần xem xét mức phí đó tương ứng với phạm vi công việc nào, luật sư tham gia ở những giai đoạn tố tụng nào và phương thức tính thù lao được thỏa thuận ra sao.

Bên cạnh Điều 55, đối với vụ án hình sự, việc xác định thù lao còn phải tuân thủ Điều 56 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) và Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung 2018) liên quan đến thù lao luật sư tham gia tố tụng hình sự.

luat-su-tham-gia-bao-chua-trong-cac-giai-doan-to-tung

 Luật sư tham gia bào chữa trong các giai đoạn tố tụng.

Các phương thức tính phí luật sư bào chữa vụ án ma túy

Pháp luật cho phép các bên lựa chọn nhiều phương thức xác định thù lao phù hợp với đặc điểm của từng dịch vụ pháp lý. Trong quá trình thuê luật sư bào chữa vụ án ma túy, có thể gặp hình thức tính theo giờ làm việc, thỏa thuận trọn gói theo vụ việc và các khoản chi phí hợp lý phát sinh ngoài tiền thù lao.

Tính thù lao theo số giờ làm việc

Điểm a khoản 2 Điều 55 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) cho phép luật sư và khách hàng thỏa thuận thù lao căn cứ vào số giờ làm việc.

Riêng đối với luật sư được khách hàng mời tham gia tố tụng trong vụ án hình sự, khoản 1 Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung 2018) quy định mức cao nhất cho một giờ làm việc không vượt quá 0,3 lần mức lương cơ sở.

Nếu luật sư tham gia theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng thì không áp dụng cơ chế giống trường hợp khách hàng chủ động thuê mà thực hiện theo Điều 19 Nghị định 123/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung 2018) và Điều 2 Thông tư liên tịch 191/2014/TTLT-BTC-BTP.

Thỏa thuận mức phí trọn gói

Điểm b khoản 2 Điều 55 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) cho phép các bên thỏa thuận thù lao theo hình thức trọn gói đối với vụ việc.

Trong vụ án ma túy, khách hàng và tổ chức hành nghề luật sư có thể thống nhất phạm vi dịch vụ cho toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hoặc chỉ giới hạn trong từng giai đoạn như điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm hay xét xử phúc thẩm.

Dù lựa chọn phương thức trọn gói, đối với vụ án hình sự, thỏa thuận về thù lao vẫn phải bảo đảm phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) và Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung 2018). Vì vậy, phạm vi dịch vụ và cách xác định khoản phí nên được thể hiện cụ thể ngay trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Chi phí hợp lý phát sinh ngoài thù lao

Thù lao luật sư và chi phí thực hiện công việc là hai nhóm khoản tiền cần được phân biệt.

Theo Điều 57 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012), bên cạnh thù lao, khách hàng còn có trách nhiệm thanh toán tiền tàu xe, lưu trú và các khoản chi phí hợp lý khác cho luật sư theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Đối với vụ án ma túy, những khoản này có thể phát sinh khi luật sư phải di chuyển đến địa phương khác để làm việc, lưu trú trong thời gian công tác, sao chụp tài liệu hồ sơ hoặc thực hiện những công việc cần thiết khác trong phạm vi dịch vụ.

Để kiểm soát tổng ngân sách và hạn chế phát sinh bất đồng, hợp đồng nên quy định rõ khoản nào đã nằm trong thù lao trọn gói, khoản nào được thanh toán riêng, căn cứ xác định chi phí và trách nhiệm thanh toán của khách hàng.

Trường hợp được chỉ định người bào chữa

Không phải mọi người bị buộc tội trong vụ án ma túy đều phải tự bỏ chi phí để thuê luật sư. Pháp luật tố tụng hình sự quy định một số trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa.

Theo khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), khi thuộc trường hợp bắt buộc có người bào chữa mà người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa.

Khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xác định các trường hợp đáng chú ý gồm bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần; hoặc người dưới 18 tuổi.

Do một số tội phạm ma túy có khung hình phạt cao nhất thuộc trường hợp nêu trên, nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện việc chỉ định theo quy định.

Đối với trường hợp người bào chữa được chỉ định, chi phí được ngân sách nhà nước chi trả theo quy định pháp luật chứ không phải khoản thù lao mà gia đình tự thỏa thuận và thanh toán.

Theo Điều 49 Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15 về chi phí tố tụng, chi phí dành cho người bào chữa là luật sư do tổ chức hành nghề luật sư cử được xác định theo pháp luật về luật sư. Theo đó, cơ chế thù lao theo ngày làm việc tại Điều 19 Nghị định 123/2013/NĐ-CP và Thông tư liên tịch 191/2014/TTLT-BTC-BTP được áp dụng, tương ứng 0,4 lần mức lương cơ sở cho một ngày làm việc 08 giờ. Với mức lương cơ sở 2.530.000 đồng, số tiền tương ứng khoảng 1.012.000 đồng/ngày.

Những nội dung cần chú ý khi ký hợp đồng thuê luật sư

Việc thống nhất rõ ràng các điều khoản ngay từ thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng đối với cả khách hàng và tổ chức hành nghề luật sư. Các nội dung về phạm vi bào chữa, thù lao, chi phí, thời gian thực hiện và phương thức thanh toán cần được xác định cụ thể để các bên có căn cứ thực hiện.

Theo khoản 2 Điều 26 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012), việc thực hiện dịch vụ pháp lý phải được xác lập bằng hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản.

Khoản 3 Điều 26 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) quy định hợp đồng dịch vụ pháp lý phải có những nội dung chính như thông tin của khách hàng và tổ chức hành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; nội dung dịch vụ; thời hạn thực hiện; quyền và nghĩa vụ của các bên; phương thức tính và mức thù lao; các khoản chi phí; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và phương thức giải quyết tranh chấp.

Đối với vụ án ma túy, nội dung hợp đồng nên xác định cụ thể luật sư được thuê tham gia ở giai đoạn nào, chẳng hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm. Đồng thời, các bên cần làm rõ mức thù lao, cách tính phí, thời điểm hoặc tiến độ thanh toán và các khoản chi phí hợp lý có khả năng phát sinh.

Căn cứ xác định thù lao trong trường hợp này tiếp tục thực hiện theo Điều 55, Điều 56 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) và Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung 2018).

Rủi ro khi không thỏa thuận rõ mức phí ngay từ đầu

Một trong những vấn đề dễ phát sinh trong quan hệ dịch vụ pháp lý là các bên hiểu khác nhau về phạm vi công việc mà luật sư phải thực hiện hoặc về khoản tiền khách hàng phải thanh toán.

Nếu hợp đồng chỉ ghi nhận một mức tiền tổng quát nhưng không làm rõ mức phí tương ứng với giai đoạn tố tụng nào, đã bao gồm những công việc nào và có bao gồm chi phí đi lại, lưu trú hay sao chụp hồ sơ hay chưa thì có thể phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện.

Theo Điều 26 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012), quyền và nghĩa vụ của các bên, thù lao, chi phí và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng đều thuộc nhóm nội dung cần được thể hiện trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Do đó, trước khi ký kết, khách hàng nên yêu cầu xác định cụ thể phạm vi công việc của luật sư, giai đoạn tố tụng được thuê, mức thù lao, cách thức và tiến độ thanh toán, những khoản tiền phát sinh ngoài thù lao cũng như trách nhiệm tương ứng của các bên. Việc thống nhất minh bạch ngay từ đầu giúp khách hàng chủ động dự trù kinh phí và hạn chế nguy cơ tranh chấp về hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Dịch vụ luật sư bào chữa vụ án ma túy tại Long Phan PMT

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma túy, Long Phan PMT cung cấp dịch vụ pháp lý phù hợp với phạm vi công việc và từng giai đoạn tố tụng cụ thể.

Luật sư có thể nghiên cứu các tài liệu được cung cấp để tư vấn về tội danh, khung hình phạt và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ có liên quan đến vụ việc; đánh giá hồ sơ, đối chiếu kết quả giám định với các chứng cứ đã được thu thập; đồng thời hướng dẫn gia đình chuẩn bị những tài liệu, hồ sơ, chứng cứ phục vụ việc đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt.

Tùy theo thời điểm tiếp nhận vụ việc và phạm vi hợp đồng, luật sư có thể tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, thực hiện việc gặp bị can tại nhà tạm giữ hoặc trại tạm giam theo quy định; hỗ trợ gia đình trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; tiếp tục tham gia các giai đoạn truy tố, xét xử theo phạm vi dịch vụ đã thỏa thuận.

Trước khi ký kết hợp đồng, Long Phan PMT trao đổi về mức phí, hình thức thanh toán và phạm vi công việc tương ứng với từng giai đoạn tố tụng để khách hàng có cơ sở cân nhắc và dự trù chi phí.

Một số vấn đề thường gặp về chi phí luật sư bào chữa

Mức phí luật sư trong vụ án ma túy không thể xác định chính xác chỉ dựa vào tên tội danh. Theo khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư 2006, việc thỏa thuận thù lao phải căn cứ vào nội dung dịch vụ, thời gian, công sức cũng như kinh nghiệm và uy tín của luật sư. Vì vậy, để có mức phí cụ thể, cần xem xét hồ sơ và xác định phạm vi công việc mà khách hàng yêu cầu.

Về thời điểm luật sư tham gia, Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định người bào chữa có thể tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can hoặc từ thời điểm luật định đối với trường hợp người bị bắt, tạm giữ. Việc tham gia ở nhiều giai đoạn có thể làm tăng phạm vi công việc so với trường hợp chỉ thuê luật sư ở một giai đoạn, vì vậy đây cũng là vấn đề cần được tính đến khi dự kiến tổng chi phí dịch vụ pháp lý.

Đối với cách tính theo giờ, Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP quy định mức cao nhất là 0,3 lần mức lương cơ sở cho một giờ làm việc của luật sư tham gia tố tụng hình sự do khách hàng mời. Với mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng, mức tương ứng là 759.000 đồng/giờ.

Ngoài tiền thù lao, quá trình thực hiện công việc còn có thể phát sinh tiền tàu xe, lưu trú, sao chụp hồ sơ và những khoản chi phí hợp lý khác theo thỏa thuận. Vì vậy, khi xem xét tổng số tiền dự kiến phải thanh toán, khách hàng cần đọc kỹ điều khoản về chi phí trong hợp đồng thay vì chỉ quan tâm đến con số thù lao luật sư ban đầu.

Chi phí thuê luật sư bào chữa vụ án ma túy được xác định dựa trên nhiều yếu tố như tội danh, khung hình phạt, phạm vi công việc, giai đoạn tố tụng, mức độ phức tạp của hồ sơ, thời gian và công sức thực hiện dịch vụ cũng như kinh nghiệm, uy tín của luật sư; đồng thời cần phân biệt trường hợp khách hàng tự mời luật sư với trường hợp người bào chữa được cơ quan có thẩm quyền chỉ định. Việc quy định rõ thù lao, chi phí phát sinh, phạm vi công việc và phương thức thanh toán trong hợp đồng dịch vụ pháp lý giúp khách hàng chủ động hơn trong quá trình giải quyết vụ án. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Chi phí thuê luật sư bào chữa vụ án ma túy: Các yếu tố quyết định

>>> Xem thêm:

Read More

Phân biệt tội mua bán và vận chuyển trái phép ma túy là vấn đề quan trọng khi xác định chính xác tội danh đối với người có hành vi liên quan đến chất ma túy. Mặc dù cả hai hành vi đều có thể xuất hiện trong quá trình dịch chuyển ma túy từ địa điểm này sang địa điểm khác, bản chất pháp lý và mục đích thực hiện lại không hoàn toàn giống nhau.

Theo quy định hiện hành, tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 250 và Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15.
Việc xác định sai tội danh có thể dẫn đến sự khác biệt đáng kể về khung hình phạt, vai trò của người tham gia cũng như các tình tiết định khung được áp dụng. Vì vậy, cần đánh giá đồng thời mục đích, nhận thức, hành vi thực tế và toàn bộ chứng cứ của vụ án.

phan-biet-toi-mua-ban-va-van-chuyen-trai-phep-ma-tuy

Phân biệt tội mua bán và vận chuyển trái phép ma túy.

Những căn cứ cần xem xét để phân biệt tội mua bán và vận chuyển trái phép ma túy

Ranh giới pháp lý giữa tội mua bán trái phép chất ma túy và tội vận chuyển trái phép chất ma túy không chỉ được xác định bằng việc người phạm tội có thực hiện hành vi đưa ma túy từ nơi này sang nơi khác. Yếu tố có ý nghĩa quan trọng hơn là mục đích của việc dịch chuyển, nhận thức của người thực hiện và mối liên hệ giữa hành vi đó với hoạt động mua bán, sản xuất hoặc tàng trữ ma túy.

Theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15, tội vận chuyển trái phép chất ma túy được xác định dựa trên hành vi vận chuyển trái phép nhưng không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy.

Một số điểm pháp lý cần đặc biệt lưu ý:

  • Ranh giới cơ bản giữa hai tội danh nằm ở mục đích của việc dịch chuyển chất ma túy, không phải đơn thuần ở việc chất ma túy có được đưa từ địa điểm này sang địa điểm khác hay không.

  • Kể từ ngày 01/7/2025, tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo Điều 250 không còn khung hình phạt tử hình. Trong khi đó, tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 vẫn còn khung hình phạt tử hình tại khoản 5 đối với trường hợp đáp ứng điều kiện luật định.

  • Người nhận vận chuyển ma túy thuê nhưng nhận thức rõ việc vận chuyển nhằm phục vụ hoạt động mua bán và vẫn cố ý tham gia có thể bị xem xét với vai trò đồng phạm của tội mua bán trái phép chất ma túy, thay vì mặc nhiên xác định là người thực hành độc lập của tội vận chuyển.

  • Việc xác định không đúng tội danh có thể kéo theo những hệ quả khác nhau về khung hình phạt, vai trò đồng phạm, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự.

Phân biệt dựa trên mục đích dịch chuyển chất ma túy

Theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy được đặt ra khi người thực hiện biết và thực hiện việc dịch chuyển trái phép chất ma túy nhưng không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy.

Như vậy, việc một người đang mang, chở hoặc đưa ma túy đến địa điểm khác chưa đủ để kết luận người đó phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Cần xác định lý do và mục đích thực sự đằng sau việc dịch chuyển.

Nếu việc vận chuyển chỉ nhằm đưa chất ma túy từ địa điểm này sang địa điểm khác và không gắn với mục đích mua bán, sản xuất hoặc tàng trữ trái phép thì có thể xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Ngược lại, nếu việc dịch chuyển ma túy là một công đoạn phục vụ cho giao dịch mua bán, chẳng hạn vận chuyển để giao hàng cho người mua hoặc thực hiện một thỏa thuận mua bán ma túy đã được xác lập, thì cần xem xét hành vi theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015. Trong trường hợp này, việc người thực hiện trực tiếp mang hoặc chở ma túy chỉ phản ánh phương thức thực hiện hành vi, chưa phải căn cứ duy nhất để xác định tội danh.

Do đó, khi đánh giá hành vi, cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ nguồn gốc chất ma túy, người giao và người nhận, thỏa thuận giữa các bên, mục đích của việc vận chuyển, cách thức liên hệ, giao nhận và vai trò cụ thể của từng người.

khung-hinh-phat-doi-voi-hanh-vi-van-chuyen-ma-tuy-

Khung hình phạt đối với hành vi vận chuyển ma túy.

Phân biệt thông qua hành vi khách quan và hoàn cảnh phạm tội

Xét về hành vi khách quan, vận chuyển trái phép chất ma túy thể hiện qua việc đưa chất ma túy từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng những phương thức khác nhau. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 đặt ra giới hạn quan trọng khi loại trừ trường hợp việc vận chuyển được thực hiện nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy.

Có thể xem xét hai tình huống cơ bản:

  • Người thực hiện biết vật đang được dịch chuyển là chất ma túy, cố ý thực hiện việc đưa chất ma túy đến địa điểm khác nhưng không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy. Nếu các dấu hiệu khác của tội phạm được đáp ứng, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015.

  • Người thực hiện vận chuyển ma túy để giao cho người mua hoặc biết rõ việc vận chuyển là một phần trong hoạt động mua bán ma túy và vẫn cố ý tham gia thì có thể bị xem xét theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, tùy thuộc vào vai trò cụ thể trong vụ án.

Để làm rõ những vấn đề trên, việc định tội phải dựa trên tổng thể chứng cứ hợp pháp. Các tài liệu có thể được xem xét gồm lời khai của những người liên quan, dữ liệu điện tử, thông tin liên lạc, giao dịch tài chính, tài liệu về việc giao nhận ma túy, mối quan hệ giữa những người tham gia và những chứng cứ khác có liên quan.

Không nên chỉ dựa vào thời điểm người bị bắt đang cầm, giữ hoặc vận chuyển một lượng ma túy nhất định để suy ra mục đích mua bán nếu chưa có căn cứ chứng minh ý thức chủ quan và mục đích thực tế của họ.

Người vận chuyển thuê biết rõ mục đích mua bán có thể là đồng phạm

Một tình huống thường phát sinh trong thực tế là người vận chuyển không phải chủ sở hữu hoặc người trực tiếp mua bán ma túy nhưng nhận tiền để thực hiện việc giao, nhận hoặc vận chuyển. Trong trường hợp này, việc xác định trách nhiệm hình sự không thể chỉ dựa vào việc người đó có trực tiếp mua bán ma túy hay không.

Nếu người vận chuyển biết rõ việc vận chuyển được thực hiện nhằm phục vụ hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và vẫn cố ý tham gia, hành vi có thể được xem xét dưới góc độ đồng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

Khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Theo khoản 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015, người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

Từ quy định này, người vận chuyển có thể bị xem xét với vai trò giúp sức cho tội mua bán nếu có đủ căn cứ chứng minh người đó biết rõ mục đích mua bán và cố ý cung cấp sự hỗ trợ cần thiết để hoạt động mua bán được thực hiện.

Tuy nhiên, không thể mặc nhiên coi mọi người chở thuê ma túy đều là đồng phạm của tội mua bán. Cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh yếu tố cố ý cùng thực hiện tội phạm theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015. Việc người đó chỉ thực hiện công việc vận chuyển, không biết mục đích mua bán hoặc không có sự thống nhất ý chí với những người mua bán là những vấn đề cần được đánh giá trên cơ sở chứng cứ cụ thể.

Trường hợp người vận chuyển hoàn toàn không biết vật mình nhận vận chuyển là ma túy thì cần tiếp tục đánh giá nhận thức, lỗi và các tình tiết cụ thể trước khi xác định trách nhiệm hình sự. Việc biết hay không biết về bản chất của vật được vận chuyển có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định yếu tố lỗi.

So sánh tội vận chuyển và tội mua bán trái phép chất ma túy

Tiêu chí

Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

Tội mua bán trái phép chất ma túy

Căn cứ pháp lý

Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025

Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025

Hành vi đặc trưng

Đưa chất ma túy trái phép từ địa điểm này đến địa điểm khác

Thực hiện hành vi mua, bán hoặc chuyển giao chất ma túy trái phép

Mục đích

Không nhằm sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy

Hành vi có sự gắn kết với hoạt động mua bán, chuyển giao ma túy trái phép

Người vận chuyển thuê

Có thể bị xem xét theo Điều 250 nếu đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành

Có thể bị xem xét là đồng phạm Điều 251 nếu biết rõ và cố ý tham gia vào hoạt động mua bán

Vấn đề cần chứng minh

Hành vi vận chuyển, nhận thức về chất ma túy và mục đích của việc vận chuyển

Hành vi mua bán hoặc sự cố ý cùng tham gia, hỗ trợ hoạt động mua bán

Hình phạt cao nhất

20 năm tù hoặc tù chung thân

Tù chung thân hoặc tử hình

Sau ngày 01/7/2025, Điều 250 và Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15. Vì vậy, khi phân biệt hai tội danh, cần xem xét đồng thời mục đích thực hiện, ý thức chủ quan, hành vi thực tế và vai trò của từng người. Việc chất ma túy được vận chuyển từ nơi này đến nơi khác chỉ là một dữ kiện của vụ án và không phải lúc nào cũng quyết định tội danh.

quyen-cua-bi-cao-trong-vu-an-ve-ma-tuy-

Quyền của bị cáo trong vụ án về ma túy.

Khung hình phạt của tội vận chuyển và tội mua bán trái phép chất ma túy

Tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy đều có mức hình phạt khởi điểm từ 03 năm đến 07 năm tù tại khoản 1. Tuy nhiên, khi xuất hiện các tình tiết định khung hoặc khối lượng chất ma túy thuộc các mức luật định, hình phạt của hai tội được phân hóa theo những mức khác nhau.

Sự khác biệt này cho thấy việc xác định đúng hành vi ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng có ý nghĩa quan trọng. Cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định đúng bản chất hành vi trước khi áp dụng điều khoản và khung hình phạt tương ứng.

Khung hình phạt đối với tội vận chuyển trái phép chất ma túy

Theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, tội vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định với 04 khung hình phạt chính, dựa trên khối lượng chất ma túy và các tình tiết định khung.

Khung

Mức phạt tù

Tình tiết định khung tiêu biểu

Khoản 1

03 – 07 năm

Heroine, Cocaine, Methamphetamine… từ 0,1g đến dưới 05g; hoặc các mức khối lượng tối thiểu tương ứng với từng loại chất ma túy

Khoản 2

07 – 15 năm

Có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; sử dụng người dưới 16 tuổi; qua biên giới; hoặc khối lượng ở mức trung bình

Khoản 3

15 – 20 năm

Khối lượng ma túy ở mức lớn theo bảng định lượng tại khoản 3 Điều 250

Khoản 4

20 năm hoặc tù chung thân

Khối lượng ma túy ở mức đặc biệt lớn theo bảng định lượng tại khoản 4 Điều 250

Bên cạnh hình phạt chính, khoản 5 Điều 250 quy định các hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm; hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Một điểm đáng chú ý kể từ lần sửa đổi có hiệu lực ngày 01/7/2025 là tội vận chuyển trái phép chất ma túy không còn khung hình phạt tử hình. Mức hình phạt cao nhất được quy định tại khoản 4 Điều 250 là 20 năm tù hoặc tù chung thân.

Khung hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy

Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15, tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định với 05 khung hình phạt chính.

Khung

Mức phạt tù

Tình tiết định khung tiêu biểu

Khoản 1

03 – 07 năm

Mua bán trái phép chất ma túy, không phân biệt khối lượng

Khoản 2

07 – 15 năm

Có tổ chức; đối với 02 người trở lên; bán ma túy cho người dưới 16 tuổi; qua biên giới; hoặc khối lượng trung bình

Khoản 3

15 – 20 năm

Khối lượng ma túy ở mức lớn theo bảng định lượng tại khoản 3 Điều 251

Khoản 4

20 năm hoặc tù chung thân

Khối lượng ma túy ở mức rất lớn theo bảng định lượng tại khoản 4 Điều 251

Khoản 5

Tù chung thân hoặc tử hình

Khối lượng ma túy ở mức đặc biệt lớn theo bảng định lượng tại khoản 5 Điều 251

Khoản 6 Điều 251 quy định hình phạt bổ sung tương tự Điều 250, bao gồm phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm; hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điểm khác biệt đáng chú ý giữa hai tội danh là tội mua bán trái phép chất ma túy vẫn có khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại khoản 5 Điều 251 đối với trường hợp đáp ứng các điều kiện luật định về khối lượng chất ma túy. Ví dụ, đối với Heroine, Methamphetamine từ 03 kilôgam trở lên thuộc trường hợp được đề cập trong nội dung nguồn.

Quy định chuyển tiếp đối với hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025

Đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/7/2025 nhưng quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử được tiến hành sau thời điểm luật sửa đổi có hiệu lực, cần xem xét quy định chuyển tiếp tại Điều 4 Luật số 86/2025/QH15.

Theo khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15, nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội được áp dụng đối với hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025 nhưng đang được điều tra, truy tố hoặc xét xử sau thời điểm này.

Khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Luật này còn quy định trường hợp hình phạt tử hình đã được tuyên trước ngày 01/7/2025 đối với người phạm tội tại Điều 250 nhưng chưa thi hành án thì không thi hành; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.

Đối với Điều 251, việc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân được thực hiện theo các điều kiện cụ thể về khối lượng ma túy và vai trò của người phạm tội trong vụ án, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Hệ quả pháp lý khi xác định nhầm giữa tội mua bán và vận chuyển

Việc xác định không chính xác giữa tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 và tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 có thể tác động trực tiếp đến trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.

Đặc biệt, kể từ ngày 01/7/2025, sự khác biệt về hình phạt cao nhất giữa hai tội danh càng cần được lưu ý. Điều 250 không còn quy định hình phạt tử hình, trong khi Điều 251 vẫn có khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại khoản 5 đối với trường hợp đáp ứng điều kiện luật định.

Rủi ro khi hành vi vận chuyển bị xác định thành mua bán

Việc định tội cần được thực hiện dựa trên hành vi thực tế, mục đích, ý thức chủ quan và toàn bộ hệ thống chứng cứ hợp pháp của vụ án. Không nên chỉ dựa vào việc một người đang vận chuyển hoặc đang giữ một lượng ma túy nhất định để kết luận người đó có mục đích mua bán.

Nếu hành vi trên thực tế chỉ đáp ứng dấu hiệu của Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015 nhưng lại bị xác định theo Điều 251, người bị buộc tội có thể phải đối diện với điều khoản và khung hình phạt khác với bản chất hành vi được chứng minh.

Sự khác biệt càng rõ sau ngày 01/7/2025. Theo Điều 250, mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân; trong khi Điều 251 có thể áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với trường hợp thuộc khoản 5.

Ngoài mức hình phạt, việc định tội không chính xác còn có thể ảnh hưởng đến việc xác định vai trò của từng người trong vụ án, tình tiết định khung, phạm vi truy tố và các căn cứ để quyết định hình phạt.

Vì vậy, trước khi xác định tội danh, cần đánh giá đầy đủ các chứng cứ thể hiện mục đích vận chuyển, nhận thức của người thực hiện, sự liên hệ giữa những người tham gia và vai trò thực tế của từng người.

Quyền của bị can, bị cáo khi không đồng ý với tội danh

Theo khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can có các quyền như được biết lý do mình bị khởi tố; được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai, ý kiến; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; nhận các quyết định, tài liệu tố tụng theo quy định và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Theo Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị cáo cũng có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ; tranh luận tại phiên tòa và thực hiện các quyền tố tụng khác theo quy định.

Do đó, nếu không đồng ý với tội danh bị khởi tố hoặc truy tố, bị can, bị cáo có thể trình bày quan điểm của mình, cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan, đưa ra yêu cầu, thực hiện quyền khiếu nại trong trường hợp pháp luật cho phép và sử dụng quyền bào chữa.

Việc xem xét lại tội danh phải dựa trên chứng cứ hợp pháp và các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 250, Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015. Khối lượng ma túy bị thu giữ có thể là một căn cứ được xem xét nhưng không nên được sử dụng như căn cứ duy nhất để suy ra mục đích mua bán.

Cần làm gì khi bị điều tra về hành vi mua bán hoặc vận chuyển ma túy?

Khi một người bị điều tra, truy tố về hành vi liên quan đến ma túy và có tranh luận về việc áp dụng Điều 250 hay Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, việc thực hiện đúng quyền tố tụng và làm rõ bản chất hành vi là vấn đề cần được chú trọng.

Một số nội dung cần thực hiện gồm:

  • Mời người bào chữa tham gia sớm: Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can; trường hợp bắt, tạm giữ người thì có thể tham gia từ thời điểm luật định. Việc có người bào chữa tham gia sớm giúp bảo đảm quyền bào chữa và hỗ trợ người bị buộc tội thực hiện các quyền tố tụng theo quy định.

  • Cung cấp và đề nghị thu thập chứng cứ: Các dữ liệu điện tử, thông tin liên lạc, giao dịch tài chính, lời khai và tài liệu liên quan có thể giúp làm rõ nguồn gốc ma túy, mục đích vận chuyển, quan hệ giữa các bên và vai trò thực tế của từng người.

  • Đối chiếu loại và khối lượng ma túy: Cần đối chiếu loại, khối lượng hoặc thể tích chất ma túy với Điều 250 hoặc Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 để xác định điều khoản, tình tiết định khung và phạm vi hình phạt có khả năng được áp dụng.

  • Trình bày ý kiến về căn cứ định tội: Nếu có chứng cứ cho thấy hành vi thực tế không phù hợp với tội danh đang bị khởi tố hoặc truy tố, bị can, bị cáo có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu và thực hiện quyền bào chữa theo Điều 60, Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

  • Làm rõ mục đích và vai trò: Việc xác định người thực hiện hành vi có biết mục đích mua bán hay không, có thống nhất ý chí với những người khác hay không và đã tham gia ở mức độ nào là những vấn đề cần được xem xét dựa trên chứng cứ.

Việc xác định rõ mục đích, ý thức chủ quan, vai trò của từng người và các chứng cứ liên quan ngay từ giai đoạn điều tra là cơ sở để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tội danh phù hợp theo Điều 250 hoặc Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

Dịch vụ luật sư bào chữa tội mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy tại Long Phan PMT

Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến hành vi bị điều tra, truy tố về tội mua bán hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy, tập trung vào việc rà soát hồ sơ, đánh giá chứng cứ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng theo quy định.

Các nội dung hỗ trợ gồm:

  • Rà soát hồ sơ vụ án, kết luận điều tra, cáo trạng và đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành.

  • Đánh giá căn cứ xác định tội danh dựa trên chứng cứ về hành vi, mục đích và ý thức chủ quan của người bị buộc tội.

  • Phân tích dấu hiệu pháp lý để xác định tội danh phù hợp, đặc biệt trong trường hợp có sự nhầm lẫn giữa hành vi mua bán và vận chuyển trái phép chất ma túy.

  • Tư vấn phương án bào chữa phù hợp với từng giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.

  • Soạn thảo đơn khiếu nại, kiến nghị đề nghị xem xét lại tội danh, chứng cứ hoặc quyết định tố tụng khi có căn cứ.

  • Tham gia bào chữa cho khách hàng tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.

  • Tư vấn về các tình tiết giảm nhẹ và phương án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trong quá trình giải quyết vụ án.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về tội mua bán và vận chuyển trái phép chất ma túy

Dấu hiệu nào được sử dụng để xác định hành vi là vận chuyển hay mua bán ma túy?

Yếu tố cần tập trung làm rõ là mục đích của việc dịch chuyển ma túy tại thời điểm thực hiện hành vi. Việc chất ma túy được đưa từ nơi này sang nơi khác không phải là căn cứ duy nhất để xác định tội vận chuyển.

Theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi năm 2025, hành vi vận chuyển chỉ thuộc trường hợp quy định tại điều này khi không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép chất ma túy.

Nếu việc dịch chuyển được thực hiện nhằm phục vụ một giao dịch mua bán đã được thỏa thuận, hành vi cần được xem xét theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 trên cơ sở vai trò và ý thức của người tham gia.

Người vận chuyển ma túy thuê có bị xác định là đồng phạm tội mua bán không?

Không phải mọi trường hợp vận chuyển thuê đều đương nhiên là đồng phạm của tội mua bán trái phép chất ma túy.

Nếu người vận chuyển không biết mục đích mua bán của người thuê thì hành vi của họ có thể được xem xét theo Điều 250 nếu đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Ngược lại, nếu có căn cứ chứng minh người vận chuyển biết rõ ma túy được vận chuyển để phục vụ việc mua bán và vẫn cố ý tham gia, người này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò người giúp sức của tội mua bán theo khoản 1 và khoản 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015.

Tội vận chuyển trái phép chất ma túy hiện còn hình phạt tử hình không?

Kể từ ngày 01/7/2025, tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi năm 2025, không còn khung hình phạt tử hình. Theo khoản 4 Điều 250, mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân.

Trong khi đó, tội mua bán trái phép chất ma túy tại Điều 251 vẫn quy định khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại khoản 5 đối với trường hợp đáp ứng các điều kiện luật định.

Khối lượng ma túy lớn có mặc nhiên chứng minh mục đích mua bán không?

Khối lượng ma túy lớn không đồng nghĩa với việc tự động xác định người thực hiện có mục đích mua bán.

Khi xem xét Điều 250 hoặc Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, cần đánh giá chứng cứ liên quan đến mục đích, nhận thức và ý thức chủ quan của người thực hiện tại thời điểm dịch chuyển chất ma túy. Khối lượng chất ma túy là một dữ kiện cần xem xét cùng các chứng cứ khác chứ không phải căn cứ duy nhất để kết luận về mục đích mua bán.

Bị can có những quyền gì khi không đồng ý với tội danh bị truy tố?

Theo khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu; nhận bản kết luận điều tra, cáo trạng theo quy định; đồng thời có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Bị can, bị cáo cũng có quyền nhờ người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có việc trình bày quan điểm về tội danh và các chứng cứ được sử dụng để xác định trách nhiệm hình sự.

Hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025 nhưng xét xử sau thời điểm này thì áp dụng quy định nào?

Theo khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15, đối với hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025 nhưng đang trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử sau thời điểm này, cần áp dụng nguyên tắc quy định có lợi cho người phạm tội theo điều khoản chuyển tiếp.

Riêng đối với hình phạt tử hình đã được tuyên trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa thi hành án về tội vận chuyển trái phép chất ma túy, khoản 2 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 quy định việc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.

Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Read More

My maps